Thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam

03:32' CH - Thứ sáu, 28/03/2014

BTV: Vừa rồi, Bộ trưởng Trần Xuân Giá đã chia sẻ cho chúng ta những câu chuyện, những ví dụ rất sống động. Còn câu chuyện, ví dụ của ông Nguyễn Trần Bạt thì sao?

NTB: Tôi thì nghĩ rằng, tất nhiên đã làm thành viên của nội các, đã làm một bộ trưởng quan trọng như Bộ trưởng Bộ KHĐT thì sự nhức đầu của ông Giá và sự phản ánh dư âm nhức đầu ấy là một sự thật. Còn tôi, về phía xã hội thì tôi nghĩ rằng thế mới cần chính phủ, thế mới cần thắp đuốc để đi tìm một ông Trần Xuân Giá để làm Bộ trưởng Bộ KHĐT. Tôi xác nhận là thời của anh Giá không có chuyện đem kể công với xã hội về sự vất vả. Nhưng gần đây đã có những dấu hiệu khoe khoang về sự vất vả. Sự khoe khoang về sự vất vả của một Bộ trưởng làm tắt bớt những cảm hứng mà tôi nghĩ đáng ra xã hội phải được hưởng trọn vẹn về ý chí chung của xã hội chúng ta trong việc tìm mọi cách để phát triển đất nước.

TXG: Tôi muốn nói thêm một ý thế này, mà chắc là anh Bạt cũng đồng ý với tôi là chúng ta đã có nhiều cố gắng, nhưng rõ ràng đáng lẽ sự phức tạp ấy chỉ cần kéo dài khoảng 2-3 năm cho một dự án, bằng với giải ngân hàng năm bình quân của khu vực chiếm đâu đó khoảng 20%, có nghĩa là một dự án tính bình quân có 5 năm thôi. Còn của chúng ta bây giờ phấn đấu lắm thì đâu đó khoảng 14%, có nghĩa là 7 năm cho một dự án và có những lúc đến 9 năm cho một dự án mới kết thúc. Như thế thì có nhiều tai họa mà ở dưới chúng ta sẽ bàn thêm, nhưng nói như vậy để nói rằng chúng ta có cố gắng đấy nhưng so với mức trung bình của khu vực thì chúng ta còn độ cách, mà độ cách này phải san lấp, nếu không thì hiệu quả của ODA vẫn tiếp tục thấp, không cao được.

NTB: Tôi mở đầu ý kiến trao đổi của tôi là chúng ta nói nhiều quá về cái công đi tìm, nhưng ngược lại tôi chưa thấy ở đâu trên tất cả các phương tiện truyền thông và trong tất cả các sinh hoạt có tính chất chính trị của chúng ta kiểm điểm là tại sao tỷ lệ giải ngân thấp. Và cũng phải nói với anh Giá thế này, xét về mặt chính trị thì anh giải thích như thế đủ rồi, nhưng trong cái khuyết tật làm chậm giải ngân của ODA không đơn thuần chỉ có vấn đề chính trị. Tôi lấy ví dụ, cách chúng ta mô tả nhu cầu của các dự án mà chúng ta cần so với đòi hỏi thật của xã hội đôi khi có một khoảng vênh rất lớn, xã hội không hoan nghênh dự án chứ không phải chỉ có chính phủ không tích cực đâu. Tôi không ám chỉ gì cả, đối với những dự án rất thông thường, rất an toàn, rất hòa bình đối với xã hội tôi vẫn thấy hiện tượng đó. Cái thứ hai nữa là chúng ta thiếu tiền để tạo ra vốn đối ứng. Ở quê tôi vận động mãi thì đại sứ quán Ý cũng có một dự án ODA nho nhỏ cho một con kênh độ khoảng mấy nghìn đô la thôi, nhưng lại thiếu mất 3000 đô la vốn đối ứng. Cuối cùng anh em địa phương phải kéo đến hỏi tôi làm thế nào để xin được 3000 đô la làm vốn đối ứng cho dự án. Cho nên đôi khi chúng ta không lường hết được sự cân đối tài chính giữa vốn chúng ta vay được và vốn chúng ta có, tạo ra một sự cân bằng trách nhiệm chứ không phải cân bằng tài chính trong một vài dự án. Đấy là những ví dụ nho nhỏ để nói với chị rằng cái sự chậm trễ trong việc giải ngân có nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân anh Giá nói là chủ yếu, còn tôi chỉ dám góp những nguyên nhân cụ thể.

