Chuyện về chiếc ghế tràng kỷ

08:53 SA @ Thứ Tư - 16 Tháng Mười Hai, 2009

Một ngày mùa đông, bầu trời âm u như không giúp cho người ta suy nghĩ nữa đừng nói đến việc làm gì đó cho có hưng phấn. Vô tình, tôi cầm cuốn sách “Truyện cổ Nhật Bản” của con gái học cấp II do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2007. Đọc lời giới thiệu ở trang đầu tôi giật mình vì có đoạn viết: “Thực ra, việc giới thiệu truyện Cổ tích Thế giới ở Việt Nam đã được làm cách đây cả trăm năm, một trong những người tiên phong là Học giả Nguyễn Văn Vĩnh”. Tôi tâm đắc với ý nêu trong sách vì 5 năm trước đây khi đọc báo Quân đội Nhân dân ra ngày Chủ nhật 28/11/2004 có đề mục “Nhân 85 năm đưa chữ quốc ngữ vào dạy cấp tiểu học ở Việt Nam” tôi mới biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai?! Liên quan gì đến tiếng mẹ đẻ của chúng ta đang dùng. Tôi quyết định đi tìm và hỏi thăm các Nhà sử học có danh tiếng như: GS. Đinh Xuân Lâm, GS.Phan Huy Lê, Nhà Sử học Dương Trung Quốc và nhiều nhiều các Nhà Khoa học khác nữa. Tất cả đều xác nhận: “Năm 1919, Triều đình nhà Nguyễn chính thức quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy cấp Tiểu học ở Việt Nam, trước đó các trường học đều dạy cho học sinh Hán văn và một phần Pháp văn. Mãi đến năm 1924, Triều đình nhà Nguyễn mới ban hành quyết định lấy chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ chính trong giao dịch hành chính xã hội”. Chao ơi, hoá ra thứ chữ mà chúng ta đang viết, đang dùng làm nền tảng cho nền Văn hoá của một Dân tộc đến nay mới tròn 90 tuổi.

Được sự giới thiệu của các nhà Khoa học, tôi đã tìm được Gia tộc của Học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Thật là hạnh phúc vì tôi đã đến đúng địa chỉ, đó là người cháu nội của Học giả - anh Nguyễn Lân Bình. Tôi đã choáng ngợp khi tận mắt chứng kiến kỷ vật (có lẽ là duy nhất ở Việt Nam) của Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đó là đôi ghế tràng kỷ. Vậy, đôi ghế này liên quan gì đến 90 tuổi đời của chữ Quốc ngữ, tiếng mẹ đẻ của chúng ta, những người Việt Nam, những người dân của một quốc gia có cả nghìn năm lịch sử chống ngoại xâm, một đất nước bị hầu hết các đế quốc lớn trong lịch sử nhân loại tìm cách thôn tính, song Việt Nam vẫn tồn tại và ngày càng trở nên đáng quan tâm trong con mắt của cả Thế giới bao la. Thật hãnh diện và không thể không xúc động nếu bất cứ ai trong chúng ta để tâm đến sự thật này! Trong suốt cuộc đời đi học, biết đọc tôi hoàn toàn tin rằng tất cả các cuộc chiến tranh, các cuộc xung đột giữa Quốc gia này với Quốc gia khác, giữa Dân tộc này với Dân tộc khác, cái cuối cùng phải thôn tính để giành được kết quả tuyệt đối đó là Văn hóa. Nhận thức này càng làm tôi tâm đắc với Học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Khi tìm hiểu kỹ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của ông, quả thật nó quá lớn, quá nhiều vấn đề để quan tâm và suy ngẫm… có lẽ việc này xin để dành cho các nhà Khoa học, những trí thức và những người làm công tác Văn hoá Lịch sử nói rõ hơn. Tôi chỉ xin mạo muội nói đến đôi tràng kỷ, kỷ vật của Học giả Nguyễn Văn Vĩnh nhân 90 năm người Việt Nam được học và viết tiếng mẹ đẻ.

