Bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo khái niệm, phạm trù

07:51 CH @ Chủ Nhật - 31 Tháng Mười Hai, 2006

Trong hệ thống triết học Mác - Lênin, học thuyết về phạm trù chiếm một vị trí khá quan trọng. Nó vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn to lớn, đồng thời, đóng vai trò nền tảng, cơ sở để xây dựng nên các nguyên lý, các quy luật của phép biện chứng duy vật. Chính vì vậy, khi nghiên cứu một nguyên lý, một quy luật nào đó, chúng ta phải bắt đầu từ việc tìm hiểu các phạm trù cấu thành của nó. Ví dụ, trước khi nghiên cứu nội dung của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, chúng ta phải tìm hiểu các phạm trù, như chất, lượng, độ, tác động, chuyển hoá... Như vậy có thể khẳng định rằng, các phạm trù đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình nhận thức. Tuy nhiên, từ trước đến nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng ta chưa quan tâm một cách thoả đáng đến vấn đề này trong lịch sử triết học nói chung và trong triết học Mác - Lênin nói riêng.

Trong bài viết này, chúng tôi cố gắng hệ thống hoá những ý kiến của các nhà kinh điển của triết học Mác xoay quanh vấn đề bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên các phạm trù.

Con dường biện chứng của nhận thức - nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó được bắt đầu từ việc xem xét hiện tượng một cách trực tiếp, tích cục, sáng tạo và dựa trên cơ sở thực tiễn. Theo đó, nhận thức không phải là một quá trình thuần tuý trừu tượng hay thuần tuý cụ thể. Nó là sự phản ánh vào ý thức những hoạt động thực tiễn của con người, dưới dạng ý niệm và biểu tượng. Vượt ra ngoài giới hạn của hoạt động thực tiễn sẽ không có quá trình nhận thức.

Trong Bút ký triết học, Lênin đã khắc họa một cách cô đọng bản chất của nhận thức. ông cho rằng, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan đi "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng trên thực tiễn". Theo quan điểm đó, nhận thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng giai đoạn cụ thể để từ đó rút ra kết luận về bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên các phạm trù.

Nhận thức cảm tính có được nhờ sự hoạt động của các giác quan nhận biết của con người, như thính giác, thị giác, xúc giác. Nó được tiến hành thông qua ba hình thức nhận biết quan trọng là cảm giác, tri giác, biểu tượng. Cảm giác là hình thức đầu tiên của sự phản ánh hiện thực khách quan và là nguồn gốc của tri thức. TheoLênin, cảm giác tư tưởng, ý thức là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức đặc biệt.

Cảm giác là một liên hệ trực tiếp của ý thức với thế giới bên ngoài, là sự biến thể, chuyển hoá của năng lượng tác động bên ngoài thành yếu tố của ý thức, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tri giác nảy sinh trên cơ sở phối hợp, bổ sung lẫn nhau của nhiều cảm giác, đưa lại cho chủ thể nhận thức sự hiểu biết tương đối đầy đủ hơn về đối tượng phản ánh. Biểu tượng là hình ảnh của đối tượng nhận thức với những thuộc tính, mối liên hệ nổi bật của nó được lưu giữ và tái hiện lại trong đầu óc chủ thể. Biểu tượng thể hiện năng lực ghi nhận, lưu giữ, tái hiện thông tin của bộ óc con người. Chính những thông tin này là những dữ liệu căn cứ làm tiền đề cơ bản cho việc hình thành các khái niệm, phạm trù.

Nhận thức cảm tính cung cấp những hiểu biết ban đầu về đối tượng nhận thức, nhưng những hiểu biết đó mới chỉ dừng lại ở những nét bề ngoài của đối tượng. Từ những tri thức trực quan, cảm tính bề ngoài đó, người ta chưa thể phân biệt hoặc xác định được cái bản chất và không bản chất, cái tất nhiên và ngẫu nhiên, tính phổ biến và cá biệt. Hơn nữa, nhận thức cảm tính luôn có giới hạn nhất định, vì sự hoạt động của các giác quan nhận biết không thể lan rộng ra ngoài ngưỡng của cảm giác. Trên thực tế, con người không thể nhìn thấy mọi không gian, màu sắc, nghe được mọi âm thanh, ngửi và nếm được tất cả mùi vị hay tiếp xúc được với những khối lượng cực lớn, cực nhỏ. Trong khi đó, nhiệm vụ của nhận thức là phải nắm bắt bản chất của đối tượng trong tính tất yếu và tính quy luật của nó. Để làm được như vậy, nhận thức phải chuyển lên một giai đoạn, trình độ cao hơn - nhận thức lý tính.