BTV: Vừa rồi chúng ta nói về nguyên nhân dẫn đến việc giải ngân chậm. Bây giờ chúng ta sẽ nói đến hậu quả, từ thực trạng đó sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào?

TXG: Có ba tác hại mà trong chính phủ một thời luôn luôn nhắc tới (không biết bây giờ còn nói tới không vì tôi không còn tham dự). Điều thứ nhất, các dự án ODA phần lớn gắn liền với xây dựng để ra đời một công trình nào đó, một cây cầu, một nhà máy điện, một bệnh viện, trường học... Toàn bộ các công trình ấy chậm, có nghĩa là nó chậm đưa vào khai thác so với kế hoạch dự định, nó tạo nên những mấp mô, bao gồm mấp mô của kinh tế vĩ mô và gây một thiệt hại không nhỏ và thường là thiêt hại ấy người ta ít nhìn thấy. Cái thiệt hại thứ hai rất rõ ràng, đó là nó làm triệt tiêu cái ưu đãi của ODA đối với đất nước chúng ta. Tôi lấy một dự án tương đối điển hình có thời gian ân hạn là 10 năm làm ví dụ. Nếu bảo 10 năm tính từ lúc bắt đầu triển khai là không phải. Bắt đầu ký kết là bắt đầu tính. Ví dụ 1/1/2010 và ân hạn là 10 năm thì 1/1/2020 là hết ân hạn. Nếu đến năm 2018 chúng ta mới bắt đầu triển khai thì thời gian ưu đãi ấy chỉ còn có 2 năm thôi, và thậm chí nhiều dự án của chúng ta đã vượt qua thời gian ân hạn rồi, nó âm rồi mà chúng ta cũng chưa triển khai, như vậy thời gian ưu đãi không còn nữa. Một ví dụ khác, một dự án vay 40 năm mà sau 10 năm công trình mới đưa vào sử dụng được thì thời gian khai thác để trả nợ chỉ còn 30 năm, vậy hiệu quả khai thác liệu có đủ để trả nợ không? Điều thứ ba quan trọng hơn mà một thời báo chí mình không đăng vì nhiều lẽ là nó gây khó khăn cho thu hút mới. Người ta trả lời một câu thế này thôi: sức cái bao tử của anh chỉ ăn được từng đấy thì em mời anh từng đó thôi, còn nếu bao tử của anh to hơn một chút, nó tiêu hóa tốt hơn một chút thì chúng em sẽ bơm thêm vào. Và đấy là một cái hại ghê gớm. Chúng ta đang cố gắng đi vận động hết chỗ này đến chỗ khác, nguyên thủ quốc gia, thủ tướng đi vận động, nhưng người ta trả lời đơn giản thôi: chúng tôi sẵn sàng cung cấp nhưng các ông không tiêu hóa nổi thì nó rất có hại, nó có hại cho tương lai. Có lẽ còn có những nguyên nhân khác nữa, nhưng đó là những nguyên nhân chủ yếu.

BTV: Ông có đồng tình với nhận định của Bộ trưởng Trần Xuân Giá không?