Đôi tràng kỷ có hình thức nghệ thuật của Văn hoá Phong kiến, được làm từ gỗ gụ, 4 chân dáng bàn chân voi. Đáng quan tâm nhất là 2 câu chuyện ngụ ngôn của Nhà viết truyện Thơ Ngụ ngôn người Pháp từ thế kỷ 17 – Laphongten. Hai câu chuyện được khảm lên trên ghế bằng một loại vật liệu thông thường mọi người gọi là xà cừ (vỏ trai hoặc vỏ ốc). Thích thú nhất là việc 2 câu chuyện được tóm tắt và viết bằng tiếng Việt, dưới mỗi đoạn tóm tắt dòng chữ khảm rất rõ: “Truyện thơ Ngụ ngôn Laphongten - diễn Quốc văn”, dưới nữa đề rõ tháng 12/1919, ký tên “Vĩnh”.

Câu truyện thứ I: Con Cáo và Con Cò

Truyện miêu tả cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Cò và Cáo trong bối cảnh do lúc ăn Cáo bị mắc xương trong họng, thấy Cò bay qua có mỏ dài Cáo ra hiệu xin được giúp đỡ bằng cách dùng cái mỏ dài ghắp miếng xương trong họng. Cò đắn đo nhưng đồng ý vì xét ra cũng chẳng nặng nhọc gì. Cáo cam kết: “Giúp tôi đi rồi tôi sẽ trả công anh!” Cò thực hiện nhanh chóng. Thoát nạn, Cáo lại trở lại nhanh nhẹn, Cò hỏi: “Vậy anh trả công tôi thế nào đây?” Cáo sừng sộ: “Mày hãy nhớ, mấy phút trước cả đời mày nằm trong họng tao, tao đã tha không ăn thịt mày, giờ lại còn muốn công với xá!!! Có cút ngay đi không! Cò hoảng hốt vỗ cánh bay lên cao…”

Thật ghê tởm! Có lẽ chẳng vô cớ Học giả Nguyễn Văn Vĩnh đưa câu chuyện khảm lên chiếc ghế này. Ai biết Nguyễn Văn Vĩnh đều hiểu rằng ông là người Việt Nam đầu tiên dịch các tác phẩm Văn học hiện đại của Văn học Pháp ra tiếng Việt. Theo các tài liệu góp nhặt được, Nguyễn Văn Vĩnh làm thông ngôn từ lúc 15 tuổi cho Toà sứ Lào Cai, đó là năm 1897-1898. Hẳn Nguyễn Văn Vĩnh coi trọng lắm lắm lòng biết ơn trong quan hệ cuộc sống giữa con người nên ông đã nhắc đến câu chuyện này trên kỷ vật của mình.

Câu truyện thứ II : Chó rừng và Chó nhà

Truyện kể lại rằng có một ngày dài, chó Rừng không kiếm được gì ăn bèn lân la đến rìa một ngôi làng của người sinh sống. Đang lang thang, chó Rừng gặp 1 chó Nhà cũng thẩn thơ nơi bìa làng. Chó rừng thảng thốt nhận thấy sự béo tốt và khoẻ đẹp của chó Nhà bèn mạnh dạn lại gần trò chuyện: vì sao cũng là chó mà cậu khoẻ đẹp thế, còn tôi thì gầy gò thế này. Chó Nhà đáp cậu có muốn được như tôi không, dễ lắm. Chó Rừng sung sướng hỏi tiếp vậy phải làm thế nào, chó Nhà nói: cứ đi theo tôi thì biết. Chó Rừng theo chó Nhà một hồi lâu bỗng phát hiện thấy trên cổ chó Nhà có cái khoanh, chó Rừng dừng lại và hỏi: “Đây là cái gì?”, chó Nhà đáp chân thành: “Thực thì tôi sống rất sướng, mưa không tới mặt, nắng không tới đầu, dăm bữa, nửa tháng nhà chủ lại có giỗ chạp, xương ăn không hết… có điều thỉnh thoảng ông chủ lại xích vào đây”, chỉ vào cái khoanh trên cổ. Vừa nghe xong, chó Rừng cắm đầu chạy không ngoảnh lại, trong đầu nghĩ: “Thôi thôi mặc bữa no say, ngàn vàng hồ dễ sánh tày thảnh thơi!”.

