Thơ ta thơ tây

01:33 CH @ Thứ Sáu - 03 Tháng Bảy, 2009

Vơ vẩn tơ vương hồn đại Việt
Thanh tao thép lột giọng Hàn Thuyên…

Giọng Hàn thuyên! Hồn Đại Việt! Hai câu ấy thực là gồm cả lòng hi vọng tối thiết của bọn ta. Than ôi! Ví sao mà ta khắc khoải trong lòng, ta băn khoăn trong dạ, vì sao mà ta mong ỏi mà tủi thương? Chẳng phải là từ xưa đến nay ta chưa từng đem cái giọng Hàn Thuyên này mà diễn cái hồn Đại Việt kia dư?

Bởi thế nên đến nay được ngâm những mảnh thơ nôm của các bậc tiền bối còn sót lại đến giờ, trong lòng có cái cảm giác vô hạn. Tưởng như hồn xưa của đất Việt ta còn phảng phất đâu ở trong mảnh thơ tàn văn vụn ấy mà vẳng đưa đến tai ta những giọng vui sầu của người thuở trước.

Cùng một tiếng khóc, cùng một giọng cười mà sao giọng cười tiếng khóc bằng cái lời họ Hàn kia, nó cảm ta như thế? Là bởi trời sanh ta để nói cái tiếng nói ấy, trời sinh ra cái tiếng ấy để ta nói ta có nói được bằng tiếng ấy mới nói được lòng ta, nói bằng tiếng khác là nói những chuyện không đau cả. Trong trời đất chỉ có tiếng nó ấy với ta, ta với tiếng nói ấy, là sẵn có duyên nợ với nhau vậy.

Ví chăng duyên nợ ba sinh
Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi?

Ấy cái hồn văn nôm nó thường “trêu người” bọn ta là vì thế.

Không phải ngẫu nhiên mà tôi phát khởi ra tư tưởng miên man ấy. Chính là nhân đọc sách của một nhà quốc văn, đã dụng công sưu tập những thơ văn nôm của các bậc danh sĩ để lại. Sách ấy là sách Cổ súy nguyên âm, của ông Nguyễn Đông Châu, hiện mới xuất bản được một tập thứ nhất ở nhà Đông Kinh Ấn Quán. Ông Đông Châu muốn “đánh trống thổi sáo” để đón rước những bậc con cháu cụ Hàn Thuyên đã biết nối nghiệp tổ tiên mà ngâm vịnh bằng nguyên âm của nước nhà. Ông làm một việc đáng khen thay!

Ông chia sách làm bảy mục gồm cả các lối văn thơ nôm cũ 1.Thi, 2. Phú, 3. Kinh nghĩa, 4. Văn sách, 5. Ca từ, 6. Văn thư, 7. Đối liễn. Hiện nay mới in xong được một tập thứ nhất về mục thơ. Ta ước ao các mục khác sẽ kế tiếp mà xuất bản, cho mau thành một kho tài liệu về văn học nước nhà, và chứng tỏ cho thiên hạ biết rằng tiền nhân ta cũng có lưu tâm đến quốc âm, chứ không phải không.

Trong tập thứ nhất này ông giải tường về luật làm thơ. Xem ấy mà biết luật thơ cũng nghiêm như luật hình vậy: người nào thuộc luật thì bằng trắc tất không lẫn lộn, vần tất áp, luật tất niêm, điệu tất xứng, đối tất chỉnh, sành những khóe thôi - xao, giỏi những cách xuất sáo, mà gây lên những bức thanh âm tuyệt điệu; người nào không thuộc luật thì phạm những tội ghê gớm, đọc đến mà rùng mình: nào là tội thất luật, tội thất niêm, tội khổ đọc, tội cưỡng áp, tội trùng ý, trùng chữ, điệp điệu, vân vân. Khuyên ai mới làm thơ phải học thi luật cho kỹ, đừng có bằng ở ai, mà cũng chớ nên cậy tài, kẻo mà lắm khi mắc phải những tội như trên!

Ông đã diễn hết các điều luật nghiêm khắc ấy rồi, ông bèn lục ra đến ngót trăm bài thơ để làm minh chứng cho những điều luật ấy. Thơ đủ các lối, thất ngôn bát cú, Đường luật bát cú, thủ vĩ ngâm, bát cú liên hoàn, bát cú họa vần, tứ tuyệt liên hoan; thơ yết hậu ( lối thơ này rất buồn cười); ngũ ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ cú, ngũ ngôn trắc. Trong tập này mới có cái lối đó, còn lối khác như: trường thiên cổ thể, lục bát, lục bát gián thất, ca từ (thơ ả đào, hát nói, v.v.) thì tập sau tất tiếp theo.

