Cái nhìn đường hầm của khoa học

09:20 SA @ Thứ Bảy - 01 Tháng Tám, 2009

Đôi khi các bác sĩ tâm bệnh gặp những bệnh nhân bị rối loạn thị giác rất lạ; những bệnh nhân này chỉ có thể thấy một vùng rất hạn hẹp ngay trước mặt họ. Họ không thể thấy bất cứ cái gì ở bên trái, hoặc bên phải, bên trên hoặc bên dưới cái tiêu điểm hạn hẹp của họ. Họ không thể thấy hai vật gần kề nhau đồng thời một lúc, họ chỉ có thể thấy một lúc một vật mà thôi và phải quay đầu nếu phải nhìn một vật khác. Người ta so sánh triệu chứng này với việc nhìn xuôi theo một đường hầm, chỉ có thể thấy một vòng tròn sáng rõ nhỏ ở cuối đường hầm. Không thể tìm ra một rối loạn thể lý nào trong hệ thống thị giác của họ không muốn thấy một thứ gì khác ngoài cái họ đang tập trung chú ý nhìn.

Một lý do quan trọng khác mà các nhà khoa học có khuynh hướng hất bỏ đứa bé cùng với nước tắm là họ không thấy đứa bé. Đơn giản là nhiều nhà khoa học không nhìn vào sự thực hiển nhiên của thực tại Thiên Chúa. Họ mắc phải một kiểu nhìn đường hầm, do một bộ che chắn tâm lý tự áp đặt ngăn cản không cho họ quan tâm chú ý đến lãnh vực tâm linh.

Trong số những nguyên nhân của lối nhìn đường hầm này tôi thích bàn đến hai nguyên nhân hậu quả của bản chất của truyền thống khoa học. Thứ nhất là vấn đề phương pháp luận. Do quá đề cao thí nghiệm, quan sát chính xác và sự xác minh, khoa học đã quá cường điệu sự đo đếm. Đo lường một cái gì đó tác là cảm nghiệm nó trong một chiều kích nào đó, với chiều kích đó chúng ta có thể thực hiện những quan sát với độ chính xác rất cao; những quan sát mà người khác có thể lập lại. Việc dùng đo lường đã giúp khoa học thực hiện những bước sải to lớn trong sự hiểu thấu vũ trụ vật chất. Nhưng vì thành quả đạt được, đo lường đã trở thành một thứ ngẫu tượng khoa học. Kết quả là nhiều nhà khoa học có thái độ không những hoài nghi mà còn vứt bỏ hoàn toàn cái không thể cân đong đo đếm được. Như thể họ muốn nói: "Những gì chúng ta không thể đo đếm được thì chúng ta không thể biết; không có gì phải hối tiếc về những gì chúng ta không thể biết; vì thế, những gì không thể đo đếm được đều quan trọng và không đáng để chúng ta quan sát." Do thái độ này nhiều nhà khoa học không xem xét nghiêm túc tất cả những gì là - hoặc có vẻ là - không thể đụng chạm được. Dĩ nhiên, trong đó có vấn đề Thiên Chúa.

Giả thiết kỳ lạ và rất phổ biến cho rằng những gì không dễ nghiên cứu thì không đáng để nghiên cứu bắt đầu gặp thách thức bởi nhiều bước phát triển tương đối gần đây của chính khoa học. Một trong những phát triển đó là sự gia tăng các phương pháp nghiên cứu ngày càng tinh vi. Qua việc sử dụng phần cứng như các kính hiển vi điện tử, các máy đo quang phổ và các máy tính, và phần mềm như những kỹ thuật thống kê mà ngày nay chúng ta có thể thực hiện những đo lường các hiện tượng ngày càng phức tạp mà một vài thập niên trước không thể đo lường được. Biên độ tầm nhìn khoa học do đó mở rộng. Vì nó tiếp tục mở rộng, cho nên có lẽ chúng ta sẽ sớm có thể nói: "Không có gì vượt ra ngoài những giới hạn tầm nhìn của chúng ta. Nếu chúng ta quyết định nghiên cứu một điều gì đó thì bao giờ chúng ta cũng có thể tìm ra được phương pháp luận để nghiên cứu nó".