Nhận thức lý tính có được nhờ sụ hoạt động của tư duy trừu tượng, nó được tiến hành qua ba hình thức: khái niệm, phán đoán, suy luận.

Khái niệm là một hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của một lớp các sự vật hiện tượng nào đó. Nó là dữ liệu cơ bản tạo thành nội dung của ý thức, tư duy con người, đồng thời, là những viên gạch xây dựng nên lâu đài của tri thức khoa học nhân loại. Phán đoán là sự liên kết các khái niệm tạo thành một mệnh đề có cấu trúc ngôn ngữ chặt chẽ nhằm khẳng định hay phủ định một thuộc tính, mối liên hệ nào đó của hiện thực khách quan. Suy luận phản ánh quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biết đến việc nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp, dựa trên cơ sở sử dụng những tri thức đã có.

Nhiệm vụ của nhận thức lý tính là cải biến những tri thức cảm tính và kết quả là sáng tạo nên các khái niệm, phạm trù, quy luật, nguyên lý... Tất cả chúng là những trừu tượng khoa học phản ánh các mặt, các mối liên hệ bản chất, tất yếu của thế giới hiện thực. Nói cách khác, nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) mang lại cho chủ thể nhận thức những hình ảnh về bản chất của đối tượng nhận thức, thể hiện qua các khái niệm, phạm trù, quy luật... Trong Bút ký triết học, khi bàn về bản chất của nhận thức và cơ chế hình thành các khái niệm, phạm trù, quy luật, Lênin viết: "Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người. Nhưng đó không phải là một phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn chỉnh, mà là một quá trình cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự cấu thành, sự hình thành ra các khái niệm, quy luật etc... Con người không thể nắm được = phản ánh = miêu tả toàn bộ giới tự nhiên một cách đầy đủ,”tính chỉnh thể trực tiếp" của nó, con người chỉ có thể đi gần mãi đến đó, bằng cách tạo ra những trừu tượng, những khái niệm, những quy luật, một bức tranh khoa học về thế giới...".

Như vậy, theo Lênin, các khái niệm, phạm trù chính là sản phẩm của bộ óc con người, chúng đồng thời là hình thức phản ánh giới tự nhiên một cách khái quát, trừu tượng. Tuy nhiên, để hình thành các khái niệm, phạm trù, quá trình nhận thức phải trải qua những khó khăn, phức tạp nhất định. Sự phức tạp, khó khăn đó là ở chỗ:

1) Tư duy con người không thể bao quát hết toàn bộ bản chất của đối tượng, không theo sát một cách đầy đủ toàn bộ quá trình phát triển của nó, mà chỉ phản ánh đối tượng một cách cục bộ, đứt đoạn, chỉ tiếp cận được một số đặc điểm nào đó của nó. Vì vậy nếu không hiểu được tính chất này của nhận thức thì rất dễ rơi vào quan điểm siêu hình hoặc bất khả tri luận;

2) Nếu không hiểu đúng bản chất biện chứng của quá trình nhận thức thì chúng ta rất dễ sa vào quan điểm duy tâm, tuyệt đối hoá vai trò của khái niệm, phạm trù - coi chúng như là sản phẩm sáng tạo thuần tuý của tư duy, quy định sự vận động, phát triển của thế giới. Điều này đã được Ph.Ăngghen lưu ý trong Chống Đuyrin và Lênin nhắc lại trong Bút ký triết học.

Đặc điểm của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên các khái niệm, phạm trù

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức của con người có các đặc điểm sau:

1) nhận thức là quá trình tư duy con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất,

2) nhận thức tuân thủ nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể,

3) nhận thức cũng chính là sự trừu tượng hoá, khái quát hoá.

Việc phân tích các đặc điểm trên giúp chúng ta có thể luận giải vai trò của nhận thức đối với việc sáng tạo các khái niệm, phạm trù.

Nhận thức là quá trình tư duy con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất.

Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng, nhận thức cần phải đi từ cái cá biệt đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất. Bởi vì, có như vậy con người mới đạt tới sự hiểu biết đúng đắn, đầy đủ, chính xác về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng cũng như của thế giới khách quan nói chung. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật cũng cho thấy, trong thế giới, các sự vật, hiện tượng không phải tồn tại biệt lập với nhau, mà trong mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau, cái cá biệt chính là một bộ phận của cái phổ biến và ngược lại, cái phổ biến tự thể hiện mình thông qua cái cá biệt. Chẳng hạn, không thể hiểu được bản chất của một cá nhân nếu không tìm hiểu bản chất của những cá nhân khác, cũng như mối quan hệ của nó đối với cộng đồng.

Quá trình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất giúp con người có thể rút ra những đặc tính chung của một lớp sự vật, qua đó đúc kết thành các khái niệm, phạm trù. Mác đã vận dụng đặc điểm này của nhận thức để nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội loài người. Qua sự khảo sát tiến trình vận động, phát triển lịch sử của từng dân tộc (quốc gia) riêng biệt, từng thời đại riêng biệt, Mác đã đi tới việc thiết lập một hệ thống các phạm trù kinh tế - xã hội, như phương thức sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, hình thái kinh tế - xã hội, Nhà nước, cách mạng xã hội, giai cấp và đấu tranh giai cấp… Dựa trên hệ thống các phạm trù đó, Mác đã xây dựng nên những học thuyết khoa học về hình thái kinh tế xã hội, về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các học thuyết này chứa đựng những phạm trù, nguyên lý, quy luật chung làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu lịch sử của các dân tộc trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.

Đi từ trừu tượng đến cụ thể là cách cải biến về mặt lý luận khoa học những tư liệu của trực quan thành những khái niệm, phạm trù và là phương pháp vận động của tư duy đi từ một hiện tượng thực tế đã được ghi lại trong biểu tượng hết sức trừu tượng xác định của nó tới một hiện tượng khác thực tế đã có. Đi từ trừu tượng đến cụ thể chính là yêu cầu của logic biện chứng. Phương pháp đó cho phép chủ thể nhận thức thâm nhập vào bản chất của đối tượng nghiên cứu, hình dung được tất cả các mặt và quan hệ tất yếu của nó với thế giới xung quanh. Theo nguyên tắc này thì nhận thức phải bắt đầu từ cái cụ thể cảm tính, từ các đặc tính hay khái niệm trừu tượng phản ánh những mặt, những quan hệ chung đơn giản nhất của khách thể nhận thức, rồi từ đó đi đến cái cụ thể trong tư duy, tức là những khái niệm, phạm trù chung nhất.

Bộ bản của Mác là một ví dụ điển hình của việc quán triệt, áp dụng nguyên tắc nhận thức này. Trong đó, Mác bắt đầu từ chỗ phân tích những đặc tính đơn giản nhất, trừu tượng nhất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, như hàng hoá, giá trị, tiền tệ... để đi đến nhận thức bản chất của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, cũng như cách thức nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân như một hàng hoá, Trên cơ sở nghiên cứu phạm trù lao động xã hội, ông đã phát hiện ra:

1) Mối quan hệ giữa người và người ẩn nấp đằng sau mối quan hệ giữa hàng hoá - giá trị - giá cả.

2) Bản chất bóc lột sức lao động của nhà tư bản,

3) Sự tha hoá lao động và mâu thuẫn giữa tư bản và lao động.

Trừu tượng hoá và khái quát hoá là một năng lực quan trọng của tư duy con người, là công cụ hữu hiệu giúp con người có thể sáng tạo nên những sản phẩm tinh thần kỳ diệu, trong đó có các khái niệm, phạm trù. Nhờ có năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá, tư duy con người có thể bỏ qua những cái ngẫu nhiên, không cơ bản của đối tượng nhận thức để tách cái chung khỏi cái riêng, cái bản chất khỏi cái hiện tượng, cái tất yếu khỏi cái ngẫu nhiên. Chính cái chung, cái bản chất, cái tất yếu đó là cơ sở để thiết lập nên các khái niệm, phạm trù. Với nghĩa như vậy, Mác viết: "...khi mọi sự vật, được trừu tượng đến cùng... thì người ta sẽ ới đến chỗ có được những phạm trù logic...".

Sự khái quát hoá cho phép tư duy con người tìm thấy cơ sở, sự liên hệ thống nhất nội tại, tính quy luật của các đối tượng. Kết quả của sự khái quát được lưu lại trong các khái niệm, phạm trù.