Trong các lối thơ ấy có lối Đường luật (8 câu 7 chữ) là thịnh hơn cả. Vậy nên xét qua cái “tâm lý” của lối thơ ấy. Nói tâm lý tất có người lấy làm lạ mà hỏi: Sao thể cách thơ văn mà cũng có “tâm lý” được? Xin đáp rằng: Thực như thế. Bao nhiêu người làm thơ theo cùng một lối, láy lối ấy làm hay làm tiện, đủ hình dung diễn đạt được sự cảm giác, cái tính tình tự của mình thì lối thơ ấy với tính tình người làm thơ tất có một mối quan hệ gì, không phải là không; nghiên cứu sự quan hệ ấy, tức là xét cái “tâm lý” của lối thơ, vì nhân đấy mà có thể biết được tính tình chung của các người làm thơ cùng dùng một lối ấy. Như lối Đường luật 8 câu 7 chữ chia ra làm bốn phần: hai câu 1-2 là câu đề ( phá đềthừa đề), hai câu 3-4 là câu thực, hai câu 5-6 là câu luận, hai câu 7-8 là câu kết. Trong cái phạm vi 56 chữ ấy mà bộ phận rất chỉnh đốn, then máy rất cẩn mật phải làm thế nào vẽ được một bức tranh hoàn toàn, hình dung được cái ngoại cảnh của tạo vật cùng cái nội cảnh trong lòng người, cái nọ hưởng ứng với cái kia không hề ngang trái nhau. Đó là vấn đề khó mà các nhà thơ Tàu thơ ta phải giải quyết vậy.

Muốn xét vấn đề ấy giải quyết ra làm sao thì phải biết cái quan niệm riêng của người Tàu người ta về thi học cùng họa học. Ta coi thơ tức là vẽ, mà vẽ tức là thơ; thơ là vẽ bằng lời, bằng thanh âm, vẽ là thơ bằng hình, bằng màu sắc. Nên bức tranh sơn thủy tức là bài thơ tả cảnh biểu hiện ra cho mắt ta trông; mà bài thơ tả cảnh tức là bức tranh sơn thủy cất tiếng lên cho tai ta nghe vậy.

Như muốn vẽ bức tranh thì con mắt phải nhìn trong cảnh vật mà thu lấy cái hình ảnh, rồi mới tìm cách truyền thần ra giấy ra lụa. Muốn làm bài thơ cũng vậy, trong trí phải tưởng tượng ra một cái cảnh, hoặc là cảnh thiên nhiên, hoặc là cảnh trong tâm giới, rồi dùng những âm hưởng thích đáng mà gọi, mà kêu nó lên, khiến cho người nghe cũng phảng phất tưởng tượng như thế. Hai đàng cùng là vẽ cả, một đàng là vẽ cách trực tiếp, một đàng là vẽ cách gián tiếp, nhưng đều muốn khêu gợi ra mối tư tưởng cảm tình trong tâm trí người ta vậy.

Bởi thế nên phàm thơ Tàu, thơ ta, nhất là lối thơ Đường luật, thực là những bức tranh cảnh con con. Đã là bức tranh để vẽ cái cảnh thiên nhiên, hay cái cảnh thú trong lòng, thì phải theo khuôn khổ một bức tranh, phải phỏng nét bút người vẽ, nghĩa là phải làm thế nào mà truyền thần được cái cảnh trong mấy câu nhất định, không được hơn không được kém, không được kém, không được tùy cái sóng ngổn ngang ở trong lòng mà khi cao khi thấp, khi vắn khi dài vậy.

Ấy “tâm lý” của lối thơ luật như thế. Người ta thường nói thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho nghề thơ, thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy, cho nó hay hơn, trúng vần trúng điệu hơn, nhưng vì đó có lẽ cũng làm mất cái giọng thiên nhiên đi ít nhiều vậy. Thử đọc bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà huyện Thanh Quan:

Qua đỉnh đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây xen lá, đá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà,
Luyến chúa đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia,
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.

Còn bức tranh nào vẽ khéo bằng! Thực như một mảnh sơn thủy ở các lọ sứ Tàu, đem phả vào khúc đàn hay vậy. Lời chuốt như ngọc, giọng êm như ru. Nào trời, nào nước, nào non, nào cây cỏ, nào đá hoa, nào chim kêu vượn hót, chẳng thiếu tí gì, lại thêm chút tình cảm động của kẻ tha hương, người lữ thứ một mình đối với cảnh trời cao bề rộng. Mà bấy nhiêu thứ chỉ trong khoảng 8 câu, 56 chữ. Một bài thơ như thế tuyệt bút.

Rằng hay thì thực là hay,

Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều, mà vẻ tự nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy.

Cùng một đầu bài ấy, cùng một cái cảm hứng ấy mà vào tay một nhà thơ tây, thì tất vẽ không được khéo bằng, bức tranh có lẽ kém bề phong nhã, kém vẻ thanh tao, nhưng nét bút đậm đà biết dường nào, lời thâm thiết mà giọng hùng hồn, như đưa như cuốn cả tâm hồn người lên mấy tàng mây!

Thí dụ như bài thơ bằng chữ Pháp sau này, cũng là tả cảnh buổi chiều đi chơi núi, mà cảnh tình man mác ra bao nhiêu ý tứ cao thượng, bao nhiêu tư tưởng thâm trầm. Xin lục ra cả nguyên văn và dịch nôm na ra quốc ngữ, cốt diễn lấy nghĩa đen cho người không thông Pháp văn dễ hiểu, và để làm tài liệu so sánh tinh thần hai lối thơ.