Một phát triển khác giúp chúng ta thoát khỏi tầm nhìn đường hầm khoa học là sự khám phá tương đối gần đây của khoa học về thực tại của nghịch lý. Cách đây một trăm năm nghịch lý có nghĩa là sự sai lầm đối với đầu óc khoa học. Nhưng nhờ các khám phá về những hiện tượng như bản chất của ánh sáng, điện từ, cơ học lượng tử và thuyết tương đối, khoa học vật lý trong thế kỷ qua đã đạt đến chỗ ngày càng nhận ra rằng ở một mức độ nào đó thực tại là nghịch lý. J. Robert Oppenheimer đã viết như thế này:

"Đối với những gì trông có vẻ là những câu hỏi đơn giản nhất, chúng ta có khuynh hướng không đưa ra câu trả lời nào hoặc đưa ra một câu trả lời mới sẽ gợi nhớ đến một bài giáo lý kỳ lạ hơn là những khẳng định đơn giản của khoa học vật lý. Chẳng hạn, nếu chúng ta hỏi vị trí của electron có vẫn ở yên một chỗ không, chúng ta phải nói: "Không"; nếu chúng ta hỏi vị trí của electron có thay đổi theo thời gian không, chúng ta phải nói "Không"; nếu chúng ta hỏi electron có đứng yên không, chúng ta phải nói "Không". Đức Phật đã đưa ra những câu trả lời như thế khi được hỏi về tình trạng của bản ngã của một người sau khi chết; nhưng đó không phải là những câu trả lời quen thuộc đối với truyền thống của khoa học thế kỷ mười bảy và mười tám"(2)

Từ bao đời nay, các nhà thần bí đã nói với chúng ta bằng nghịch lý. Phải chăng chúng ta bắt đầu nhận thấy một sự gặp gỡ giữa khoa học và tôn giáo?

Khi chúng ta nói được rằng "con người vừa hay chết đồng thời vừa bất tử" và "ánh sáng vừa là sóng đồng thời vừa là hạt", tức là chúng ta đã bắt đầu nói cùng một ngôn ngữ. Phải chăng con đường trưởng thành tinh thần xuất phát từ mê tín tôn giáo đến với hoài nghi khoa học quả thực sau cùng dẫn chúng ta đến với thực tại tôn giáo đích thực?

Khả năng hợp nhất vừa mới bắt đầu của tôn giáo và khoa học là sự kiện có ý nghĩa và gây hứng thú nhất trong đời sống trí thức của chúng ta ngày nay. Nhưng nó chỉ vừa mới bắt đầu mà thôi. Vì phần lớn cả hai tôn giáo và khoa học vẫn còn nằm trong những khung qui chiếu chật hẹp tự đặt ra, mỗi bên vẫn còn rất mù quáng do tầm nhìn đường hầm đặc trưng của mình. Chẳng hạn, hãy xem xét thái độ của hai bên đối với vấn đề phép lạ. Ngay cả ý tưởng về một phép lạ cũng là chuyện đáng nguyền rủa đối với đa số các khoa học gia. Hơn bốn trăm năm qua khoa học đã giải thích được một số những "qui luật tự nhiên", như "Hai vật thể hút nhau tỉ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa chúng" hay "Năng lượng không thể được tạo ra cũng không thể bị tiêu diệt". Nhưng trong khi thành công trong khám phá những qui luật tự nhiên, các nhà khoa học với cái thế giới quan của mình đã tạo ra một ngẫu tượng từ cái khái niệm qui luật tự nhiên, tương tự như họ đã tạo nên một ngẫu tượng từ ý niệm về đo lường. Kết quả là bất cứ sự kiện nào không thể giải thích được bằng qui luật tự nhiên được hiểu một cách thông thường thì tổ chức khoa học cho là không có thực. Về mặt phương pháp luận khoa học có khuynh hướng nói: "Điều gì rất khó nghiên cứu tìm hiểu thì không đáng để nghiên cứu tìm hiểu." Và về mặt qui luật tự nhiên khoa học muốn nói: "Điều gì rất khó hiểu thì không tồn tại".