Nhờ có tư duy biện chứng sâu sắc cũng như năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá cao, Lênin đã xác định một cách khoa học nội hàm của phạm trù vật chất. Dựa trên sự khảo sát các sự vật, hiện tượng phong phú của hiện thực khách quan, từ thế giới vi mô đến thế giới vĩ mô, từ vô cơ đến hữu cơ, từ tự nhiên đến xã hội, ông đã khái quát nên định nghĩa nổi tiếng về vật chất: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thục tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác". Theo đó, vật chất không phải là một yếu tố, thực thể cụ thể, như nước, lửa, không khí, đất hay nguyên tử... mà là tổng thể các yếu tố đó, là toàn bộ thực tại khách quan với đặc trưng là khi tác động vào giác quan nhận biết của con người thì gây nên cảm giác. Vật chất là phạm trù có ngoại diên rộng nhất, bao quát toàn bộ mọi dạng tồn tại hiện thực của nó. Định nghĩa này của Lênin có một ý nghĩa phương pháp luận to lớn. Nó đã vượt xa các quan niệm về vật chất trước đó, giúp chúng ta phản bác lại các quan điểm siêu hình, bất khả tri và duy tâm chủ quan.

Cũng với cách thức như vậy, Lênnin đã thiết lập phạm trù giai cấp. Theo ông, giai cấp là những tập đoàn người to lớn, khác nhau về bốn điểm cơ bản sau:

1) Địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định,

2) Quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất,

3) Vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và quản lý sản xuất,

4) Phương thức thu nhập của cải do lao động xã hội làm ra.

Bằng phương pháp trừu tượng và khái quát hoá, Lênin đã giúp chúng ta nắm bắt được những đặc tính chung, cơ bản nhất, những dấu hiệu phổ biến, ổn định của giai cấp, dù đó là các giai cấp trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến hay trong xã hội tư bản hiện đại.

Tóm lại, sự hình thành các khái niệm, phạm trù gắn bó hữu cơ với quá trình nhận thức. Nhờ đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất, từ trừu tượng đến cụ thể, nhờ có năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá mà tư duy con người có thể sáng tạo nên các hình thức phản ánh thế giới một cách gián tiếp, với mức độ khái quát và trừu tượng hoá cao đó chính là các khái niệm, các phạm trù triết học (hay logic học). Những phân tích trên đã cho chúng ta thấy vai trò to lớn của nhận thức con người trong việc sáng tạo nên các khái niệm, phạm trù.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Tiếp cận một số vấn đề về nhận thức khoa học

    07/01/2015TS. Bùi Mạnh HùngLý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức cũng như về con đường, phương pháp nhận thức…Từ trước đến nay,vấn đề nhận thức luôn là một trong những bộ phận cơ bản của khoa học triết học. Hiện tại, vấn đề nhận thức khoa học vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và phát triển nhằm giúp cho con người ngày càng hoàn thiện hơn những tri thức của mình về bức tranh thế giới hiện thực..
  • Giới hạn của nhận thức

    23/09/2014Đỗ Kiên Cường“Tự nhiên như người đàn bà ưu làm đỏm, khi thì phơi bày phần này, khi thì phơi bày phần khác trên cơ thể của mình. Và người chiêm ngưỡng kiên nhẫn đến một lúc nào đó sẽ nhìn thấy tất cả”. Đầu thế kỷ XIX, nhằm ca ngợi khả năng vô hạn của nhận thức, nhà khoa học Pháp lừng danh, hầu tước Laplace (1749-1827), được người đương thời xem là có đóng góp khoa học chỉ sau Newton, đã thốt lên nhận định bất hủ như vậy. Hỏi còn gì ve vuốt trí tuệ loài người hơn?
  • Cái trừu tượng và cái cụ thể trong nhận thức

    27/12/2006Phạm Văn DươngTrong nhận thức, cái trừu tượng và cái cụ thể luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng tạo thành một quan hệ xác định, trong đó cái trừu tượng là hình tái tồn tại phiến diện của cái cụ thể, còn cái cụ thể lại là cái toàn vẹn hơn, đa dạng hơn cái trừu tượng. Cái trừu tượng gián đơn hơn, cô đọng hơn cái cụ thể. Còn cái cụ thể phong phú hơn, phức tạp hơn...
  • Tìm hiểu logic của sự hình thành khái niệm