Bài thơ Pháp đề là: “Buổi chiều chơi núi” (Soir en monlagne)(1). Lời rằng:

J’ai gravi par ce beau crepuscule d’eté
Ta cime abrupte, ô mont noir de gorges secrètes,
Qui te casques de rocs et de sapins te crêles,
Et jusqu’au plus altier faite je suis monté.

La clarté desclinante envelope les choses,
Un calme eslyséen plane. A peine distincts,
Quelque cloche, un torrent font vibrer des lointains
Noyé dans un brouillard tissu de gazes roes.

Rougis d’obliqes feux, des troupeaux mugissants
Melent, semant les prés de taaches purpurines,
Aux tintements espars l’angelus les clarines,
Et du mont solitaire animent les versants.

Une sereine extase, une paix infinie
Me gagnent. Le soleil à peine disparu
Couronne les sommets voisins où l’ombre a crú,
Des pourpres de sa brève et royale agonie

Des trésors oubliés de tendresse et de foi
Soffrent à ma pensée en qui tout s’xagère,
J’imagine qu’avec plus de Fraicheur légère
Mon aame de dix ans se renouvelle en moi.

Déjà transfiguré d’ivresse intérieure,
Je me refais petit, ingénu: je reviens
Sans nul effort à des souvenirs très anciens,
Comme va ce qui à ce qui seul demeure.

Puis délivré d’un corps presque immatériel,
Ma candeur reconquise en sa grâce enfantine,
Sur les illusions sans nombre je butine,
Abeille heureuse éclose à la saison du miel.

Et je crois, tellement l’atmosphère est subtile,
Respirer un air vierge où des baumes divins
S’épandent, exhalés d’invisiles ravins,
Et vivre un de ces soirs que le Reeve distille.

Des paysages d’or s’évoquent enchaneteurs,
Et des impressions ressuscítent naives.
Je suis le fil d’um jleuve aux lumineuses rives,
Au caressant murmure, aux suaves senteure.

Et le courant m’entraine aux chères nostalgies
De limpides séjours et d’horizons élus,
Si tranquilles, si purs, que je ne les vois plus
Qú à travers la splendeur d’exaltantes magies.

Et, quand je redescends vers les hommes, longtemps
Ebloui d’um reflet du passé qui persiste,
Fe médite d’um coeur moins amer et moins triste
Sur ce mystérieux au-delà que j’attends.

Diễn nghĩa ra quốc ngữ:

“Mùa hạ, bóng chiều đã xế, trời sáng tạnh, ta trèo lên ngọn tranh vanh của nhà ngươi, hỡi núi cao! Ngươi tối sầm những vực sâu hang thẳm, đầu ngươi đội mũ đá, mọc sừng thông (là cây thông). Ta trèo mà ta lên tận trên đỉnh thật cao.”

“Bấy giờ bóng tà dương bao bọc cả cảnh vật. Trời đất phẳng lặng như tờ. Chốc chốc có tiếng chuông đánh, tiếng suối reo, xa đưa thoảng lại, như rung động cả bốn bề. Sương mù dủ che, như căng bằng thứ màn sa đỏ.”

“Trông lên cánh đồng lốm đốm những đám đỏ, tức là ánh trời chiếu xiên khoai vào mấy đàn bò, vừa đi vừa kêu, tiếng đàn rung, xa đưa đồng vọng với những tiếng động khác mà vang khắp sườn núi trơ vơ.”

“Trong người tôi thấy bình tĩnh, cao hứng vô cùng. Mặt trời mới bắt đầu lặn, các núi chung quanh đã tối dần, nhưng trên đỉnh tròn chói lọi sáng, tựa hồ như ông Đông quân trước khi từ biệt thế gian còn muốn ra oai rực rỡ trong một giây phút sau cùng nữa.”

“Tư tưởng tôi bấy giờ khoát đạt vô cùng, thấy trong lòng như có kho tình bể ái, lâu nay không từng tưởng nhớ đến. Tôi tưởng cái hồn như lúc mười bốn tuổi nó lại tỉnh thức lại trong người tôi mát mẻ và nhẹ nhàng.”

“Trong lòng như say như mê tưởng đã thay hình đổi dạng, nay lại bé nhỏ, lại ngây thơ xưa. Tự dưng mà hồi lại những việc cũ, như cái gì qua đi muốn quay về với cái còn lại.

“Rồi thấy hình như mình thoát ra ngoài cái thân thể vô hình, khôi phục lại cái tâm hồn tuyết trắng hoa thơm thủa đồng ấu, khác nào như cái ong nở ra giữa mùa mật, tha hồ mà hút những bông hoa ảo tưởng.”

“Khi trời rất thanh tịnh tưởng như cái không khí mình thở là cái không khí cực trong sạch, lựng thơm những mùi hương thần ngào ngạt tự nơi hang sâu vực thẳm nào đưa lên; mà chiều hôm nay thì là một buổi chiều của thần mộng gây nên vậy.

