Đến bao giờ - những đỉnh cao văn học?

07:33 CH @ Thứ Năm - 20 Tháng Bảy, 2006

Tác dụng thanh lọc (catharsis) của văn học - nghệ thuật đến từ sự phát hiện và tôn vinh cái Đẹp của cuộc đời, gắn với một giá trị nhân văn, vì hạnh phúc của con người; vì sự giải phóng và phát triển con người. Trong cuộc tìm kiếm ấy, nhà văn như một kẻ tử vì đạo, dũng cảm trong chống trả, đối phó với mọi uy hiếp, đe dọa đến từ các hệ quyền lực và cả với sự không an toàn của xã hội.

Lao động của nhà văn tựa như một sự tự vắt kiệt mình đi trong một khao khát kiếm tìm chân lý; hướng tới lẽ phải và giảm nhẹ những khổ đau cho con người. Những tấm gương như vậy không phải là dễ tìm trong tất cả mọi người có nghề viết văn; và tài năng văn chương trong sự quên mình như thế, cũng như bất cứ tài năng nào khác, đều là hiếm, khiến cho sự sàng lọc của thời gian có lúc gần như làm rơi rụng hết tất cả, để chỉ còn mỗi thế kỷ le loi một vài, hoặc dăm bảy tên tuổi.

Những đỉnh cao văn học, những tên tuổi lớn gắn bó và làm nên vinh quang cho mỗi nền văn hóa dân tộc - đó chính là mục tiêu, và là mơ ước của bất cứ nền văn học nào. Nhưng logic thuận của sự xuất hiện là thế nào thì vẫn cứ còn là một lối ngỏ cho những ngẫu nhiên; và tài năng cùng đỉnh cao thường lại xuất hiện một cách đột ngột như không có gì báo trước.

Mặt khác, nói đỉnh cao văn học là nói đến những hiệu quả tinh thần không dễ đo đếm; và thường thì không dễ dàng được chấp nhận trong sự tiếp nhận của công chúng một thời. Có khi nó còn bị phê phán, bị lên án gay gắt do lợi ích của các tập đoàn người, do áp lực của các hệ quyền lực đã cũ, mà không tự chịu nhận là cũ. Văn chương chân chính hướng về tình yêu, lòng nhân ái, cái thiện; nhưng cũng chính vì mục tiêu đó mà có lúc, có bộ phận, nó hoàn toàn dành chỗ cho sự miêu tả cái ác, nó nhằm vào sự phê phán và cảnh tỉnh con người trước cái ác. Vị đắng và sự chua chát của nó thường khi lại gây nên sự khó chịu và là một cú sốc mạnh cho sự tiếp nhận của người đọc đương thời. Và gây nên trong công luận những ý kiến khác nhau. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã phải chịu bao trầm luân trong dư luận. Và Vũ Trọng Phụng, “ông vua phóng sự đất Bắc”, cha đẻ của những Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, Nghị Hách…, bất hủ có dễ phải sau hơn nửa thể kỷ chìm nổi mới nhận lại được giá trị của mình.