    10/12/2006Trần Thị Ngọc AnhĐây là một vấn đề mà người nghiên cứu phải đặt ra khi muốn đi đến cội nguồn của một khái niệm nào đó và sử dụng nó có hiệu quả trong quá trình tư duy và hoạt động thực tiễn...
  • Tiêu chuẩn logic trong nhận thức chân lý

    01/01/1900Nguyễn Khắc ChươngCó thể nói, bằng sự tổng kết toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của nhận thức, Hêgen đã xác định rõ trình độ của mỗi giai đoạn nhận thức và vai trò của các học thuyết logic: "Phép biện chứng: phép biện chứng bên ngoài, sự suy luận không đâu vào đâu, mà trong đó linh hồn của bản thân sự vật không được hoà tan.
  • Phạm trù “hệ thống” trong lịch sử triết học

    24/11/2006Nguyễn Ngọc KháKhái niệm "hệ thống” đã được các nhà triết học trong lịch sử quan tâm xem xét, song chỉ đến khi triết học Mác ra đời mới mang lại cho nó một quan niệm thật sự khoa học. Đặc biệt, hiện nay "hệ thống” được coi như một phạm trù triết học có nội dung phong phú, mang ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn...
  • Góp phần tìm hiểu các khái niệm sự vật và thuộc tính

    14/11/2006Nguyễn Ngọc HàTrong hệ thống các khái niệm của phép biện chứng duy vật, mỗi khái niệm có một vị trí xác định. Nếu các khái niệm của khoa học này được sắp xếp theo thứ tự từ rộng đến hẹp, thì vị trí đầu tiên là khái niệm vật chất và kế tiếp theo sẽ là hai khái niệm sự vật và thuộc tính: bởi vì trong hiện thực khách quan không có cái gì khác ngoài các sự vật và các thuộc tính (tính quy định) của chúng...
  • Vai trò định hướng của triết học trong nhận thức và giải quyết trong những vấn đề toàn cầu ở thời đại hiện nay

    01/11/2006Đặng Hữu Toàn...giờ đây, khi nhân loại đã thực sự bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên toàn cầu, nhiều vấn đề trong song vẫn tiếp tục phát triển với mức độ ngày càng gay gắt hơn. Trong bối cảnh đó, vai trò định hướng của triết học đối với sự nhận thức và giải quyết những vấn đề toàn cầu của thời đại càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Triết học với các chức năng vốn có chuẩn mực, phê phán, định hướng, tiên đoán khoa học và tổng hợp tri thức không chỉ đem lại cách tiếp cận phức hợp, liên ngành trong việc nhận thức bản chất, xu hướng vận động và phát triển của những vấn đề toàn cầu,
  • Vận động, phát triển, tiến bộ với tư cách là những phạm trù triết học

    28/09/2006Phạm Văn ĐứcCác phạm trù "vận động", "phát triển”, ‘tiến bộ" là những phạm trù cơ bản, phạm trù "tế bào" của phép biện chứng duy vật. Chính vì vậy trên sách báo triết học mấy chục năm gần đây, đặc biệt từ những năm 60 đến những năm 80 của thế kỷ này ở Liên Xô đã diễn ra cuộc tranh luận sôi nổi về các vấn đề xung quanh các phạm trù vận động, phát triển, tiến bộ...
  • Khái niệm với tính cách một vấn đề triết học

    20/09/2006Bùi Thanh QuấtKhái niệm là một trong số những thuật ngư được sử dụng rộng rãi trong sách báo khoa học. Chúng ta cần phải biết "Khái niệm là gì?”. Câu hỏi, Khái niệm là gì? trước hết là câu hỏi của triết học. Vấn đề triết học này tuy đã được đặt ra và phân tích trong các sách giáo khoa về logic học, lý luận nhận thức, phép biện chứng, nhưng hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau....
  • Vị trí, ý nghĩa của phạm trù đời sống tinh thần xã hội trong chủ nghĩa duy vật lịch sử

    02/10/2006Phùng ĐôngViệc vận dụng vấn đề cơ bản của triết học - mối quan hệ giữa tinh thần và tự nhiên, giữa ý thức và vật chất vào lĩnh vực xã hội không chỉ làm xuất hiện vấn đề mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, mà còn làm xuất hiện vấn đề mối quan hệ giữa đời sống tinh thần xã hội và đời sống vật chất xã hội...