“Những cảnh hoàng kim xuất hiện ra phấp phới, những mối cảm giác cũ khôi phục lại tơi bời. Tinh thần như theo giải doành ngân, nước chảy như ru, hương đưa ngào ngạt.”

“Nước chảy đưa đến bờ tưởng nhớ, tưởng nhớ những nơi tiên cảnh bồng lai, rất bình tĩnh rất thanh tịnh, chỉ lúc tuyệt hứng mơ màng tưởng mới trông thấy được.”

“Đến khi ở trên núi xuống, trở về với người đời, trong trí vẫn còn phảng phất những chuyện cũ. Bây giờ tôi nghĩ đến cõi lai sinh là nơi tôi sắp đến đây, thấy trong lòng đã bớt giận mà bớt buồn”.

Chắc rằng “bức tranh” tây không được gọn ghẽ, không được chải chuốt, không được “thép lột” bằng bức tranh ta, nhưng tình tứ dồi dào biết dường nào tư tưởng siêu việt biết bao nhiêu! Cái cảm hứng người ta lúc đăng lâm, thực là giãi bày ra hết lời hết ý. Lên cao trông rộng thì tâm hồn nở nang khoát đạt ra. Bao nhiêu những tư tưởng nhỏ nhen là cái tâm cảnh thường ở trong đám rừng người huyên náo, tiêu tan hết cả. Hô hấp cái không khí trong sạch ở nơi thượng tầng thì tinh thần tỉnh táo ra, hồi tưởng lại những việc cũ, mộng du những chốn bồng lai tiên cảnh. Tưởng mình như lại trở về tuổi đồng ấu, tuyết trắng hoa thơm. Đến khi xuống thì trong lòng sạch cả mọi sự phiền muộn oán phẫn, nghĩ đến cái chết cũng không sợ nữa… Ấy cái tình cảm của nhà thơ triền miên mà vấn vít như thế, không thể xếp thành bức tranh cảnh, không thể thu trong vòng tám câu thơ được.

Cứ so sánh hai lối thơ ấy thì biết hai cái tinh thần khác nhau là dường nào. Một bên thì vụ bề nhân công, một bên thì chuộng vẻ thiên thú. Vụ bề nhân công thì chủ lấy cực kì tinh xảo, làm bài thơ như chạm một hòn ngọc, uốn một cái cây, sửa cái vườn cảnh, thế nào cho trong một cái giới hạn nhất định, thêu nên bức gấm trăm hoa. Chuộng vẻ thiên thú thì nhà thơ tự coi mình như cái phong cầm, tùy gió thổi mà nên tiếng:

Tiếng trong như hạc bay qua,
Tiếng đục như tiếng suối mới sa nửa vời…

Lời thơ phải tùy theo lớp sóng trong lòng là khi dài khi ngắn, khi thấp khi cao, không thể cầm giữ trong phạm vi nhất định.

Bọn ta ngày nay thực là đứng giữa nơi giao tiếp của hai cái tinh thần ấy, hai cái gặp nhau ở ta, nếu ta khéo ra thì có thể điều hòa được. Cái hay của hai đàng mà không mắc phải những điều khuyết diểm. Ta cứ nên giữ cái lối “tranh cảnh” của ta, nhưng ta nên rộng cái khuôn của nó ra một chút mà bắt chước lấy cái vẻ thiên thú của người. Có thế thì thơ văn nôm của ta mới có thể phát đạt nên được.

Dù vậy cốt nhất vẫn là phải nuôi lấy cái “hứng” ở trong lòng trước. Đã có cảm hứng đặc biệt thì làm thế nào cũng tìm được lời thích đáng mà diễn ra.

Nhân đọc sách “Cổ xúy nguyên âm” của ông Nguyễn Đông Châu mà chạnh nghĩ ra những ý kiến ngổn ngang như thế, nghĩ làm sao thì viết ra làm vậy, đâu dám tự phụ xướng ra một lý thuyết mới về thơ tây với thơ ta!

(1917)

(1) Bài thơ này của Léonce Depont là một nhà làm thơ có tiếng ở Pháp thời nay. Ông mới mất được mấy năm nay. Thơ ông hay lắm bình sinh vẫn được suy tôn là bậc “thi bá” (le prince des poésies). Như bài thơ này, không những ý tứ cao, từ điệu rất là điều hòa thanh xướng. Lục ra đây để các nhà tây học thưởng giám. Ai không biết chữ Tây, xin xem qua lời dịch quốc ngữ cho biết đại khái lời lẽ ý tứ của thơ tây, còn âm điệu thì không tài nào dịch ra được

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Tâm lý ngày Tết

    22/01/2020Phạm QuỳnhNhững dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.
  • Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

    25/03/2018Vương Trí NhànKhi một người có hoạt động thực sự trên lĩnh vực văn hoá, trở thành có đóng góp về văn hoá, người đó nhất thiết phải có tình cảm tốt đẹp và sâu sắc với dân tộc, với đất nước. Ấy là niềm tin đến với chúng tôi khi lần giở lại Nam Phong. Nó cũng là nhân tố giúp chúng tôi yên tâm khi tìm hiểu những đóng góp của Phạm Quỳnh...
  • Tinh thần bất ổn