Như vậy, không thể không nhận thấy rằng hai câu chuyện mà Học giải Nguyễn Văn Vĩnh khảm lên đôi ghế chắc chắn phải là sản phẩm của một thứ tư duy sâu sắc. Còn gì bằng sự tự do, sự biết ơn ở đời cũng là đạo lý.

Ánh sáng lung linh được phản chiếu từ những miếng xà cừ càng xoáy vào suy nghĩ của tôi. Vậy là, nhờ có chữ viết mẹ đẻ mà từ cả trăm năm trước những người Việt Nam bình thường nhất cũng có thể tiếp cận được với tinh hoa Văn hoá của Nhân loại, đặc biệt trong Văn học Pháp. Tinh hoa Văn hoá không bao giờ là của riêng ai, hay riêng một Dân tộc nào, hay riêng một Quốc gia nào. Biết ơn Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, cám ơn những cống hiến của ông trong ngôn ngữ, Văn học và Văn hoá nước nhà.

Để kết thúc bài viết đơn giản này, xin trích đoạn đầu bài viết của cụ Nguyễn Văn Tố nói về con người và sự nghiệp của Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên tạp chí “Tin tức - Hội Tương tác Giáo dục Đông kinh”, Cuốn số 16: số 1 và 2, từ tháng Giêng đến tháng sáu năm 1936 như sau :

“Ngày 1 tháng 5 vừa rồi, khi học giới nước Nam bị cướp đi mất một Nguyễn Văn Vĩnh mà họ vô cùng trọng vọng, không chỉ các đồng nghiệp và đồng liêu, bè bạn và học trò, mà có thể nói rằng tất cả những ai ở Đông Dương gắn bó hoặc quan tâm đến phong trào tư tưởng của người nước Nam đều xúc động sâu xa. Bởi vì ngay lập tức tất cả mọi người cảm thấy rằng một chút gì thuộc về cái Thiện và cái Dũng đã vừa tắt theo con người có khí chất mạnh mẽ và cao cả ấy. Vậy mà, con người được tiếc thương nhường ấy đâu có phải là một trong những kẻ sáng tạo ra những tư tưởng đã làm đổi thay nếp suy nghĩ và nếp cảm nhận của cả một thế kỷ hoặc cả một dân tộc. Điều được biểu hiện nơi con người ấy một cách tuyệt vời chỉ là một phương pháp; chưa kể là cái phương pháp ấy ông cũng chẳng nghĩ ra; nhưng, nhờ ở cả một tập hợp những phẩm chất cao quý và đa dạng, cùng lúc ông phát triển và hoàn thiện cái phương pháp kia, thì ông cũng dùng nó để không ngừng tạo ra những kết quả mới, như thể ông đã khiến cho phương pháp ấy thấm nhuần tính cách con người ông, và qua đó ông đã gửi được vào chính phương pháp ấy cả một vẻ đẹp. Đồng hóa sâu xa và áp dụng sáng tạo một phương pháp đến thế, – trong cách làm căn bản là vận động để quảng bá chữ quốc ngữ và tìm cách cho "người Pháp am hiểu tâm hồn người Nam và người Nam am hiểu tinh thần người Pháp", – đó là công lao thực sự đặc biệt của ông … Trong ba mươi năm, hành động nói và viết của Nguyễn Văn Vĩnh đã hầu như không ngừng vang lên với những ai tò mò muốn biết về nền văn học Pháp và về gương mặt thật của nước Pháp. Sự quảng bác và sự mềm dẻo của một trí thông minh ngoại cỡ của đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh chúng ta hẳn đã làm nên một ảnh hướng lớn tới nhiều thế hệ người học, và thông qua những bài viết cùng những dịch phẩm của ông, thì lại ảnh hưởng tới vô số đồng bào người nước Nam ta; nhưng có lẽ đóng góp còn lớn hơn nữa khiến cho ảnh hưởng này thêm tác động và thêm phong phú, đó là tính cách của chính con người ấy, đó là nhiệt tình trong tâm hồn ông và sự nhân hậu đến vô cùng của ông. Những đức độ ấy, mà nếu thiếu chúng thì một ông thầy dù giỏi giang uyên bác tới đâu cũng vẫn không kham nổi sứ mệnh, Nguyễn Văn Vĩnh lại có và sở hữu chúng ở một mức độ cao.”