Giáo hội có phần rộng thoáng hơn. Đối với tổ chức tôn giáo điều gì không thể hiểu được bằng qui luật tự nhiên thông thường là một phép lạ là có thật. Nhưng ngoại trừ công nhận sự hiện hữu của những phép lạ, giáo hội không bận tâm lo lắng đến việc xem xét thật kỹ lưỡng các phép lạ. "Các phép lạ không cần phải được xem xét một cách khoa học" là thái độ phổ biến của tôn giáo. "Chỉ cần đơn giản chấp nhận các phép lạ như là những hành động của Thiên Chúa. Người có tôn giáo không muốn khoa học làm lay chuyển tôn giáo của mình, cũng như các nhà khoa học không muốn tôn giáo lay chuyển khoa học của mình.

Chẳng hạn, các sự kiện chữa lành bằng phép lạ được giáo hội công giáo dùng để công nhận các vị thánh trong giáo hội và các sự kiện đó cũng được xem gần như là chuẩn mực đối với nhiều giáo phái Tin lành. Nhưng các giáo hội không bao giờ nói với các thầy thuốc: "Mời các anh cùng chúng tôi nghiên cứu những hiện tượng hết sức kỳ diệu này."Các thầy thuốc cũng không nói: "Chúng tôi sẽ cùng với các ông xem xét một khoa học những việc xảy ra mà nghề nghiệp chuyên môn của chúng tôi rất quan tâm". Thay vào đó, giới y khoa cho rằng những chữa trị bằng phép lạ là không có thật, rằng cái bệnh mà người được chữa khỏi trước hết là không có, hoặc vì đó là một sự rối loạn tưởng tượng, như phản ứng chuyển hoán hystêri chẳng hạn, hoặc vì đó là một chẩn đoán sai. Tuy nhiên, rất may, một số nhà khoa học nghiêm túc, những thầy thuốc và những người tìm kiếm sự thật có tôn giáo hiện đang bắt đầu xem xét bản chất của những hiện tượng như sự phục hồi bất thình lình của các bệnh nhân ung thư và những trường hợp thành công rõ ràng của sự chữa lành tâm trí.

Cách đây mười lăm năm, khi tôi tốt nghiệp y khoa, tôi tin chắc rằng không hề có phép lạ. Hiện nay tôi chắc chắn rằng có rất nhiều phép lạ. Sự thay đổi này nơi ý thức của tôi là kết quả của hai yếu tố cùng tác động. Yếu tố thứ nhất là toàn bộ những kinh nghiệm mà tôi có được với tư cách là một bác sĩ tâm bệnh; những kinh nghiệm ấy lúc đầu xem có vẻ bất bình thường, nhưng khi tôi suy nghĩ kỹ hơn về chúng hình như chúng cho thấy rằng công việc của tôi với các bệnh nhân trên bước đường hướng đến sự trưởng thành của họ đã được trợ giúp đáng kể bằng những phương cách mà tôi không giải thích hợp lý được - nghĩa là những phương cách đó là những điều kỳ diệu. Tôi sẽ kể ra một số những kinh nghiệm này; những kinh nghiệm dẫn đưa tôi đến việc đặt vấn đề lại chính giả định của mình trước đây cho rằng không thể có những sự kiện kỳ diệu được. Có lần đặt vấn đề lại giả định này tôi đã trở nên cởi mở chấp nhận khả năng tồn tại của điều kỳ diệu. Sự cởi mở này là yếu tố thứ hai tạo nên sự thay đổi của tôi trong ý thức, thế rồi nó cho phép tôi bắt đầu có thói quen nhìn thấy bằng mắt sự tồn tại bình thường của điều kỳ diệu. Tôi càng nhìn thì tôi càng tìm thấy. Nếu có chăng một điều nào đó tôi hy vọng ở nơi độc giả của phần còn lại của quyển sách này thì đó phải là hy vọng độc giả có được cái khả năng nhận ra điều kỳ diệu. Gần đây có bài viết về khả năng này như sau:

Sự tự nhận thức được sinh ra và chín muồi dưới một dạng đặc trưng của ý thức, một ý thức được miêu tả dưới nhiều phương cách khác nhau do nhiều người khác nhau. Ví dụ, các nhà thần bí nói về nó như là sự nhận biết thần tính và sự hoàn thành của thế giới. Richard Bucke xem đó như ý thức vũ trụ, Buber miêu tả nói bằng mối quan hệ Ngã - Tha và Maslow cho nó cái nhãn "Tri thức - Hữu thể". Chúng ta sẽ dùng thuật ngữ của Ospensky và gọi nó là sự nhận biết điều kỳ diệu. "Điều kỳ diệu" ở đây không những chỉ những hiện tượng phi thường mà còn chỉ điều tầm thường, vì bất cứ sự gì cũng có thể khơi dậy sự ý thức đặc biệt này miễn là ta dành cho nó sự chú ý cần thiết. Một khi sự nhận biết được tháo gỡ ra khỏi sự thống trị của định kiến và lợi ích cá nhân thì nó được tự do cảm nghiệm thế giới đúng bản chất của thế giới và trông thấy được sự lộng lẫy vốn có của thế giới.

Sự nhận biết điều kỳ diệu không đòi hỏi đức tin hoặc những giả định. Chỉ cần quan tâm đầy đủ và khăng khít đối với những dữ kiện của cuộc sống, nghĩa là, những gì vốn vẫn có đó mà ta thường cho là chuyện dĩ nhiên. Kỳ quan có thực của thế giới có sẵn ở khắp mọi nơi, trong những bộ phận bé nhất của cơ thể chúng ta, trong những chiều kích rộng lớn bao la của vũ trụ, và trong mối liên thông mật thiết của những thứ này và tất cả bằng tốt đẹp trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau đi đối với sự cá biệt hóa. Tất cả chúng ta đều là những cá nhân, nhưng chúng ta cũng là những thành phần của một toàn thể to lớn hơn, được hợp nhất trong một cái gì đó bao la và tươi đẹp không miêu tả được. Sự nhận biết điều kỳ diệu là tính chất của chủ quan của sự tự nhận thức, là gốc rễ từ đó nảy nở những nét đặc biệt và những kinh nghiệm cao quí nhất của con người. (2)

Khi suy nghĩ về các phép lạ, tôi tin rằng các khung qui chiếu của chúng ta quá bi thảm. Chúng ta đã tìm kiếm bụi gai bốc cháy, sự phân rẽ biển, tiếng kêu phán xuống từ trời cao.Thay vì chúng ta nên nhìn vào những sự kiện tầm thường hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta để nhân thấy bằng chứng của điều kỳ diệu mà đồng thời vẫn duy trì một định hướng khoa học. Đây là điều tôi sẽ làm trong phần kế tiếp khi xem xét những sự việc thông thường xảy ra trong khi làm công việc trị liệu tâm bệnh; những sự việc này đã dẫn đưa tôi đến hiểu biết hiện tượng phi thường ân sủng.

Nhưng tôi muốn kết thúc bằng một ghi chú cảnh báo khác. Nơi hội ngộ giữa khoa học và tôn giáo này có thể không được bền vững và nguy hiểm. Chúng ta sẽ xem xét đến sự nhận biết ngoại cảm (extrasensory perception) và những hiện tượng "thần thiêng" hoặc "ngoại thường" cũng như những sắc thái khác của điều kỳ diệu. Điều cần thiết là chúng ta phải sáng suốt tỉnh táo. Gần đây tôi có dự một hội thảo về vấn đề chữa bệnh bằng đức tin, ở đó một diễn giả học thức đưa ra chứng cứ vớ vẩn cho thấy họ hoặc những người khác là những người có khả năng chữa lành bệnh theo một phương cách mà dựa trên chứng cứ của họ là chính xác và khoa học trong khi thực ra không phải như vậy. Nếu một ông thầy chữa bệnh đặt tay trên chỗ viêm khớp của một bệnh nhân và ngày hôm sau chỗ khớp đó không còn viêm nữa thì không có nghĩa là bệnh nhân đó đã được ông thầy chữa lành bệnh. Những chỗ viêm khớp thường sớm muộn rồi cũng khỏi, có thể từ từ hoặc bỗng chốc thì khỏi, chẳng cần phải làm gì cả. Việc hai sự kiện xảy ra cùng lúc không nhất thiết có nghĩa chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau. Vì toàn bộ lãnh vực này quá ư mù mờ và hàm hồ cho nên chúng ta càng cẩn trọng tiếp cận nó bằng sự hoài nghi lành mạnh thì chúng ta càng ít đưa dẫn chính mình và người khác vào chỗ lầm lạc. Chẳng hạn một trong số những phương cách có thể làm cho người khác bị lung lạc là nhận ra tình trạng những người ủng hộ công khai sự có thật của những hiện tượng thần thiêng rất thường thiếu sự hoài nghi và sự kiểm chứng thực tại một cách nghiêm túc. Những người như thế làm cho lãnh vực này mang tiếng xấu. Vì lãnh vực các hiện tượng thần thiêng thu hút quá nhiều người kém cỏi trong việc kiểm chứng thực tại, cho nên nhiều nhà quan sát có đầu óc thực tế hơn dễ đi đến kết luận rằng những hiện tượng thần thiêng là không có thực mặc dầu thực tế không phải như vậy. Có nhiều người cố tìm những câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi khó, đồng thời kết duyên khoa học phổ thông với những ý niệm tôn giáo một cách cầu may nhưng thiếu suy nghĩ. Việc nhiều cuộc kết duyên như đó là không có thể hoặc không thích đáng. Nhưng điều cốt yếu là đừng để tầm nhìn của chúng ta bị gò bó bởi cái nhìn đường hầm khoa học, cũng đừng để những năng lực phê bình và khả năng hoài nghi của chúng ta bị lóa mắt bởi vẻ đẹp rực rỡ của cõi linh thiêng.