Cuối cùng dẫu các giá trị của văn học đã được công nhận và đang tồn tại dưới bất cứ dạng thái nào, vẫn không thôi ẩn hiện một câu hỏi: Văn học đã và sẽ là gì đối với xã hội? Từng có lúc nó được giao rất nhiều trọng trách. Từng có lúc, qua một số tên tuổi nào đấy, nó được hưởng rất nhiều vinh quang… Victor Hugo - cây đại thụ tỏa bóng rợp thế kỷ 19 ở châu Âu từng được xem là người “gây nên bão tố từ đáy lọ mực”, người không sợ sự đày ải của Napoleon và tuyên bố chỉ trở về Paris khi đất nước có tự do - vào tuổi 80 được sống ngay trên đại lộ mang tên mình ở Paris. Qua cửa sổ ngôi nhà riêng, ông chứng kiến sáu mươi vạn người diễu qua chúc mừng sinh nhật mình; ngày ông mất được tổ chức quốc tang với hai triệu người tham dự; thi hài được đưa vào điện Pantheon, trong khi lúc sinh thời ông chỉ mơ ước được chôn trong quan tài của kẻ khó… Hugo là thế, nhưng còn Honore de Balzac, ông tổ của chủ nghĩa hiện thực, người đồng thời với Hugo lại suốt đời mang nợ… Balzac không nhận mình là “kẻ nghèo” nà chỉ là “người giàu túng bấn”; nhưng xem ra không thành đạt ở bất cứ nghề gì, trừ nghề văn. Ở tuổi thọ 51, trong chưa đầy 20 năm, Balzac viết 91 tác phẩm, với 2.209 nhân vật, trung bình mỗi năm viết 2.000 trang. Ông từng mơ ước có được hai bộ óc và cả hai bàn tay cùng cầm bút để làm việc; và có khả năng làm việc 20 giờ trong mỗi ngày nhưng Balzac không vào được viện hàn lâm, không qua được các khoản nợ… Hugo là thế, nhưng còn Fedor Dostoievsky, người của thế kỷ 19, nhưng vẫn tiếp tục tỏa bóng sang thế kỷ 20 - Dostoievssky đã trải qua những phút giây bị đưa ra hành quyết và sống nhiều năm ở nhà tù khổ sai…

Văn học với sức mạnh của nó qua các tên tuổi lớn là như thế. Nhưng không phải không có những lúc nhìn vào sự tồn tại của văn học, nhìn vào tình cảnh và số phận của không ít nhà văn, ta lại đâm ra hồ nghi? Giữa bao sức mạnh của quân sự, của chính trị, của kinh tế, của luật pháp, của các hệ quyền lực, thì sức mạnh của văn chương nghệ thuật quả là mong manh. Nhà văn không có bất cứ thứ vũ khí gì ngoài trang chữ. Nhà văn chỉ có tiếng nói trên trang chữ là nơi thể hiện quyền lực vô hình của mình. Trang chữ - ngày xưa, ở Việt Nam ta, các nhà nho tự ghi trên giấy bản, và nếu được khắc bản thì số lượt đến với người đọc cũng không có bao nhiêu; nhưng với các giá trị đích thực thì luôn luôn nó có cách khẳng định sự tồn tại cùng lịch sử. Trang chữ ngày nay bằng con chữ in, và sau năm trăm năm kỷ nguyên in, bây giờ nó đang được đưa vào các đĩa mềm và phóng lên mạng, văn học trong thế tiềm năng là càng có khả năng được đọc nhiều hơn và lưu giữ bền hơn. Đời người viết văn là ngắn ngủi, số phận nhà văn có lúc là mong manh; nhưng lấy gì đo được giá trị của trang chữ với xã hội nhân vật và thế giới tinh thần do nhà văn tạo ra?

Văn học “chắc chắn không phải để làm lại thế giới” - nói như Camilo Jose Cela - nhà văn giải Nobel 1989 của Tây Ban Nha. Nhưng “đối với một dân tộc, văn học là tất cả, nó đảm bảo cho dân tộc trường tồn chắc chắn hơn cả kiến trúc. Lời chữ bền vững hơn đá”.

Bia đá không phải là không bền. Văn học cổ điển của chúng ta từ trước thế kỷ 15, sau cuộc tàn sát văn hóa của giặc Minh, may mà còn lưu giữ được một phần trên các bia đá. Nhưng bia miệng quả còn bền hơn. Như phương ngôn, tục ngữ đã nói.