Hà Nội, tháng 12 năm 2009

Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Tật huyền hồ lý tưởng

    05/02/2021Nguyễn Văn VĩnhXét trong văn chương nước Nam, điều gì cũng toàn huyền hồ giả dối hết cả, không có cái gì là thực tình. Người làm thơ thì ngâm những cảnh núi Thái Sơn, sông Hoàng Hà, giời cao, bể rộng. Núi Tản Viên, sông Nhị Hà sờ sờ trước mắt, thì cảnh không ứng bao giờ. Có cao hứng mà vịnh đến thì cũng phải viện đến cái gì ở đâu xa, chưa biết, chưa trông thấy.
  • Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh

    19/07/2017Nguyễn Đình ChúNguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí – Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai Cụ. Chẳng biết, sinh thời, hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm.
  • Chân dung thật của học giả Nguyễn Văn Vĩnh

    06/06/2017Anh VũBộ phim tài liệu- dài gần bốn tiếng đồng hồ chiếu liền một mạch -“Mạn đàm về người man di hiện đại”, cố gắng xây dựng một chân dung thật minh oan cho học giả Nguyễn Văn Vĩnh, người từng bị cho là tay sai, bồi bút cho thực dân Pháp hơn nửa thế kỷ qua.
  • Thói tệ

    14/04/2016Nguyễn Văn VĩnhMấy năm nay ở Hà–nội tự dưng thành ra một thói tệ, là khi có đám cháy trong thành–phố, thì nhà nào nhà ấy đóng chặt cửa lại, còn người đi qua đi lại thì chạy trốn. Sự đó bởi sao?
  • Chí tiên phong

    23/03/2016Dương Trung QuốcCuối thế kỉ XX, người ta mới bắt đầu nói đến “ Nền kinh tế tri thức”, nhưng trên thực tế, cách đây hàng thế kỉ nước ta đã có một nhân vật danh tiếng cả trong đời sống kinh tế và văn hóa, ông xứng đáng được gọi là người tiên phong đi vào “nền kinh tế tri thức”, đó là Nguyễn Văn Vĩnh.
  • Nguyễn Văn Vĩnh, một người Nam mới đầu tiên

    17/09/2014Đỗ Lai ThúyBạn tôi nói, làm một người Việt Nam mới bây giờ đã khó thì làm một người Nam mới (Tân Nam tử) như Nguyễn Văn Vĩnh hồi đầu thế kỷ XX hẳn khó hơn nhiều. Đúng vậy. Vào những năm đầu thế kỷ trước, Việt Nam chủ yếu vẫn là một xã hội quân chủ nông nghiệp Nho giáo. Người Việt Nam, kể cả tầng lớp có học bấy giờ, vẫn phải sống thân phận thần dân nhiều trói buộc. Đâu có được như ngày nay: đất nước thì đổi mới và mở cửa; thế giới thì ngày một trở nên phẳng; con người thì đang dần là công dân trái đất! Nhưng, có lẽ, thời ấy bộ phận trí thức hình như có quyết tâm đổi mới xã hội cao lắm thì phải. Và, một điều nữa cũng quan trọng không kém: họ là những cá nhân có tài năng.
  • Một trường học yêu nước đầu tiên ở Hà Nội

    10/09/2013Nguyễn Vinh PhúcTừ giữa năm 1906 dân phố Hàng Đào thấy các nhà nho có tên tuổi như phó bảng Hoàng Tăng Bí, cử nhân Dương Bá Trạc, tú tài Lê Đại, huấn đạo Nguyễn Quyền... thường xuyên lui tới nhà cụ cử Lương Văn Can ở số nhà 4. Lại có cả các vị thanh niên Tây học danh tiếng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Bùi Đình Tá... cũng có mặt. Chẳng biết họ bàn việc gì song ai nấy đều đoán là liên quan đến "quốc sự" rồi.
  • Chữ Quốc ngữ

