Lý tưởng xã hội và người viết trẻ

09:26 CH @ Chủ Nhật - 25 Tháng Giêng, 2015

Trong xã hội ta hôm nay, thường có một thiên kiến dai dẳng: Tuổi trẻ đồng nghĩa với sự non dại, non dại đến độ vấp ngã. Một bộ phận cha anh thường nhìn họ với cặp mắt hoài nghi và tâm trạng bất an. Đó là một sự thật, dù nghiệt ngã. Thế mà trong văn học, tình hình lại khác. Hầu hết các tác phẩm của các nhà văn bậc thầy đều được sáng tạo ở tuổi 25-35. Ma lực sáng tạo, điện năng văn chương của họ hình như được tích tụ và phát sáng ở thập niên đầu tiên của nghề cầm bút ở nước ta cũng có tình hình tương tự. Các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn, Thơ mới đều là những nhà sáng tạo ở tuổi đôi mươi. Những bạn cầm bút trẻ măng đi vào hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc về sau trở thành nhà văn nổi tiếng để lại không ít những trang viết tài hoa, rõ rệt nhất là các nhà văn - chiến sĩ- liệt sĩ- Nam Cao, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Trần Đăng, Trần Mai Ninh, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân, Nguyễn Trọng Định, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Thi và nhiều tên tuổi khác. Có nhiều chuyện để nói về nghề văn và người viết trẻ….

Nghề văn là nghề sáng tạo, muốn có sức sáng tạo dồi dào trước hết phải có tài đã đành nhưng trước đó nữa, người viết phải có một lý tưởng xã hội. Lâu nay, nói đến lý tưởng xã hội người ta có thói quen đặt phạm trù này trùng khít với ý thức hệ, cho nên nó vừa hẹp, vừa khiên cưỡng. Làm như lý tưởng xã hội là một cái gì khác bên ngoài, do áp lực bên trên áp đặt cho nhà văn. Điều đó dễ làm cho người viết trẻ lo ngại. Thật ra, lý tưởng xã hội là cái nằm trong bầu máu nóng của chúng ta, là mục đích cao nhất, là lẽ sống đẹp nhất của đời sống con người. Ở đây ở nhà văn trẻ, là viết cho ai? Viết để làm gì? Hai câu hỏi giản dị đó nhưng chưa bao giờ có câu trả lời suôn sẻ của một đời văn, cả đối với những nhà văn ở chặng đường đầu cũng như đối với những nhà văn lão thành. Bởi vì đã dấn thân vào nghề văn mà chỉ coi văn học là nghề kiếm tiền hoặc là phương tiện tiến thân trên con đường chính trị là nhà văn hỏng ngay từ đầu và sa sút uy tín lúc nào không biết. Nghề văn cũng như nghề làm việc thiện, vì nó có thể cứu rỗi tâm hồn nhiều người, có khi hàng triệu người. Các nhà kinh điển gọi nhà văn là Kỹ sư tâm hồn là vì vậy. Đối với người viết trẻ, lý tưởng xã hội nay là góp sức cùng nhân dân xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, mà trước hết là có lý tưởng nghề nghiệp. Trau dồi lý tưởng nghề nghiệp là một biểu hiện thực tế của lý tưởng chính trị. Để hình thành lý tưởng nghề nghiệp thì trong ba điều bất hủ của một đời văn, lập đức được coi là hàng đầu, rồi mới đến lập công và lập ngôn. Không phải vô cớ mà các cụ ta ngày trước thường coi văn chương là sự nghiệp nghìn đời (văn chương thiên cổ sử) trong văn phải có đạo, đạo ở đây nên hiểu là nội dung, cái ý để nói với đời, để khuyên điều hay, răn điều dữ. Về sau, Bác Hồ nói chính tâm và thân dân của người tri thức, trong đó có văn nghệ sĩ đối với nhân dân mình cũng có ý nghĩa của chữ đạo. Không phải vì đạo mà làm nghèo văn chương như một số người nghĩ. Có đạo, có nội dung thì văn chương thịnh, phát đạt, ngược lại thì văn chương suy, hỗn loạn. Trong triết học phương Đông, trong bốn điều dạy của Khổng Tử thì đức hạnh là hàng đầu rồi mới đến ngôn ngữ, chính sử và văn học. Đời nhà Đường giai cấp thống trị khi dùng kẻ sĩ cũng coi đức hạnh trước, văn nghệ sau.