1 Trích "Science and the Common Understanding" (New York: Simon and Schuster , 953), tr. 40.
2 Trích bài "Beyond the Norm: A Speculative Model of Self - Realization" của Michael Stark và Michael Washburn, đăng ở tờ Journal of Religion and Health, Tập 16, số 1 (1977), tr 58 - 59.

Nguồn:
FacebookTwitterLinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Cần một bộ môn khoa học phối hợp nhận thức thực tại

    01/07/2018Nguyễn Tiến ĐạtMột số nhà khoa học đã có những nỗ lực nhằm xét lại vai trò khoa học, tôn giáo cùng mối quan hệ giữa chúng và họ quay ra thuyết phục công chúng về một viễn ảnh mà trong đó khoa học và tôn giáo có thể chung sức trong việc kiến tạo một đời sống tốt đẹp hơn với mục đích chung là phục vụ con người.
  • Lạm bàn về vấn đề “Hoàng hôn của khoa học”

    22/11/2016Lê Văn GiạngCó "buổi hoàng hôn của khoa học" không? Đó là câu hỏi rất lớn, đồng thời rất khó có câu trả lời thuyết phục được mọi người. Nếu câu trả lời là "có” thì sẽ là một thách thức rất nghiêm trọng mà nhân loại phải đối mặt...
  • Khoa học cần tự do

    14/06/2016Đỗ Quốc AnhLúc nhỏ học vật lý, tôi thường ngạc nhiên không hiểu tại sao lại tranh cãi nảy lửa giữa chuyện Trái đất quay quanh Mặt trời, hay Mặt trời quay quanh Trái đất làm gì. Về mặt vật lý, hai điều này tương đương nhau hoàn toàn vì chuyển động là tương đối: Vật thể A quay quanh vật thể B, thì vật thể B cũng quay quanh vật thể A. Sau này mới hiểu thêm là nếu diễn tả cả một hệ vận động, thì việc chọn đúng tâm điểm của cả hệ (ở đây là Mặt trời) sẽ có tác dụng tinh giảm lý thuyết rất nhiều, và tạo ra một lý thuyết đẹp.
  • Khoa học về cái phức tạp

    28/03/2016Phan Đình DiệuViệc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, đã tạo ra một “khoa học mới”, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà “khoa học” đã hình dung trước đó, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế...
  • Đưa vào triết học (phần 2)

    08/01/2016Nguyễn Văn TrungTrong lớp triết, chỉ tìm hiểu với một thái độ như thái độ ở lớp khoa học, không thể thực sự hiểu được triết lý. Chỉ có thể hiểu được triết lý từ thái độ sống đó mà thôi...
  • Tư duy khoa học