NTB: Tôi không có lý do gì để không đồng tình với bộ trưởng Trần Xuân Giá. Tôi nghĩ rằng có lẽ cái rủi ro lớn nhất từ những trì trệ như thế này là làm mất cảm hứng của các nhà tài trợ. Với tư cách là một nhà quản lý vĩ mô thì Bộ trưởng có thể nói chi tiết hơn chỗ này. Còn tôi là một người có giao dịch rất rộng lớn với giới quan chức ngoại giao của các quốc gia có mặt ở Việt Nam, tôi hiểu rất rõ rằng họ rất yêu Việt Nam, nhưng họ rất sốt ruột về một vài điểm diễn ra trên lãnh thổ chúng ta, và chúng ta không có được mối tương tác thật là chuyên nghiệp, thật là thân ái để hiểu được tâm tư của người ta. Bây giờ, ví dụ bỗng nhiên Việt Nam trở thành một nước giàu có và Bộ trưởng Giá trở thành đại sứ của nước Việt Nam tại một nước nào đó đang cần tài trợ chẳng hạn, thế mà nước đấy cứ cù nhầy, cù nhằng thì bộ trưởng Giá rất khó xử khi thuyết phục quốc hội hoặc thủ tướng chính phủ tài trợ cho nước mà mình muốn. Tâm trạng ấy phổ biến trong các nhà ngoại giao có mặt ở Việt Nam. Tôi nghĩ rằng thiệt hại lớn nhất của chuyện chậm trễ triển khai thế này chính là làm mất cảm hứng của những người đại diện các nhà tài trợ có mặt ở Việt Nam và từ đó truyền đến mất cảm hứng ở quốc gia tài trợ, và quan trọng hơn là mất cảm hứng của nhân dân các nước tài trợ. Bởi vì ở hầu hết những quốc gia có đủ năng lực tài trợ cho chúng ta thì nhân dân là người quyết định việc cho phép chính phủ tài trợ.

BTV: Thưa các vị khách mời, bên cạnh những hạn chế thì nhìn chung tình hình sự dụng vốn ODA tại Việt Nam vẫn được các nhà cho vay đánh giá là có hiệu quả. Như phóng sự của chúng tôi thì chính phủ Việt Nam đã có cam kết rất cao đối với các nhà tài trợ về việc sử dụng hiệu quả hơn nữa các nguồn vốn này. Vậy xin các khách mời chia sẻ thêm những quan điểm và kinh nghiệm của mình để thực hiện tốt hơn nữa các dự án như vậy, xin mời ông NTB?

NTB: Tôi cho rằng việc giữ gìn cam kết của chính phủ chúng ta đã đưa ra trong các giao ước quốc tế không chỉ liên quan đến ODA mà còn cả những vấn đề về kinh tế và các vấn đề khác đòi hỏi một quyết tâm, một ý chí chính trị rất vững vàng. Thứ hai là đòi hỏi phải thiết lập một bộ máy đủ tin cậy, và thứ ba là phải thiết lập một bộ máy giám sát quá trình triển khai ấy để tiếp tục duy trì ý chí chính trị của chính phủ. Hiện nay, phải nói rằng chúng ta nói vậy thôi chứ bộ máy triển khai là có vấn đề ở mọi cấp. Rất nhiều công trình ODA của chúng ta bị bỏ lửng ở ngay chính những thành phố lớn như Hà Nội hay TP.HCM. Sự bỏ lửng như vậy đập vào mắt cả thiên hạ, nhưng chúng ta không có các phản ứng chính trị xã hội và nhà nước thỏa đáng với sự bê trễ như vậy.

Cái thứ ba là chúng ta nói gì thì nói cũng phải chống được tham nhũng, ít nhất trong lĩnh vực ODA, một lĩnh vực mà về cơ bản là nhà nước vay để cấp vốn. Quản lý tài sản quốc gia trực tiếp mà có vấn đề thì phải nói rằng quản lý tài sản đất nước cũng kéo theo vấn đề. Cho nên, tôi cho rằng cần phải chống được tham nhũng, chống được tham nhũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để tăng cường cảm hứng của các nhà tài trợ, tăng cường sự ủng hộ của nhân dân đối với các dự án phát triển lâu dài. Đôi khi những dự án phát triển lâu dài không thoả mãn ngay, không thoả mãn trực tiếp nguyện vọng của dân chúng, và chỉ có sự sáng suốt hay tính hiệu quả lâu dài của dự án cùng với một sự thuyết phục xã hội đủ thì chúng ta mới tìm kiếm được sự hỗ trợ, sự ủng hộ của dân chúng.