Để đạt tới lý tưởng xã hội tiên tiến mà nhà văn ấp ủ cần có sự thôi thúc con tim, sự sưởi ấm ngọn lửa bên trong được là động lực của sáng tạo. Cũng như mọi người sản xuất hàng hoá khác, người sáng tạo văn chương cần viết cái mà xã hội cần, chứ không chỉ viết cái mình có. Muốn vậy cần nuôi dưỡng tình yêu nồng cháy đối với cái Đẹp, cái Thiện, lòng căm thù sâu sắc đối với những hiện tượng suy thoái trong xã hội, trước tệ nạn quan liêu, nạn tham nhũng đang là quốc nạn. Tất cả điều vừa nói là tính Đảng của người viết. Nhiều người sợ nói tính đảng có thu hẹp sách lược cách mạng? Có làm phương hại đặc trưng nghệ thuật? Tôi nghĩ khác, trước đây ta thường coi tính đảng với nội dung tư tưởng của tác phẩm là một, đặt tính đảng chồng khít với ý thức hệ. Trong quá trình truyền bá, giáo dục ở nhà trường cho tới cả diễn đàn, trên sách báo, tính Đảng được coi như một nguyên tắc bất di bất dịch, áp đặt từ trên đối với nhà văn, nhà báo. Hiểu tính Đảng như vậy là trái với tinh thần của V.I.Lênin. Chúng ta biết rằng, chính Lênin là người dùng tính Đảng tư sản và khen ngợi những nhà văn bạch vệ, những nhà triết học tư sản đã miêu tả một cách trung thực thực tế tư bản chủ nghĩa, những mâu thuẫn trong nội bộ phe nhóm của họ, về khách quan là có lợi cho giai cấp công nhân. Vả lại, tính đảng là phạm trù động, nó được phát triển tuỳ theo đối tượng miêu tả và thời điểm lịch sử mà nhà văn miêu tả. Tính đảng là một thuật ngữ khoa học, đẹp, sang trọng cần được tiếp nhận một cách tự nguyện cho sáng tạo văn nghệ, nhất là những người viết trẻ.

II Cha ông ta thường dạy: Bản chất của văn chương vốn từ học vấn mà ra, học vấn uyên bác thì viết văn mới hay. Có lẽ đâu văn chương lại làm cho người ta kiêu căng!? Câu này của Lê Quý Đôn (1726 - 1784) được trích từ Vân đài loại ngữ. Những bậc thứ giả sau cụ, cũng có những đoạn di huấn tương tự. Phan Huy Chú (1782 - 1840) nói đại ý: Để có thể vừa là nhà trước tác vừa là nhà thơ thì phải có đủ các uyên bác, lại có cả nguồn cảm hứng bay bổng... Còn Nhữ Bá Sĩ (1788 -1867) thì coi đức hạnh, học thức là cái gốc của văn chương. Xem như vậy thì việc đọc muôn quyển sách là quan trọng biết chừng nào! Người ta thường nói: đọc nhiều, biết mười, viết một. M.Gorki thường rất quan tâm tới những người viết văn trẻ, một trong những điều ông thường nhắc họ là chuyện học thức. Nhà văn lão thành không chỉ khuyên học phải đọc nhiều, hiểu rộng, thẳng thắn chỉ ra vật cản trên con đường sáng tạo của các bạn trẻ là: học thức kém cỏi, nhưng lòng tự mãn lớn lao, khát vọng tri thức ở họ ít phát triển, chủ nghĩa sinh hoạt vặt vãnh lấn át tiềm năng của trí tuệ. Khác với người đọc và bình thường, nhà văn cần đtọc tất cả: sách hay và sách chưa hay, thậm chí sách dở, tiểu thuyết vỉa hè, để rồi chúng cũng có ích để hiểu toàn diện, chân thật mặt trái cũng như mặt phải của cuộc đời. Để hiểu rõ triết học Mác, cần mở rộng tri thức các triết thuyết ngoài Mác, phi Mác, các kinh Vệ Đà của Phật Giáo, Cựu ước, Tân ước của Cơ Đốc giáo… bởi lịch sử tri thức nhân loại chưa bao giờ chia cắt giữa triết học, nghệ thuật và tôn giáo. Ở đó có sự bất phân, sự quan hệ đan quyện với nhau. Nho giáo, Phật giáo, tín ngưỡng dân gian rõ ràng để lại dấu vết trong nhiều bài thơ, trong nhiều áng văn thời cổ trung đại. Người xưa đã biết vận dụng vẻ đẹp, cốt cách tự nhiên để làm biểu tượng của nghệ thuật miêu tả của mình: Hổ báo tượng trưng cho quyền uy, Tùng Bách nới lên lòng ngay thang, mây khói để thể hiện sự uyển chuyển, liễu yếu, đào tơ tượng trưng cho những thiếu nữ đài các, kiều diễm...