    27/10/2015Tư duy khoa học là giai đoạn cao, trình độ cao của quá trình nhận thức, được thực hiện thông qua một hệ thống các thao tác tư duy nhất định trong đầu óc của các nhà khoa học (hoặc những người đang sử dụng các tri thức khoa học và vận dụng đúng đắn những yêu cầu của tư duy khoa học) với sự giúp đỡ của một hệ thống “công cụ" tư duy khoa học nhằm "nhào nặn các tri thức tiền đề, xây dựng thành những tri thức khoa học mới...
  • Tôn giáo và khoa học tự nhiên

    05/05/2014Max PlanckBài thuyết trình được lấy từ tuyển tập "Tự truyện khoa học và những bài báo khác" (Scientific autobiography and other papers) của Max Planck. Bản dịch này được thực hiện từ bản tiếng Anh (Great Books of the Western World, Encyclopedia Britanica, 1994), được Nguyễn Xuân Xanh đối chiếu với nguyên bản tiếng Đức và Bùi Văn Nam Sơn xem lại.
  • Jean Francois Lyotard với thực tại luận và tri thức luận

    07/05/2009Trần Quang TháiMặc dù còn mang tính võ đoán và chưa thật sự thuyết phục khi đồng nhất các học thuyết triết học phổ quát với các đại tự sự, quy mọi tri thức về các phát ngôn ngôn ngữ, xoá nhoà ranh giới phân biệt có tính bản thể giữa khoa học với truyện kể, song có thể nói, J.F.Lyotard đã đưa ra những kiến giải mới về vấn đề tri thức và cách tiếp cận đối với thực tại trong hoàn cảnh xã hội hậu hiện đại.
  • Tư duy lại khoa học

    26/02/2009Tôi hy vọng rằng các ý tưởng và kiến giải đó sẽ tạo được những ấn tượng đậm nét trong suy tư của bất kỳ ai quan tâm đến tiền đồ phát triển của khoa học trong một giai đoạn bước ngoặt hiện nay, khi thực tế tự nhiên và xã hội - các đối tượng nhận thức của chúng ta - đã và đang bộc lộ rõ các đặc trưng phức tạp, hỗn độn và bất định của mình, mà tầm nhìn và năng lực nhận thức của chúng ta thì vẫn đang còn loay hoay nhiều trong vòng vây cố hữu của tư duy cơ giới với niềm tin vào các luật nhân quả giản đơn, tuyến tính, tất định trong một thế giới ổn định và tiên đoán được.
  • Đôi bờ sông Ngân

    26/06/2008Cao Huy ThuầnNgày 29.5.2005, tại Paris, Pháp đã diễn ra buổi thảo luận bàn tròn, đề tài “Thế giới quan của Vật lý học hiện đại và Phật giáo”. Ý kiến của các nhà khoa học, Phật học và được trình bày một cách cởi mở. Nói cách khác, các nhà khoa học, Phật học đã trình diện ý kiến của mình. Trình diện để chia sẻ hiểu biết. Phải chăng đây là con đường đối thoại đúng đắn nhất mà chúng ta cần có hiện nay?
  • Cần một cuộc du nhập khoa học mới!

    15/05/2007Phạm Duy HiểnTrong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu vào quá trình toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết rất cần một bước đột phá về nhận thức trong giới khoa học và đại học về thực trạng đội ngũ khoa học để cấp thiết tiến hành một cuộc du nhập khoa học lần thứ hai nghiêm túc và bài bản hơn lần trước. Có như vậy khoa học & công nghệ mới có thể thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
  • Tôn giáo trước ngưỡng cửa khoa học

    02/01/2007Đức PhườngThuyết Sáng thế và Vũ trụ học không đơn thuần chỉ là quá trình tiến hóa sinh học đã đặt ra những thách thức trong quan điểm Thiên chúa giáo truyền thống. Những hiểu biết khoa học về quá trình tiến hóa của vũ trụ đã làm suy giảm đức tin tâm linh của con người...
  • Khoa học hiện đại và triết học

    24/09/2006Nguyễn Văn DũngThế giới ngày nay hiện ra như một tấm thảm rộng mênh mông làm bằng nhiều mảnh bị tung toé ra, không sao ghép lại một cáchkhoa họcđược,- điều không giốngnhư người ta nghĩ trước đây. Đầu thế kỷ chúng ta, khoa học đi chậm lại vì đường đi trước mắt không còn tỏ tường. Triết học đã làmcho con đường đó sáng lên. Khoa học đã nhìn thấy gốc của mình ở siêu hình học và từ đó nó vươn vai đứng lên mạnh mẽ như ngày hôm nay...
  • Buổi hoàng hôn của khoa học