2. Trong sự quan tâm đưa văn hóa, văn học - nghệ thuật vào sự phát triển xã hội hôm nay, lẽ cố nhiên văn học không thể đứng ra ngoài một cách thờ ơ, mà cũng trở thành một nhân tố, một động lực tinh thần như chúng ta mong muốn. Nhưng tổng kiểm điểm lại lịch sử thì, với văn học, hiệu quả đó không phải dễ nhận dạng và đo đếm được. Trong quan hệ với đời sống chính trị, rõ ràng văn học không dễ và không thể xa lánh, nhưng cũng có lúc, có bộ phận như là xa lạ, vì cái mà văn học nghệ thuật kiếm tìm là nhằm vào những đòi hỏi của tâm thế của tinh thần rộng hơn đời sống chính trị, vượt ra ngoài các khuôn khổ của chính trị. Cũng vì lẽ đó nên những giá trị lớn của văn học là đi suốt nhiều niên đại, nhiều hình thái kinh tế xã hội, là vượt qua nhiều thể chế chính trị.

Những giá trị văn học lớn không chỉ làm vẻ vang cho dân tộc mà còn là tài sản chung của nhân loại. Tất cả những tên tuổi lớn trong văn học khắp các khu vực, các dân tộc đều trổ được đường vào nhân loại, qua đó mà nâng cao vinh dự của dân tộc mình và khẳng định các giá trị phổ quát và vững bền chung cho con người, cho loài người. Như vậy trong sự mở rộng cách hiểu về đóng góp của văn học và về vai trò văn học như một động lực tinh thần của xã hội thì câu trả lời luôn luôn vẫn là: cần một nền văn học với những tác giả lớn, tác phẩm lớn. Câu hỏi đó trong nhiều chục năm qua chúng ta luôn đặt ra, tưởng đã có cách trả lời, có lúc tưởng đã ở trong tầm tay. Chẳng hạn ở thời điểm năm 1983, với Đại hội Hội nhà văn lần thứ ba, đã có không ít tác phẩm được dẫn ra thường xuyên, như chính là một thứ quả chín, hoặc là quả chín đầu mùa, hứa hẹn rất nhiều ngọt lành nhưng rồi cùng với thời gian và trong sự thẩm định của lịch sử lại thấy gần như quá nhiều sự rơi rụng. Một thế kỷ đã qua, hành trình văn học hết lớp này qua lớp khác, và càng về sau càng tấp nập; nhưng những tên tuổi xứng đang là niềm tự hào chung của dân tộc tựa như Nguyễn Trãi thế kỷ 15, Nguyễn Du thế kỷ 19… sẽ còn lại là những ai?

Nói Nguyễn Trãi (1380-1442) là nói người không chỉ viết Bình Ngô đại cáo mà còn là tác giả của 254 bài thơ Nôm trong Quốc âm thi tập. Và với Quốc âm thi tập, ông đã đến được một tầm cao bất ngờ nơi thượng nguồn nền văn học Nôm dân tộc, vừa mới xuất hiện đã chủ động dấn vào cuộc cạnh tranh quyết liệt để giành quyền tồn tại với chữ Hán, rồi không thua văn học viết bằng chữ Hán. Phải có ông, phải từ ông, để hơn 300 năm sau, xuất hiện Nguyễn Du (1765-1820) - người đứng ở đỉnh cao chót vót những tiềm năng và vẻ đẹp của ngôn ngữ và tiếng nói dân tộc, chưa có ai, cho đến nay, sau ngót 300 năm vượt nổi.

Tôi nói điều này không phải để coi thường, xem nhẹ những thành tựu văn học đã thu được của hơn ba hoặc bốn thế hệ người viết trong thế kỷ 20. Một thế hệ trước 1945 đã thực hiện được cuộc chuyển đổi mô hình và làm mói tư duy nghệ thuật, để làm nên diện mạo hiện đại cho văn học dân tộc, ngay trong xã hội thuộc địa. Hai thế hệ tiếp nối sau 1945 cho đến cuối 80 đã góp sức cùng nhau trong một đồng tâm nhất trí gần như tuyệt đối, để làm nên bản hùng ca của hơn 30 năm đất nước ra trận; và ngay khi dứt tiếng súng, đã tiếp tục là người tiền trạm, người chuẩn bị cho một cuộc đổi mới , mà quy mô cũng không khác với Cách mạng tháng Tám 1945. Rõ ràng, ở cả ba giai đoạn, sức mạnh của một đội ngũ là điều dễ thấy, nhưng sự vượt trội để có các đỉnh cao, với tầm vóc lực lưỡng ở mỗi cá nhân, là chuyện còn phải bàn. Điều đáng quan tâm là ở thế hệ mới, thế hệ thứ tư, gắn liền với giai đoạn từ đầu 90 đến nay, sản phẩm của chính thời kỳ đổi mới, là gồm những tên tuổi nào, câu trả lời thật không dễ. Một thế hệ trẻ - ở tuổi 20 hoặc 30, cho cả sáng tác và lý luận - phê bình gần như quá thưa vắng.