Đã đọc muôn quyển sách là phải đi muôn dặm đường. Nền văn học hiện đại của chúng ta có truyền thống đẹp của những chuyến đi. Những nhà văn tay cầm bút, tay cầm súng mang ba lô ra mặt trận năm nào cùng với bộ đội, dân công trong hai cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khẩu hiệu trên những nơi tiên tiến sống giữa những người tiên tiến của Đảng có tác dụng động viên hàng trăm người viết ở cách là tuổi khác nhau đến những nơi mũi nhọn, cuộc sống lao động chiến đấu của hàng triệu người. Tôi nghĩ, nên phục hồi lại cách đi vào đời sống hiện đại hóa, công nghiệp hoá. Gần đây có những chuyến khảo sát văn hoá xuyên Việt cũng là kinh nghiệm hay. Cách đi của những người viết trẻ cũng cần được Hội nhà văn đúc rút kinh nghiệm. Ghi chép, lấy tài liệu, tiếp xúc với các nhân vật hình mẫu, quan sát so sánh bình giá… là những công đoạn của một quá trình đến với dặm trường. Nhưng nếu không mài sắc khả năng quan sát hiện thực, không có sức tưởng tượng, ức đoán, khả năng trực giác, thiếu đi sức khái quát, và sự chộp lấy sức đẩy của hình thức thì sau cùng những trang viết chỉ còn lại là những tài liệu báo chí. Người xưa viết: Cái tư chất của bậc thượng trí, bên trong thì lớn lao, bên ngoài thì rực rỡ, chạm vào nơi nào thì tứ văn nảy sinh ra nơi ấy, là hoa cỏ của hoá công, là khói sóng của biển lớn, có thể gọi là gạn lọc điều chứa chất trong lòng mà viết nên văn. Cái tư chất biết gạn lọc ấy ngày nay chúng ta gọi là khả năng khái quát hoá, điển hình hoá...

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Bàn thêm về mối quan hệ giữa trí thức và nhân cách

    15/06/2020Vương Trí NhànGiữa con người và nhân cách có sự khác nhau: một bên là sản phẩm tự nhiên (ta hay nói ai cũng là một con người), còn bên kia là sản phẩm của quá trình tự đào luyện với sự giúp đỡ cửa lý trí sáng suốt. Nói cách khác: người ta không sinh ra đã là một nhân cách, người ta chỉ trở thành một nhân cách...
  • Định nghĩa về cái đẹp

    20/08/2017Hầu hết những người cố gắng định nghĩa cái đẹp đều nhất trí rằng nó dính dáng đến sự đáp ứng của ý thích. Chúng ta gọi một cái gì đó là đẹp khi nó làm chúng ta vui thích hay hài lòng ở một phương diện đặc biệt nào đó. Nhưng cái gì gây nên sự đáp ứng này từ phía chúng ta? Nó có phải là cái gì trong chính bản thân đối tượng ...
  • J.P.Sartre và câu hỏi: Văn học là gì?

    01/08/2016Thanh ThảoLà một nhà văn tự do và dấn thân, Sartre đã gắn kết hai khái niệm tưởng chừng mâu thuẫn này vào mục đích sáng tạo của nhà văn, bởi người ta có thể hỏi vặn: tự do đôi khi là từ chối dấn thân, và ngược lại, dấn thân có khi là mất tự do?
  • Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu?

    02/11/2015Nguyễn Thanh SơnBởi vì, chúng ta không thể trả lời câu hỏi "tiểu thuyết Việt nam đang ở đâu?", nếu không trả lời được câu hỏi "tiểu thuyết Việt nam đã ở đâu?". Với khoảng một trăm năm văn học quốc ngữ, tiểu thuyết Việt nam đã đi được bao xa trên đoạn đường mà tiểu thuyết châu âu đã đi hơn 400 năm?
  • Nguyễn Hiến Lê - một người Hà Nội

    10/10/2015Ngô Thế OanhBút danh Lộc Đình được nhà văn hoá của dân tộc Nguyễn Hiến Lê dùng ký dưới một bài văn ngắn từ hồi trẻ… Lộc là ngõ Phất Lộc, còn Đình là cái đình ấy…
  • Cái đẹp muôn hình muôn vẻ

    10/11/2014Văn NgọcTạo hóa (hay Nghệ thuật?) oai oăm thay, bày đặt ra cái đẹp, nhưng lại không cho biết cái chìa khóa của nó nằm ở đâu, sự vận động của nó như thế nào? Vậy thì trước tiên, ta cần xem xét xem ý niệm đẹp từ đâu mà có và làm sao nắm bắt được nó?
  • Einstein là nhà văn ?