Tôi nghĩ rằng để giữ được cam kết thì chúng ta phải tổ chức được bộ máy, phải tổ chức được ý chí chính trị để tìm kiếm sự đồng thuận của toàn xã hội. Thứ hai là chúng ta phải có bộ máy triển khai đủ tin cậy và thứ ba, trong điều kiện cụ thể của chúng ta, chúng ta phải có bộ máy giám sát đủ tin cậy cho Đảng, cho Chính phủ, cho Quốc hội để những nhánh quyền lực như vậy, những cơ sở quyền lực như vậy có thể kiểm định được chất lượng của các quyết tâm chính trị cho thoả đáng. Với tư cách là một người dân tôi nói như vậy, tuy nhiên Bộ trưởng Trần Xuân Giá có thể sẽ có những bình luận tốt hơn.

TXG: Những điều anh Bạt nêu tôi thấy khó bổ sung thêm, nhưng dù sao chăng nữa, đã đến đây thì phải trao đổi một chút. Với ý đó, tôi nói thêm một chút là chúng ta phải thay đổi tư duy. Hình như cái thời kỳ bao cấp, hưởng ODA của Liên Xô vẫn còn phảng phất đâu đó đối với chúng ta ở chỗ này, chỗ khác và nó được coi như một cái gì đấy trời phú của chung, không tiếc khi nó bị thất thoát, lãng phí, chậm trễ. Phải quan niệm rằng đây là một khoản vay. Giai đoạn 1993-2000 thì khoản viện trợ không hoàn lại đâu đó khoảng 20%, 2001-2005 đâu đó khoảng 19%, nhưng năm năm gần đây thì khoản viện trợ không hoàn lại đâu đó chỉ còn khoảng 7% thôi. Như vậy thì 80-90% là đi vay và nhân dân phải trả. Do đó điều đầu tiên phải quan niệm là phải chọn mục tiêu đầu tư tốt, chọn dự án tốt rồi đi vận động với những điều kiện ưu ái nhất, tổ chức triển khai tốt nhất, nếu như chúng ta xót xa rằng con cháu chúng ta 30-40 năm sau phải è cổ ra trả nợ. Và như vậy một dự án nào đó đưa ra quốc hội quyết định bây giờ thì nhớ kỹ rằng 40-50 năm sau, tức là một thế hệ tiếp theo có thể sẽ oán chúng ta, oán cái thế hệ này, và thế hệ này phải nhớ rằng đấy là khoản nợ mà con cháu phải trả. Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng, trên cơ sở đó mới đưa ra tất cả những thứ khác để hình thành bộ máy, một hệ thống các quân đoàn thật sự vì nước, vì dân xót của dân mà hành động. Tôi cho rằng điều đó hết sức quan trọng.

Hiện nay có một việc tôi thấy vừa được vừa không được. Phương thức quản lý trong đầu tư hiện nay tôi không tán thành và tôi đã phát biểu ngay ở đây một lần rồi. Trong đó may quá người ta còn tách ra quản lý các dự án đầu tư từ nguồn vốn ODA thành một kênh quản lý riêng, nhưng đâu đó bộ máy tại địa phương vẫn chưa tốt và do đó nó vẫn mang lại nhiều chuyện. Một lần nữa tôi muốn nói rằng xin hãy thay đổi tư duy đây là một khoản nợ mà dân tộc này không phải trả trong ngày một ngày hai mà 30-40 năm sau chúng ta phải trả đấy, do đó phải liệu để mà làm ăn.

Thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
 
ChúngTa.com @ Facebook
 
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,