Văn học hôm nay, đang đứng trước một tình thế thuận lợi cho sự phát triển - có dễ là hơn bất cứ giai đoạn nào trước đây. 20 năm trước, nếu nhu cầu “cởi trói” đặt ra là đúng thì sự tháo cởi cho đến nay quả là điều không còn nghi ngờ. Ai có khả năng và ham muốn viết đều có thể viết hết mình. Và viết bằng chính suy nghĩ và cảm xúc của mình chứ không phải bằng những vay mượn, hoặc để đáp ứng những đặt hàng ép uổng hoặc tự nguyện; nói cách khác, cái được gọi là cá tính sáng tạo hoặc chủ thể sáng tạo đã được chú ý, nếu không nói là được coi trọng. Và giao lưu thì đang mở ra với rất nhiều cái mới và lạ của thế giới bên ngoài. Cái mới rất cần được đón nhận, còn cái lạ thì phải xem xét, tìm hiểu. Và giữa mới và lạ, đôi khi cũng không dễ phân biệt. Tóm lại, 20 năm đất nước đổi mới cũng đã đủ là một hoàn cảnh khách quan nếu không nói là thật thuận thì cũng không thể nói là trái là nghịch cho sự sáng tạo ở mọi lĩnh vực văn học và nghệ thuật. Vấn đề còn lại là ở cái phía chủ quan, ở sự chuẩn bị của chính ngay nhà văn, ở mọi thứ vốn nhà văn cần có để trở thành người viết có nghề trước khi trở thành tài năng, thành thiên tài; một thứ nghề không chỉ trông dựa vào bản năng, vào cái vốn trời cho hoặc được hiểu là quá dễ. Cái công việc kiểm điểm này trước đây gần như lúc nào ta cũng làm - trong các văn kiện, nghị quyết nhân các kỳ họp; trong các bài nói bài viết của giới lãnh đạo và quản lý nghề nghiệp, nhưng xem ra, một là chưa thật trúng, hay là tất cả hiển nhiên đều đúng nhưng chưa đủ. Có một bí ẩn gì đó của sáng tạo còn chưa được nhìn ra, hoặc đã được nhìn một cách đơn giản, dễ dàng tưởng như ai cũng có thế với tới - trong cả một phong trào sáng tác ngày mở rộng, ai ai cũng có thể viết văn, làm thơ như hôm nay. Một bí ẩn của sáng tạo còn tiềm tàng đâu đó, và vấn đề đặt ra cho chúng ta, nói như Mark, không phải là tạo ra thật nhiều Raphael, mà là tạo ra hoàn cảnh để những ai có Raphael trong mình đều có thể tự nhiên nảy nở…

Vậy là, sau khi nhấn mạnh đến sự chuẩn bị chủ quan không chút dễ dàng ở chính nhà văn, mà sự chọn lọc của thời gian là cực kỳ khắc nghiệt, lại cần thiết trở về với sự quan tâm đến các hoàn cảnh, các môi trường gieo trồng nhằm tạo nên một khí hậu tự nhiên cho sự thanh lọc dần những cái vô bổ, cái tầm tầm, cái nhảm và cả cái xấu, cái độc hại vốn không lúc nào hết đất sống, và cũng đừng mong là hết dễ dàng trong bất cứ thể chế nào của sự phát triển xã hội, để đưa dần văn học lên một giá trị chuyên nghiệp cao, trong tương ứng với một nền kinh tế trí thức và văn minh trí tuệ.