    28/10/2009Nguyễn Văn VĩnhTrước hết chữ quốc-ngữ không biết bởi ai mà thành ra, nhưng quyết được rằng những người dùng đầu-tiên, không phải là người Đại-pháp. Ý hẳn là bởi mấy ông cố-đạo Bồ-đào-nha đến đất Nam-kỳ từ đầu XVII thế-kỷ, cho nên nhiều vần không giống vần Đại-pháp.
  • Về một hậu duệ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh

    13/10/2009Nguyễn ThiêmĐể có bộ phim dài 4 tiếng ấy, nhóm làm phim đã quay tới 1.500 phút ở Hà Tây, Hà Nội, Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Lào và đi tới 5 thành phố ở Pháp.
  • Hội dịch sách

    23/09/2009Nguyễn Văn VĩnhỞ thế–dan này, xem trong các nước, phàm nước nào đã gọi là nước văn–minh, là cũng có văn–chương riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế. Mà cái văn–minh người ta cũng ở đó mà ra, vì chữ có là ảnh tiếng nói thì mới dùng để chuyền sự hay đi trong nước ai ai đều học được cả.
  • Học giả Nguyễn Văn Vĩnh: Ta tắm ao ta

    21/08/2009Hoàng NguyênHiếm có người tự cầm tóc mình nâng mình lên cao hơn thời đại mà mình đã sống. Nguyễn Văn Vĩnh cũng nằm trong thói thông thường này. Có điều, những việc mà ông đã làm được vì dân, vì nước, dẫu không phải lúc nào cũng "mười phân vẹn mười" nhưng rất đáng trân trọng. Ông đã tạo được những cú hích để thúc đẩy thời đại của mình tiến lên, hướng tới văn minh nhân loại mà vẫn giữ vững cốt cách nước Nam "ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn".
  • Tiếng An-nam

    20/08/2009Nguyễn Văn VĩnhLại còn một điều khẩn–yếu, là muốn cho văn quốc–ngữ thành văn–chương hay, khỏi mang tiếng nôm na mách qué, cách đặt câu, cách viết, phép chấm câu, phải dần dần đặt cho thành có lệ có phép; mà lệ phép thì phải theo ý nhiều người đã thuận, chớ đừng ai tự đắc lối của mình là phải, đem ý riêng ra sửa đổi thói quen. Phải nhớ câu: phàm ngôn–ngữ nước nào cũng vậy, dầu tài thánh trạng một người cũng chẳng làm ra được.
  • Nguyễn Văn Vĩnh- Một trong những người tiên phong hoàn thiện chữ Quốc ngữ

    06/08/2009Nguyễn Lân BìnhCông bằng với Lịch sử là việc cần làm, điều này ai cũng hiểu. Tôi xin mạnh dạn nêu những hiểu biết của mình thông qua những ký ức bằng chữ của nhà Văn, nhà Báo, nhà Tình báo Cách mạng lão thành Vũ Bằng; người được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 2006, tác giả cuốn sách “Bốn mươi năm nói láo” do Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2001.
  • Thiếu gạo ăn thừa giấy đốt

    04/08/2009Nguyễn Văn VĩnhThờ một ông Thánh, nghĩa là làm để cho lưu cái danh ông ấy lại, chứ không phải chiệu hồn ông ấy về, ăn miếng thịt quay, uống ba chén riệu, rồi khấn ông ấy điều gì cũng được đâu.
  • Ma to dỗ nhớn

    30/07/2009Nguyễn Văn VĩnhPhong tục An–nam mình, nhiều điều thật không có nghĩa lý gì. Như có bố mẹ lên lão, hoặc mình đi thi đỗ, cưới vợ, làm nhà, được làm quan, thăng hàm, mà ăn mừng thì còn có nhẽ; nhưng bố mẹ chết, mà mổ trâu mổ bò, mời làng mời nước, biếu–sén hàng sóm láng giềng, thì còn có nghĩa gì nữa ?
  • Dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh - chiếc cầu nối văn hóa Đông Tây