    13/07/2017Phạm QuỳnhKhông thể chối cãi được rằng đất nước này đang trải qua một cuộc khủng hoảng, có thể là khủng hoảng tăng trưởng, cách gì thì cũng là một khủng hoảng khá sâu sắc, và nhiều người không nghi ngờ gì mức độ nghiêm trọng của nó.
  • Báo chí - nhà báo và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX

    21/06/2017Trần Văn ToànKhái niệm trí thức hiện đại ở đây được hiểu trong sự đối nghĩa với trí thức - kẻ sĩ trong xã hội Việt Nam truyền thống. Sự hiện diện của tầng lớp trí thức hiện đại, trên thực tế, mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ vai trò của báo chí - một thiết chế văn hóa có nguồn gốc phương Tây - đã đóng vai trò như một dung môi, một tiền đề vật chất cho sự xuất hiện của tầng lớp trí thức hiện đại như thế nào...
  • Những lời tâm sự

    05/06/2016Phạm QuỳnhMột hôm tôi nhận được những lời tâm sự của một người bạn trẻ. Quả rất bi thảm. Chúng bộc lộ sự rối loạn của một tâm hồn hoàn toàn hoang mang không còn tìm thấy các chuẩn mực cho cuộc sống của mình và buông mình như một cái xác mặc cho dòng nước cuốn trôi. Chúng rất tiêu biểu cho trạng thái bất ổn của phần đông giới trí thức tinh hoa của đất nước này.
  • Sự giáo dục đàn bà con gái

    10/03/2016Phạm QuỳnhTừ xưa thế giới là của riêng của đàn ông, từ nay thế giới là của chung cả đàn bà. Đàn bà tuy không làm những sự nghiệp lớn lao, biến cải mặt địa cầu, nhưng ảnh hưởng trong gia đình, trong xã hội, đằm thắm mà sâu xa biết dường nào!
  • Cải cách trí tuệ và luân lý

    26/01/2016Phạm QuỳnhTrong một bài viết trước tôi có ám chỉ đến sự cần thiết phải tiến hành một cuộc "cải cách trí tuệ và luân lý" ở xứ này, và tôi đã nói rằng cuộc cải cách đó chủ yếu phải là công việc của giới tinh hoa nước Nam, những người phải có ý thức về chính mình, về bổn phận và trách nhiệm của mình.
  • Phương Đông và phương Tây

    07/11/2015Phạm Quỳnh (sinh (17/12/1892 - mất 6/9/1945)Chúng ta sống trong một thời kỳ khủng hoảng của lịch sử thế giới. Đấy không phải là một lời sáo rỗng tầm thường, một công thức mơ hồ và có phần cường điệu. Đấy là một nhận xét cần thiết nếu ta nghĩ đến những hậu quả kinh khủng của bi kịch do cuộc va chạm giữa Phương Đông và Phương Tây gây ra trên thế giới...
  • Triết học nước Pháp

    08/11/2014Henri Bergson - Phạm Quỳnh dịchCái tính hiếu triết học đó thực là tiêu biểu cho tính tình cao thượng của người Pháp, chỉ ưa những nghĩa lý công minh chính đại ở đời. Như vậy thì hồn nước Pháp với hồn triết học tất có thanh khí với nhau, không phải không.
  • Nguyễn Văn Vĩnh, một người Nam mới đầu tiên

    17/09/2014Đỗ Lai ThúyBạn tôi nói, làm một người Việt Nam mới bây giờ đã khó thì làm một người Nam mới (Tân Nam tử) như Nguyễn Văn Vĩnh hồi đầu thế kỷ XX hẳn khó hơn nhiều. Đúng vậy. Vào những năm đầu thế kỷ trước, Việt Nam chủ yếu vẫn là một xã hội quân chủ nông nghiệp Nho giáo. Người Việt Nam, kể cả tầng lớp có học bấy giờ, vẫn phải sống thân phận thần dân nhiều trói buộc. Đâu có được như ngày nay: đất nước thì đổi mới và mở cửa; thế giới thì ngày một trở nên phẳng; con người thì đang dần là công dân trái đất! Nhưng, có lẽ, thời ấy bộ phận trí thức hình như có quyết tâm đổi mới xã hội cao lắm thì phải. Và, một điều nữa cũng quan trọng không kém: họ là những cá nhân có tài năng.
  • Ngôn ngữ mới của nước Nam

    03/07/2009Phạm QuỳnhKhông thể chối cãi là hiện giờ đang có một ngôn ngữ mới của nước Nam đa dạng hơn, uyển chuyển hơn, đủ khả năng hơn cho sự diễn tả các tư tưởng mới và các quan niệm trừu tượng so với ngôn ngữ đó cách đây mười lăm, hai mươi năm.
  • Tự ngôn