  • Về cặp phạm trù “cái phổ quát - cái đặc thù - cái đơn nhất” trong phép biện chứng của Hegel

    27/08/2006TS. Phạm Chiến KhuĐối với các nhà triết học cũng như những người quan tâm đến triết học, hầu như không có cặp phạm trù nào trong phép biện chứng của Hegel lại dễ bị hiểu sai và xa lạ như cặp phạm trù "cái phổ quát - cái đặc thù - cái đơn nhất"...
  • Tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn trong nhận thức chân lý

    27/07/2006Nguyễn Khắc ChươngTriết học Mác - Lênin đã khẳng định tiêu chuẩn khách quan, duy nhất để xác định tính chân lý của tri thức, của sự nhận thức con người là thực tiễn, là hoạt động nhằm cải tạo và biến đổi thế giới của con người. Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý, song tiêu chuẩn thực tiễn đó vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối với tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn là thế nào và nó có quan hệ ra sao với tính tuyết đối của tiêu chuẩn thực tiễn...
  • Những đặc trưng cơ bản của phạm trù quy luật

    08/04/2006Phạm Văn ĐứcNgười ta thường xác định nhiệm vụ của khoa học là tìm ra những quy luật của các hiện tượng trong lĩnh vực mà nó nghiên cứu. Những vấn đề liên quan đến phạm trù quy luật, suốt một thời gian dài, tưởng chừng đã được giải quyết xong xuôi, nhưng hiện nay lại nổi lên như một vấn đề có tính thời sự đặc biệt...
  • Cần có cách nhìn mới đối với khái niệm “Bóc lột”

    02/03/2006Nguyễn Sĩ PhươngSự chuyển đổi từ nền kinh tế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị trường buộc chúng ta phải có cách nhìn đổi mới với khái niệm “bóc lột" - một khái niệm có liên quan chặt chẽ cả về lý luận lẫn thực tiễn với một số vấn đề kinh tế và xã hội rất cơ bản hiện nay do thực tế đặt ra cần phải giải quyết...
  • Vài nét về hệ thống phạm trù trong triết học Arixtốt

    15/01/2006Nguyễn Văn DũngArixtốt là người đầu tiên đã đưa ra một hệ thống các phạm trù. Đây là điểm khởi đầu cho tất cả các học thuyết tiếp theo về phạm trù. Hệ thống phạm trù của Arixtốt là sự khái quát và kế tục những thành quả của toàn bộ nền triết học Hy Lạp cổ đại giai đoạn trước ông. Nó chiếm một vị trí rất quan trọng trong lịch sử triết học và ngày nay nhiều phạm trù của nó vẫn còn giữ nguyên giá trị bởi vì đó là những phạm trù cơ bản nhất trong tư duy của nhân loại...
  • Một số khái niệm và định nghĩa về quá trình ra quyết định

    23/12/2005Trương Thu HàQuyết định cũng phải lưu ý đến các tác dụng phụ hoặc các lợi thế gián tiếp.
    Một quyết định nếu như chỉ hoàn hảo về mặt kĩ thuật mà lại không có tính xã hội thì sẽ không hiệu quả. Chỉ có những quyết định đựơc thực hiện một cách cẩn thận và tỉ mỉ thì mới có hiệu quả như cách chúng được mong đợi.
  • Phạm trù quy luật trong lịch sử triết học phương Tây

    21/12/2005Phạm Văn Đức, NXB Khoa học xã hội...để có thể tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, chúng ta không thể biết cái gì có thể được coi là quy luật trước, khi đi vào xác định một cách cụ thể những quy luật hiện đang tác động thực sự ở đất nước ta mà chúng ta phải tôn trọng và làm theo. Nói cách khác, việc tìm hiểu bản thân phạm trù "quy luật", lịch sử nhận thức nó, cũng như những vấn đề hiện đang được đạt ra xung quanh phạm trù ấy là bước đi không thể thiếu được trong quá trình đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.
  • Về Tự do với tư cách phạm trù của triết học xã hội

    19/11/2005Đinh Ngọc ThạchToàn bộ kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ rằng, tự do là giá trị thiêng liêng và là đặc tính bản chất của con người, là cơ sở bản thể luận của đời sống...
  • Tìm hiểu thêm về khái niệm tư duy

    19/10/2005Phạm Hồng QuýTư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý luận nhận thức. Lôgíc học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng. Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người .Điều khiển học nghiên cứu tư duy để có thể tạo ra "Trí tuệ nhân tạo". Tâm lý học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức...
  • xem toàn bộ

Nội dung khác