    19/10/2014Ai cũng biết Albert Einstein là nhà bác học vĩ đại, cha đẻ của thuyết tương đối, nhưng nhiều người không biết rằng ông còn là một nhà văn đa tài.
  • Cá nhân và sự phát triển của cá nhân trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay ở nước ta

    12/01/2006Đoàn Đức HiếuTừ cái nhìn toàn diện, “con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử; cao hơn nữa, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; và điều còn quan trọng hơn, con người phải là những chủ thể văn hoá”(3). Chỉ có thể đứng trên quan điểm đó mới thấy hết xu thế và khả năng phát triển của con người với tư cách là cá nhân trong thời đại ngày nay...
  • Sự nhạy cảm -một nguồn vốn quý ở thế kỷ XXI

    11/01/2006Thanh ThảoSự nhạy cảm là cái tiên thiên, là "nguồn vốn tự có” trong con người, nhưng chúng được phân bố không đều nhau ở tất cả mọi người. Đó cũng là bí quyết của muôn vàn sự khác biệt...
  • Về nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri thức

    20/12/2005Viễn Phố dịch từ tài liệu tiếng TrungBài viết nói về nhân cách lý tưởng trong thời đại kinh tế tri thức, trong đó vạch rõ nhân cách đó do nguyên tắc sản xuất xã hội của thời đại kinh tế tri thức quyết định và thể hiện yêu cầu của nguyên tắc đó. Do vậy nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri thức phải vừa đề cao lý tính lại vừa thấm đượm tinh thần nhân văn.
  • Làm gì để có tác phẩm ngang tầm thời đại?

    02/12/2005Lê Quý KỳCâu hỏi này được đặt ra từ nhiều năm nay và gần đây trở thành chủ đề chính của nhiều cuộc gặp gỡ, hội thảo lớn do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Trăn trở thì nhiều, nhưng câu trả lời dường như còn nằm đâu ở phía trước, rất xa. Tại sao?
  • Nhà văn Đỗ Chu: “Cô đơn được càng tốt !”

    24/11/2005Hồng Thanh QuangNhà văn là người có quyền lật đi lật lại vấn đề mà anh ta quan tâm. Và phải biết lật đi lật lại! Chả có gì mâu thuẫn trong việc này. Thì suốt cuộc đời, người ta ai mà chẳng phải trăn trở, nghĩ ngợi. Đâu phải nhất nhất mọi việc, mọi chuyện đều bất biến... Trong quá trình nhận thức của một đời người, quan trọng là xác lập cho được những câu hỏi lớn, chứ không phải là thuộc lòng vài ba câu trả lời lớn. Biết đặt ra những câu hỏi mới khó!
  • Chân - thiện - mỹ: Mãi là đích hướng tới của văn chương

    17/11/2005Đinh Quang TốnTừ xưa đến nay, hướng tới chân - thiện - mỹ luôn là mục đích của văn chương. Bởi văn chương là một sản phẩm do con người tạo ra, mà con người thì khác muôn loài ở bản chất muốn vươn tới những điều tốt đẹp, nên văn chương luôn là một hoạt động vì con người, với khát vọng làm cho cuộc sống của con người ngày một tốt đẹp hơn...
  • Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách

    08/11/2005Nhà văn Nguyên NgọcVăn học ta không yên đâu. Nó đang quẫy cựa, hình như ngày càng mạnh mẽ, cả quyết liệt hơn nữa, để nói về cái thế giới mà nó biết là không hề đơn nghĩa, tuyến tính, tất định này, và nói cũng bằng một ngôn ngữ đa nghĩa, đối thoại, dân chủ, ngày càng dân chủ hơn. Và như thế là đáng mừng...
  • Sự dễ dàng đã bóp chết nhà văn

    13/11/2005Nhà văn ThuậnTiểu thuyết Việt Nam ì ạch trên cái mặt bằng không chuyên ấy của văn học Việt Nam. Đến bây giờ vẫn loay hoay tìm cách kể chuyện làm sao để vừa ê a, vừa hấp dẫn; làm sao cho thơm mùi trí thức, mùi đương đại...
  • 'Tôi' như là kẻ mang thông điệp: Cơ sở cho một hệ biến hóa văn bản tự sự