    03/07/2009Phạm QuỳnhBáo Nam Phong cũng là tiêu biểu cho một thời kì trong công cuộc cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học. Quốc văn sau này còn tấn tới nhiều, quốc học sau này còn mở mang rộng. Nhưng cái bước đầu khó khăn cũng nên ghi nhớ lấy, để có thể so sánh trước sau hơn trước thế nào. Sau hơn trước là lẽ cố nhiên, nhưng có trước thì mới có sau thời trước đối với sau cũng không phải là tuyệt vô quan hệ.
  • In lại Nhật ký đi Pháp của Phạm Quỳnh

    02/07/2009Ngô Phan (thực hiện)Pháp du hành trình nhật ký (Nhật ký đi Pháp) của Phạm Quỳnh vừa được in lại sau mấy chục năm ngủ yên trong tạp chí Nam Phong suốt từ 1922 tới nay. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn- người thực hiện việc biên soạn và chú giải – có dịp trao đổi với TT&VH về giá trị của tập sách cũng như về việc khai thác bộ phận văn học viết bằng quốc ngữ đầu thế kỷ 20.
  • Đẹp là gì?

    24/06/2009Phạm QuỳnhTa thường nói cái này đẹp, cái kia xấu; đọc bài văn khen hay, nhìn bức tranh khen khéo, nghe đàn mà cảm động, xúc cảnh mà hứng hoài. Bấy nhiêu thứ đều gợi ra trong tâm tình ta một cái cảm riêng, nhà tâm lý gọi là “mỹ cảm”.
  • Nghĩa vụ của nhà làm báo

    19/06/2009Phạm QuỳnhNhà báo vừa tiêu biểu mà vừa tạo thành ra dư luận trong một nước. Ai nói đến báo là nói đến dư luận, ai hỏi đến dư luận là tìm đế báo, báo với dư luận, dư luận với báo là lần lót, là hình ảnh cho nhau, là tinh thần là hình thức của nhau vậy.
  • Sự công bằng lịch sử được trả lại (*)

    16/06/2009Nguyên NgọcLà một trong những người dịch ông, tôi thấy có lẽ Phạm Quỳnh là một trong những người Việt viết tiếng Pháp hay nhất, một thứ tiếng Pháp trong sáng, sang trọng, trang nhã và đầy âm vang, chỉ có thể có được trên cơ sở một vốn tri thức uyên thâm về văn hóa và văn minh không chỉ của Pháp mà còn của cả phương Tây cổ kim.
  • Văn thuyết

    09/06/2009Phạm Quỳnh - Dịch Hán văn của Tống Cảnh LiêmVăn là gì? Người đời nay thường hiểu văn là văn chương, mà không biết rằng tiên nho cho chữ văn một cái nghĩa rất rộng. Văn là cái vẻ thiên nhiên ở trong người, tự nó xuất hiện ra lời nói câu viết, không phải học mà làm được. Như thế thì phàm người có chí khí, có tư tưởng, có phẩm cách cao là những người có văn cả, nếu dụng tâm làm văn thì văn ấy mới thực là văn chương.
  • Một nhà khoa học nước Pháp: Marcelin Berthelot

    09/06/2009Phạm QuỳnhKhoa học ngày một tấn tới, từ một trăm năm trở lại đây đã biến cải hẳn mặt địa cầu. Ta đứng xa mà trông những cảnh tượng kỳ kỳ quái quái, hằng ngày xuất hiện ra trước mắt ta, vừa kinh hãi, vừa cảm phục, không ngờ một khối óc mềm của con người mà làm nên những sự kinh thiên động địa như thế. Tuy ngày nay không tin thần thánh như xưa, không cho các công cuộc kỳ diệu ấy là bởi tay những bậc “siêu nhân” làm ra, nhưng lại đặt ra một vị thần mới, vô hình, vô ảnh, gọi là thần Khoa Học.
  • Văn quốc ngữ

    05/06/2009Phạm QuỳnhVấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mở mang được.
  • Triết học là gì?

    04/06/2009Phạm QuỳnhNói triết học, ai cũng nghĩ đến một môn học nghiêm trang, cao kỳ, huyền bí, bàn những nghĩa cao xa, xét những lẽ thâm thúy, người thường không thể hiểu được. Có người nghe đến tên triết học mà sợ, tưởng như cái yêu thuật của một phái cuồng nho dùng để huyễn diệu người đời. Bởi nhiều người hiểu lầm về triết học như thế, nên triết học đã hầu coi như một món không đàm, không có quan hệ gì đến sự thực, đến việc đời, mà nhà triết học thành nhà thuyết lý suông, chỉ biết mơ màng trong cõi lý tưởng.
  • Thơ Baudelaire

    03/06/2009Phạm QuỳnhThơ có hai phần: một là âm điệu, hai là tình tứ. Âm điệu là phần hình thức, tình tứ là phần tinh thần. Âm điệu tức là cách dùng chữ xếp vần, cho có âm hưởng tiết tấu để đọc cho êm tai vui miệng. Tiếng mỗi nước một khác thì âm điệu cũng không giống nhau, nên thi luật của nước nào là riêng cho nước ấy, không thể chuyển dịch sang tiếng nước khác được.
  • Nghĩa vụ là gì?