    28/07/2009Hoàng TiếnNền văn hóa phương Tây, ta chỉ mới làm quen độ hơn trăm năm nay. Những người có công bắc chiếc cầu nối để ta hiểu phần nào nền văn hóa phương Tây, cũng như để người phương Tây phần nào hiểu nền văn hóa Việt Nam, là lớp trí thức hồi đầu thế kỷ, mà ông Nguyễn Văn Vĩnh là người đáng được ghi công đầu.
  • Sự ra đời của chữ quốc ngữ - Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh

    24/07/2009Nguyễn Đình ĐăngTôi đã vẽ bức tranh “Sự ra đời của chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh” với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nói trên của dân tộc Việt Nam - Alexandre de Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh.
  • Nguyễn Văn Vĩnh, người đi tìm giá trị văn hoá

    21/07/2009Nhà văn Nguyễn Quang ThânCon người suốt đời săn tìm những giá trị văn hoá đã vỡ nợ và chết như một lữ khách không nhà ở xứ người. Ông đi tìm vàng một cách vô vọng trong chuyến viễn du cuối cùng của cuộc đời 54 năm ngắn ngủi. Ông biết đâu rằng, tài năng, trí thông minh bẩm sinh và tâm huyết nâng cao văn hoá dân tộc, cả sự nghiệp của ông để lại còn quý giá hơn vàng bạc và kim cương, những thứ đã “ trói chân bó tay “ ông một đời ?
  • Duy tân

    18/07/2009Nguyễn Văn Vĩnh (Trích tạp chí Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo, số 812, ngày 8–8–1907)Làm người muốn ở đời phải khôn, phải xét thế lực mình mới được, xét việc gì phải xét đầu xét đuôi, rồi hãng nói, chớ đừng có nằm đáy giếng trông lên tưởng giời bằng cái vung; duy–tân không phải là cứ dận xằng dận xịt hết đổ ra lũ này lại đổ ra bọn kia. Mình tiến cứ việc mà tiến, dậy cứ việc mà dậy, không có ai nghe cũng là tại mình, chớ nhời hay mà phải nhẽ thì ai cũng phải lọt tai.
  • Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936)

    16/07/2009Nguyễn Văn Vĩnh thuộc nhóm người tân học, làm việc với người Pháp, sớm nhận thấy sự văn minh tiến bộ tây phương. Ông hiểu rằng muốn canh tân đất nước, việc giáo dục quần chúng là điều kiện quan trọng trước nhất. Để giáo dục quần chúng, sự cần thiết là phải nhờ vào chữ quốc ngữ, báo chí, và ấn phẩm...
  • Truyện ăn mày

    16/07/2009Nguyễn Văn VĩnhPhải làm thế nào cho kẻ nghèo đói khỏi phải đi lũ lượt từng nhà, nằn nì phơi bộ xương còm áo rách ra, để cho những người có lòng tâm đức trông mãi cái cực khổ, rồi hóa quen mắt đi, không biết cái gì là cái thương nữa...
  • Phố cổ Hà Nội

    13/07/2009Nguyễn Văn VĩnhBài viết này được trích từ cuốn Lịch sử, sự thật và sử học (Tạp chí Xưa&Nay, Nhà xuất bản Trẻ, 12/1999) tập hợp một số bài viết trên tạp chí Xưa&Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Bài viết nguyên bằng tiếng Pháp đăng trên tờ Annam Nouveau số 140 ngày 2/6/1932 của nhà báo-chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh, đã được một bạn đọc dịch và gửi đến tòa soạn Xưa&Nay, góp phần giải thích về việc tìm hiểu khái niệm "Ba mươi sáu phố phường".
  • Mỗi người có cách yêu nước riêng

    27/05/2009Hàm ĐanVượt qua mục đích ban đầu là bộ phim tài liệu độc lập của gia tộc, Mạn đàm về “người man di hiện đại” đã dựng chân dung một người “khổng lồ” đầu thế kỉ XX: Học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
  • Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ

    12/05/2009Nguyên NgọcQuả thực, hồi đầu thế kỷ XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi.
  • xem toàn bộ

Nội dung khác