    29/10/2005Ngô Tự LậpNhưng nói rằng cái "Tôi" đóng vai trò quan trọng trong tuỳ bút, hay trong ký nghệ thuật, thì cũng có nghĩa là nói rằng nó ít quan trọng hơn trong các thể loại khác, và như vậy, gián tiếp vẫn là công nhận vai trò quan trọng của cái "Tôi" trong việc phân biệt các thể loại. Ngoài ra, nó còn buộc ta phải đặt những câu hỏi khác: Cái "Tôi" trong ký mà E.B. White và Edward Hoagland bàn đến, cũng như cái "Tôi" trong các loại văn bản tự sự khác có phải là cái "Tôi" thực của người viết hay không? Và cái "Tôi" trong truyện khác cái "Tôi" trong ký và các văn bản báo chí như thế nào?
  • Tâm tư nghệ thuật của Xuân Phái

    29/09/2005Trần Hậu TuấnBùi Xuân Phái là một trong số ít những họa sĩ Việt Nam, ngoài xây dựng hệ thống tư liệu vẽ cẩn thận còn liên tục ghi nhật ký. Những gì ông viết chỉ là suy tưởng riêng của bản thân, song tất cả đều toát lên những trăn trở về nghệ thuật, những suy tư để làm sao vẽ cho đẹp hơn, đi gần đến bản chất nghệ thuật hơn...
  • Viết để làm gì ?

    17/08/2005Sartre, Jean-Paul (Nguyên Ngọc dịch)Mỗi người có lý do riêng của mình: với người này, nghệ thuật là một cuộc chạy trốn; với người kia, một phương cách chinh phục. Nhưng người ta có thể trốn vào một nơi cô tịch, vào đam mê, vào cái chết; người ta có thể chinh phục bằng vũ khí. Tại sao phải đích thị là viết, làm những cuộc trốn chạy của mình bằng cái viết?
  • Nghệ thuật, trí tưởng tượng và nhà khoa học

    19/07/2005Tôi muốn mượn tiêu đề bài báo của giáo sư sinh lý học Robert Root-Berstein, Viện Đại Học tiểu bang Michigan, trên tạp chí Nhà khoa học Mỹ đầu năm 1997 để bàn về mối quan hệ giữa ý thức và vô thức, giữa trí tưởng tượng và tư duy phân tích trong sáng tạo văn học nghệ thuật và sáng tạo khoa học kỹ thuật, một chủ đề hấp dẫn từng gây nhiều tranh cãi không chỉ tại Việt Nam ta.
  • Bản chất của nghệ thuật có giống với kỹ năng không?

    21/07/2005Một lúc nào đó trong thế kỷ 19, từ “nghệ thuật” bắt đầu được dùng chủ yếu cho một loại hình nghệ thuật – cái gọi là “nghệ thuật tạo hình”. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại không loại trừ những ngành như điêu khắc, âm nhạc, và thi ca khỏi danh sách các nghệ thuật của họ, nhưng họ cũng không tuyên dương những ngành nghệ thuật này như nghệ thuật tới mức loại bỏ hết mọi sự tạo tác khác của con người.
  • Quan niệm của Các Mác về sự vận động lịch sử của Cái Đẹp trong một số hình thái kinh tế

    07/07/2005Nguyễn Thu NghĩaMột trong những kết luận quan trọng được C.Mác rút ra từ quá trình nghiên cứu về cái đẹp tất yếu này sinh trong tiến trình phát triển của lịch sử. Quy luật của cái đẹp không "nhất thành biết biến" từ một hình thức lao động, một hình thái xã hội nào. Cái đẹp có quy luật phổ biến từ thực tiễn thẩm mỹ. Ở mỗi hình thái xã hội nào, quy luật ấy có sự vận động và biểu hiện khác nhau....
  • Từ cái thực chuyển sang cái mơ

    06/07/2005Họa sỹ Thái TuấnCon đường nghệ thuật chính là những cơn mơ, giấc mộng, giúp cho con người một tầm nhìn rộng rãi, sáng sủa hơn về đời sống...
  • Sức sống của một cuộc tranh luận

    02/07/2005Hồ Sĩ VịnhTrong cuộc tranh luận Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh trên văn đàn nước ta vào những năm 1935 - 1939, giữa hai phái đã có nhiều kiến giải dẫn đến điểm hội tụ: Đó là tầm nhìn văn hóa rộng, ý thức dân tộc, lòng yêu nước, sự tôn vinh văn chương dân tộc và sự tự ý thức về văn hóa tranh luận. Đó là một trong những nội dung mà chúng tôi tìm thấy trong cuốn: Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh.
  • xem toàn bộ

Nội dung khác