    02/06/2009Phạm QuỳnhTiên nho có câu: “Muốn nhập môn đạo Khổng Mạnh, trước hết phải biết cách phân biệt điều nghĩa điều lợi.” Tiên nho gọi điều nghĩa, tức ta gọi là nghĩa vụ; tiên nho gọi điều lợi tức là quyền lợi. Hai cái quan niệm về nghĩa vụ quyền lợi thực là cái chốt của luân lý vậy. Nghĩa với lợi quan hệ thế nào, đó là một vấn đề rất trọng, người ta dù ở đời nào nước nào, cũng phải xét đến. Vì giải vấn đề ấy, tức là giải nghĩa đời người vậy.
  • Bài học của tổ tiên

    28/05/2009Phạm QuỳnhCó những kẻ sẽ nói với các con rằng đó là những khái niệm lỗi thời, những quan niệm của một thời đã qua, rằng con người hiện đại cần phải là một con người cá nhân chủ nghĩa toàn vẹn, hay một người xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh nghĩa là hắn ta chỉ phải chăm lo cho hạnh phúc cá nhân và riêng rẽ hay, ngược lại phải làm việc vì hạnh phúc của toàn nhân loại, và gia đình với tổ quốc, đấy là những điều nhảm nhí cũ kỹ chỉ để thoả mãn những đầu óc câu nệ của đám tiểu tư sản ù lì trong những định kiến phản động của chúng. Những kẻ sẽ nói với các con như vậy, thì đấy là những người cuồng tưởng nguy hiểm hay những tên hề xấu xa. Chớ mà nghe theo họ...
  • Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam

    15/05/2009Phạm QuỳnhNhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ.
  • Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ

    12/05/2009Nguyên NgọcQuả thực, hồi đầu thế kỷ XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi.
  • Một nền văn hóa dân tộc

    08/05/2009Phạm QuỳnhMột cuộc bàn cãi sôi nổi đang diễn ra ít lâu nay trong một số anh em đồng nghiệp báo chí nước Nam chúng tôi. Đó là về việc nước Nam có một nền văn hoá dân tộc không. Một dân tộc nổi danh hiếu học, tự hào về các bậc túc nho, qua bao thế kỷ có sản sinh ra được một nền văn hoá dân tộc mang bản sắc riêng không? Hay rốt cuộc nó chỉ là một cậu học trò, dù đôi khi là một học trò xuất sắc nhưng vẫn là một học trò của nước Trung Hoa, người mẹ của toàn bộ văn hóa và văn minh, cô giáo duy nhất của tất cả các dân tộc Viễn Đông?
  • Nhãn quan văn hóa của Phạm Quỳnh, qua du ký

    28/04/2009Đặng Hoàng Oanh...một loạt tác phẩm của Phạm Quỳnh, từ Th­ượng Chi văn tập, Luận giải văn học và triết học, M­ười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật kí cho đến Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932 đã “tái xuất”, đến tay độc giả. Tuy chừng đó cũng cho thấy sự phong phú trong sự nghiệp tr­ước tác của một học giả một thời lừng lẫy và cũng một thời từng chịu nhiều tai tiếng. Đánh giá một cách công bằng và thỏa đáng về Phạm Quỳnh, công việc đó đòi hỏi nỗ lực, thái độ công tâm và khoa học của nhiều ngư­ời...
  • Lý luận phê bình văn học của Phạm Quỳnh

    21/04/2009Thạc sĩ Trần Văn ToànPhạm Quỳnh chính là tác gia lí luận và phê bình quan trọng nhất của văn học giao thời, và vì thế cũng là một trong những người mở đầu cho loại hình người viết lí luận và phê bình trong tiến trình lịch sử văn học nước nhà. Sau ông, chỉ mãi đến 1929 ta mới thấy xuất hiện Phan Khôi, Trịnh Đình Rư nhưng những cây bút thực sự chuyên sâu - chuyên nghiệp thì phải tính từ mốc 1931 với Thiếu Sơn và sau đó là một loạt những gương mặt của Lê Thanh, Trương Tửu, Thái Phỉ, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan... Đó là một thực tế mà độ lùi của thời gian đã giúp ta có được sự điềm tĩnh cần thiết để có được một thức nhận và biện giải thật sự khách quan.
  • Một vấn đề ngôn ngữ học

    15/04/2009Phạm QuỳnhSự cuồng tín đối với tiếng mẹ đẻ này khởi từ cuộc xung đột nổi tiếng chia rẽ nước Bỉ giữa người Flamand và người Wallon. Cũng còn thấy nó ở đáy sâu của phong trào ly khai đã và đang khuấy động miền Alsacevừa giành lại được. Một tác giả nổi tiếng, ông RENÉ GILLOUIN, đã viết cả một cuốn sách về những xung đột ngôn ngữ này, cuốn sách nhan đề Từ Alsace đến Flandre: tính thần bí ngôn ngữ học. Quả thực, trong mối liên hệ của con người đối với tiếng mẹ đẻ của họ có một thứ tính chất thần bí và đó là một trong những thế lực đang tác động tới thế giới hiện đại.
  • Cuộc tiến hóa của tiếng nước Nam (*)