Văn học - như một giá trị tinh thần và thẩm mỹ chỉ có được kích thích và tìm được nguồn lực thúc đẩy bên trong bởi các giá trị cao. Chỉ những giá trị cao trong văn chương, chỉ có nó, chứ không phải là bất cứ cái gì khác, mới tạo được sự kích thích ấy, mới chứa đựng được nguồn lực ấy. Cũng chỉ thông qua những giá trị cao mà văn học mới thực sự trở thành một sức mạnh tinh thần vững bền trong đời sống con người.

Nguồn:
LinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Định nghĩa về cái đẹp

    20/08/2017Hầu hết những người cố gắng định nghĩa cái đẹp đều nhất trí rằng nó dính dáng đến sự đáp ứng của ý thích. Chúng ta gọi một cái gì đó là đẹp khi nó làm chúng ta vui thích hay hài lòng ở một phương diện đặc biệt nào đó. Nhưng cái gì gây nên sự đáp ứng này từ phía chúng ta? Nó có phải là cái gì trong chính bản thân đối tượng ...
  • Cỗ máy sản xuất cái đẹp?

    22/06/2015Nguyễn Bỉnh QuânCái đẹp có vẻ thực sự cao siêu như vậy nhưng lại là chuyện thường ngày, quanh ta, mọi lúc, mọi nơi. Michelangelo từng hài hước rằng ông không làm ra pho tượng David mà chỉ ngẫu nhiên nhìn thấy nó trong khối đá mà thôi...
  • Cái đẹp muôn hình muôn vẻ

    10/11/2014Văn NgọcTạo hóa (hay Nghệ thuật?) oai oăm thay, bày đặt ra cái đẹp, nhưng lại không cho biết cái chìa khóa của nó nằm ở đâu, sự vận động của nó như thế nào? Vậy thì trước tiên, ta cần xem xét xem ý niệm đẹp từ đâu mà có và làm sao nắm bắt được nó?
  • Thẩm mỹ

    15/10/2014Nguyễn Trần BạtNói đến thẩm mỹ không thể không nói đến khái niệm cái đẹp. Nhưng đó là một câu hỏi làm đau đầu biết bao nhiêu nhà triết học thuộc đủ mọi quốc gia, sống ở mọi thời đại trong lịch sử...
  • Về tác phẩm văn học đỉnh cao

    30/06/2006Phạm Tiến DuậtTrong những năm vừa qua, mặc dầu Hội Nhà văn Việt Nam và nhiều tổchức văn học và nghệ thuật khác đã trao giải thưởng văn học thường kỳ, một năm hoặc 5 năm một lần, nhưng hầu như các tác phẩm và tác giả được giải rất mau chìm vào quên lãng. Chúng ta đang thiếu vắng các tác phẩm văn học lớn, có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, những tác phẩm có khả năng rung động hàng triệu người, những tác phẩm có tác động xã hội to lớn, vừa trực tiếp lại vừa lâu bền...
  • Về đặc trưng của chân lý nghệ thuật và tính đặc thù trong sự tiếp cận nó

    21/05/2006TS. Nguyễn Văn HuyênThực chất quan điểm giá trị học hiện đại và cũng là quan điểm phổ biến hiện nay muốn nhấn mạnh rằng, khoa học gắn liền với chân lý, còn nghệ thuật gắn liền với giá trị, cái mà thiếu nó, loài người không thể trở nên văn minh, tiến bộ.
  • Văn học không thể từ chối vun đắp cho con người và kiến tạo cuộc sống

    13/05/2006Hoàng HoaThực tế đời sống văn học trẻ trong 5 năm qua đã được đánh giá một cách xác đáng, phải nhẽ từ lời những người có trách nhiệm trong lễ khai mạc Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ VII. Trong 5 năm qua, cuộc sống đã có nhiều thay đổi, đời sống văn học ngày càng cởi mở hơn, dân chủ hơn. Bên cạnh những lớp nhà văn đi trước, nhiều nhà văn trẻ đã vượt lên, đồng thời nhiều cây bút mới lại xuất hiện...
  • Nghề văn và những động lực sáng tạo