    23/12/2005Phạm Việt HưngVấn đề giới hạn của nhận thức ngày càng trở thành quan trọng vì nó không chỉ là vấn đề của triết học, mà của chính khoa học, ảnh hưởng đến các định hướng nghiên cứu khoa học. Vào thời điểm bản lể chuyển từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, nó đã trở thành một trong các đề tài nghiên cứu khoa học được chú ý nhất.
  • Giới hạn của khoa học và khoa học về giới hạn

    17/12/2005Phạm Việt HưngTrong khi các nhà khoa học có xu hướng chứng minh rằng những cái tưởng là bất khả thực ra là khả, thì ngược lại các nhà triết học có cái nhìn sâu xa hơn rằng nhiều cái tưởng là khả hóa ra lại là bất khả. Từ đó Barrow làm một cuộc tổng kiểm kê các thành tựu nhận thức của nhân loại trong thế kỷ 20 để chỉ ra hàng loạt bài toán bất khả mà loài người đã từng phải trả giá cho thấy thực ra hiện tượng bất khả xuất hiện trên mọi lĩnh vực nhận thức, từ hội họa, nghệ thuật, đến kinh tế, khoa học, chính trị…
  • Các giới hạn khoa học

    12/12/2005Jean Fourastié, Đặng Mộng Lân dịch... tác giả đã chỉ ra các giới hạn kinh điển trong đó nêu rõ phần lớn thực tại cảm quan bị tuột khỏi lập luận thực nghiệm (bản chất của sự vận động khoa học) trước khi chuyển sang “Suy nghĩ về các giới hạn khác”...
  • Những vấn đề triết học của Điều khiển học

    13/11/2005Sự phát triển của điều khiển học chứng tỏ rằng các lĩnh vực tổng hợp của các khoa học là những điểm hết sức quan trọng của quá trình hình thành nên cái quan trọng của quá trình hình thành nên cái quan trọng có tính chất cơ bản và cái mới có tính chất nguyên tắc trong các tri thức về thế giới.
  • Cách mạng và Khoa học

    12/10/2005Cách mạng luôn đi trước và đặt ra nhiều vấn đề cần được tổng kết thành lý luận. Muốn phục vụ kịp thời cho cách mạng, công tác nghiên cứu khoa học cần được đẩy mạnh sao cho thấy được những yêu cầu đặt ra của cách mạng...
  • Khoa học và tôn giáo phụ thuộc lẫn nhau

    15/07/2005Đây là bản lược dịch bài Science & Religion are interdependent của nhà bác học Albert Einstein. Nó cũng đồng thời phản ánh rõ nhất quan điểm của nhà bác học về vấn đề Tôn giáo...
  • Chương I. Tinh thần khoa học

    14/07/2005
  • Cái vô hạn trong lòng bàn tay

    09/07/2005Minh BùiĐề cập đến hai cuộc đời, một của nhà vật lý thiên văn sinh ra đã là Phật tử - người mong muốn đem những hiểu biết khoa học của bản thân đối chiếu với những nguồn gốc triết học của mình, và một của nhà khoa học phương Tây trở thành nhà sư - người mà những kinh nghiệm cá nhân đã kích thích ông so sánh hai con đường nhận thức hiện thực khách quan đó.
  • Siêu Hình học: Tồn tại hay không tồn tại

    07/07/2005Tiến sĩ Đỗ Minh HợpMột trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học là tìm ra các nguyên tắc mới để hình thành một lập trường sáng tạo đối với truyền thống triết học và tiếp thu những thành tựu của tư tưởng triết học thế giới. Vấn đề siêu hình học, quan niệm vế siêu hình học luôn là một vấn đề trọng tâm và nan giải nhất của triết học, vì nó có liên quan mật thiết đến dự lý giải về triết học, về động thái của đối tượng triết học và về sứ mệnh của triết học trong văn hoá. Bài viết này của chúng tôi nhằm góp phần làm sàng tỏ vấn đề ấy.
  • xem toàn bộ