    09/04/2009Phạm Quỳnh (1)Thưa quý ngài, khi hai người không hoà thuận với nhau, các ngài bảo đó là họ không nói cùng một thứ tiếng. Chúng tôi thì nói: ngôn-ngữ-bất-đồng (không có cùng một ngôn ngữ). Đối với các cá nhân đã vậy; đối với các dân tộc càng như vậy. Để đi sâu vào tâm thức của một dân tộc, để có thể thiện cảm với nó, không gì bằng sự hiểu biết ngôn ngữ.
  • Ảnh hưởng của văn hóa phương Tây qua sự hiện diện của tờ báo

    09/04/2009Trần Văn ToànSự ra đời của báo chí, lẽ tự nhiên, làm xuất hiện một chân dung mới: ký giả, hay nhà báo. Những danh xưng này, trong ngôn ngữ đương đại thiên về ý nghĩa nghề nghiệp thuần túy nhưng ở vào thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lại có nét nghĩa chỉ một nhóm có vai trò ưu đẳng trong xã hội (status group). Với quốc dân, họ là đại diện cho luân lý và tri thức, có chức phận dẫn dắt, hướng đạo. Trong một xã hội vốn có truyền thống trọng quan tước, ký giả thậm chí được liệt vào tầng lớp “quan lại cao cấp”.
  • Vấn đề phương Đông và phương Tây

    25/11/2008Phạm QuỳnhCó chăng một vấn đề Phương Đông và Phương Tây? Đặt ra vấn đề về các quan hệ giữa hai phần đó của thế giới do sự đối lập hay sự đối kháng của chúng là đúng hay sai? Giữa chúng có những khác biệt đặc trưng cho phép một sự đối lập như vậy không?
  • Chủ nghĩa dân tộc

    13/11/2008Phạm Quỳnh (*)Có một thực tế là kể từ khi có cuộc Đại chiến ở Châu Âu, thì phong trào dân tộc cũng có mạnh lên và có quy mô lớn chưa từng thấy. Kết quả của cú sốc lớn này của các dân tộc là nó làm tăng thêm tinh thần dân tộc không chỉ ở những nước tham chiến, mà còn cả ở những nước ít nhiều có liên quan đến cuộc xung đột kinh hoàng này. Nó đã thức tỉnh nhiều quốc gia đang ngủ quên, đã khơi dậy ý thức và sức sống cho nhiều quốc gia khác mới chi ở dạng tiềm tàng, đã tái sinh hay khơi dậy ở tất cả các quốc gia sự ham muốn sống cuộc sống tự do và độc lập của mình, duy trì và thèm khát nuôi dưỡng tất cả những gì - ngôn ngữ, truyền thống, phong tục tập quán - tạo nên đặc tính riêng của họ, phân biệt họ ra, khu biệt họ với các dân tộc khác.
  • Cần có một nền học của ta và cho ta?

    23/06/2006Phan Đình Diệu (2004)Gần một trăm năm trước, trước những xáo động trong nền học vấn nước nhà, nhiều bậc thức giả tâm huyết hồi đầu thế kỷ 20 đã từng trăn trở: “Xưa khi học sách Tàu thì làm học trò Tàu, ngày nay học sách Tây chỉ làm học trò Tây mà thôi..... Từ xưa đến nay, nước ta quả không có quốc học thật....
  • Trực diện với Văn học Việt Nam thế kỷ XX

    01/12/2005Nguyễn HoàBị hấp dẫn bởi tên gọi Văn học Việt Nam thế kỷ XX, tôi đã đọc cuốn sách với hy vọng được mở mang tầm nhìn, được bổ sung tri thức, được giúp lý giải các hiện tượng, các vấn đề lý luận - thực tiễn của văn chương - văn học dân tộc trong thế kỷ XX. Tiếc thay càng đọc thì nỗi thất vọng lại càng lớn dần...
  • Thơ là gì ?

    30/09/2005Phan NgọcTrong quá trình xây dựng bộ "Phong cách học cấu trúc tiếng Việt", tôi bắt buộc phải định nghĩa lại các khái niệm, bởi vì các khái niệm trước đây về phong cách học là dựa trên nhận thức cảm tính về cái đã có, còn công trình của tôi mang tính thao tác, phải tìm cái lý do, cái sở dĩ của các hiện tượng đã được xem là hiển nhiên....
  • "Tín - đạt - nhã" - chuyện cũ mà chưa cũ

    07/07/2005Ngân HuyềnBa chữ “Tín - Đạt - Nhã” đã là chủ đề của ít nhất hai cuộc thảo luận trong giới dịch thuật Việt Nam những năm 1960 và 1990. Tháng ba vừa qua (2003), tại Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, chủ đề này lại được “hâm nóng” trở lại với sự tham gia của các nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà thơ: Trần Thiện Đạo, Hoàng Hưng, Hoàng Thúy Toàn, Lê Đức Mẫn, Ngô Tự Lập, Nguyễn Văn Dân, Đoàn Tử Huyến.
    Cuộc tọa đàm do Ngân Huyền lược thuật.
  • xem toàn bộ