    19/02/2006Hồ Sĩ VịnhLý tưởng xã hội là cái nằm trong bầu máu nóng, là mục đích cao nhất, là lẽ sống đẹp nhất của đời người. Ở nhà văn, những yếu tố nói trên biến thành nguồn nội lực văn hóa, lý tưởng càng được thắp sáng, bầu nhiệt huyết càng sôi sục thì tác phẩm của họ càng được công chúng nồng nhiệt đón đợi...
  • Nghệ thuật là gì?

    15/02/2006Nguyễn Đình ĐăngCâu hỏi Nghệ thuật là gì? kéo theo luôn hai câu hỏi khác: Cái đẹp là gì?Họa sĩ là ai?. Tổng quan 3 bài viết của Bart Rosier [1], Joseph A. Goguen [2]và Lev Tolstoy [3] chỉ nhằm làm sáng tỏ một phần những vấn đề tuy không mới nhưng vẫn rất nan giải đó...
  • Cái đẹp nghệ thuật và đời sống xã hội

    05/01/2006Vũ Minh TâmTrong thực thể đẹp nghệ thuật dường như có tất cả mà cũng như không có riêng về một mặt nào của đời thực: quan hệ kinh tế - xã hội, chính trị, triết học, văn hóa, đạo đức, khoa học, nhân cách, lối sống và lời ăn tiếng nói, sự nghiệp vĩ đại và đời thường nhỏ nhặt, thế giới bên trong và mặt cắt bên ngoài, cá nhân và cộng đồng, xưa, nay và mai sau...
  • Làm gì để có tác phẩm ngang tầm thời đại?

    02/12/2005Lê Quý KỳCâu hỏi này được đặt ra từ nhiều năm nay và gần đây trở thành chủ đề chính của nhiều cuộc gặp gỡ, hội thảo lớn do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Trăn trở thì nhiều, nhưng câu trả lời dường như còn nằm đâu ở phía trước, rất xa. Tại sao?
  • Trực diện với Văn học Việt Nam thế kỷ XX

    01/12/2005Nguyễn HoàBị hấp dẫn bởi tên gọi Văn học Việt Nam thế kỷ XX, tôi đã đọc cuốn sách với hy vọng được mở mang tầm nhìn, được bổ sung tri thức, được giúp lý giải các hiện tượng, các vấn đề lý luận - thực tiễn của văn chương - văn học dân tộc trong thế kỷ XX. Tiếc thay càng đọc thì nỗi thất vọng lại càng lớn dần...
  • Văn học thời đổi mới

    23/11/2005Lê Quý Kỳ
  • Chân - thiện - mỹ: Mãi là đích hướng tới của văn chương

    17/11/2005Đinh Quang TốnTừ xưa đến nay, hướng tới chân - thiện - mỹ luôn là mục đích của văn chương. Bởi văn chương là một sản phẩm do con người tạo ra, mà con người thì khác muôn loài ở bản chất muốn vươn tới những điều tốt đẹp, nên văn chương luôn là một hoạt động vì con người, với khát vọng làm cho cuộc sống của con người ngày một tốt đẹp hơn...
  • Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng thực tế

    24/10/2005Nguyễn HòaMở đầu Diễn đàn "tiểu thuyết Việt nam đang ở đâu", chúng tôi xin giới thiệu bài viết sau đây của nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa...
  • Tại sao tôi đọc tiểu thuyết

    03/08/2005MoonfishVới tôi văn học và điện ảnh gần gũi nhau lắm, nên tôi mạo muội gửi vào đây bài "Tại sao tôi đọc tiểu thuyết", nếu sửa lại là "Tại sao tôi xem phim" có lẽ cũng được.
  • xem toàn bộ

Nội dung khác