Con người - Đời người - Làm người

Viện khoa học xã hội tp. Hồ Chí Minh
08:19 CH @ Thứ Hai - 28 Tháng Ba, 2016

Đây thật sự là vấn đề triết học nhân văn mà chưa thấy bàn nhiều ở nước ta với một tư cách là một chuyên đề độc lập trong các giáo trình và các chuyên luận. Hồ Chí Minh cho rằng: mọi vấn đề qui đến cùng là vấn đề ở đời và làm người. Các triết học và tôn giáo ít hoặc nhiều đều động chạm đến vấn đề đó với các góc độ, khía cạnh khác nhau...

Chẳng hạn trong triết học Khổng Tử và triết học Trung Quốc nói chung cũng như tư tưởng triết học ở Việt Nam ta đều bàn đến vấn đề làm người, đặc biệt là người quân tử với tất cả những mối quan hệ Tam cương, Ngũ thường. Triết học Phật giáo bàn về đời người, sự khổ con người và sự giải thóat để làm người. Thiên Chúa giáo bàn về con người và đời người ở trần gian là tạm thời còn Thiên đường là vĩnh cửu. Triết học Hiện sinh lại bàn về đời người cô đơn và làm người theo kiểu tự do tuyệt đối. Triết học Xocrat lại bàn về vấn đề làm người một cách độc lập và sáng tạo. Cantơ đề cao vai trò con người, muốn xây dựng một khoa học về con người để ai cũng học được cách làm người. Triết học Mác xuất phát từ con người thực tiễn và nghiên cứu những con đường và điều kiện để giải phóng con người đi tới vương quốc tự do. Hồ Chí Minh tôn trọng con người, đề cao tính chủ động của con người tìm mọi cách để phục vụ con người theo tinh thần của chủ nghĩa nhân văn thực tiễn cao cả v.v.

Vấn đề chúng ta đang bàn liên quan đến nhiều khía cạnh và góc độ có thể nhìn nhận một cách khái quát sau đây:

Con người: sống và chết; cống hiến - hưởng thụ và được tôn vinh

Con người được sinh ra như sự kết hợp âm- dương, sự tổng hòa trời đất, tổng hòa giới tính nam- nữ. Nói cụ thể hơn con người ra đời do cha và mẹ yêu nhau trong cuộc sống hôn nhân. Nhưng ta lại thường nói cha sinh mẹ dưỡng, cha mẹ sinh con trời sinh tính. Con người ra đời ở điểm khởi đầu của nó là một cơ thể sinh học như một dạng vật chất tiến hóa cao nhất hiện nay. Sau chín tháng mười ngày thì ra đời nhưng là một sự rút ngắn của sự tiến hóa sinh học diễn ra hàng triệu năm trước đó trong quá trình xuất hiện loài người và con người trên trái đất.

Cơ thể sinh học đó có một kết cấu chất đặc biệt như một thực thể nhu cầu có khả năng đáp ứng và thích hợp với môi trường tự nhiên và xã hội. Cơ thể này là một thực thể tự nhiên có khả năng thực hiện lao động xã hội, giao tiếp xã hội và hình thành ý thức. Thực thể đó chứa đựng nhiều khả năng bẩm sinh như bản năng sinh học, bản năng hợp quần xã hội sẽ được phát triển để trở thành bản chất người thực sự trong môi trường tự nhiên và xã hội. Những bộ phận đặc biệt của cơ thể đó là bộ não của người và trái tim của nó. Khoa học ngày nay đã đạt đến một trình độ khá cao để tìm hiểu về cấu tạo, cơ chế của bộ não người, trái tim của con người như một sự hội tụ và kết tinh hoa của Trời đất và sau nữa là của văn hóa nhân loại trong tiến trình lịch sử. Nhưng chúng ta còn hiểu biết ít ỏi về bộ óc của mình với 100 tỷ tế bào nơtron khổng lồ và vô tận. Ở đó không phải chỉ có hữu thức mà còn có cả tiềm thức và vô thức với những đặc điểm và cơ năng đầy bí ẩn mà khoa học mới chạm tới cửa ngõ của nó.

Cơ thể sinh học là cơ sở vật chất của con người để hình thành và phát triển con người. Khi con người sinh ra đã bắt đầu sống trong môi trường gia đình và môi trường xã hội càng ngày được mở rộng cùng với sự họat động và giao tiếp của con người. Con người trong cuộc đời mình trải qua nhiều giai đọan: Một là giai đọan trong bụng mẹ; hai là giai đọan chủ yếu được nuôi dưỡng; ba là giai đọan được học tập để chuẩn bị vào đời; bốn là giai đọan lập nghiệp, lao động cống hiến và hưởng thụ; năm là giai đọan tuổi già và nghỉ hưu; sáu là giai đọan sau khi đã chết và được thờ phụng, tôn vinh (theo cách phân chia của Giáo sư Trần Trọng Đăng Đàn). Sau giai đọan đó thể hiện sự tiến hóa về mặt sinh học của một con người và cũng là mặt xã hội của một đời người trong quá trình trao đổi chất, sống, họat động xã hội.

Vấn đề cơ bản trong quá trình đó là quá trình tiếp nhận từ phía môi trường tự nhiên và xã hội, cũng là quá trình tác động vào môi trường ấy, sáng tạo ra mọi của cải vật chất theo nhu cầu sinh tồn và phát triển; đó cũng là quá trình con người được hưởng thụ và phát triển nhân cách của mình với tư cách là chủ thể của đời sống. Bản chất xã hội của con người được hình thành trong quá trình đó trên cơ sở cơ thể sinh học và trở thành thuộc tính bản chất xã hội của cơ thể con người với tư cách một thực thể hoạt động tích cực, sáng tạo với ý nghĩa nhân sinh.

Giá trị và vị thế của con người như thế nào là phụ thuộc vào quá trình hoạt động, cống hiến, thể hiện tài đức, dũng khí của con người mà ở đó là sự thống nhất nhiều cái thể chất, cái đạo đức, cái trí tuệ và cái thẩm mỹ. Nhưng đời người và con người không thể sống mãi mãi xét về mặt cơ thể sinh học nhưng xét về mặt xã hội thì con người sau khi chết có thể con tiếp tục "sống" trong trái tim của những người thân hoặc cũng có thể trái tim dân tộc và nhân lọai nếu là những anh hùng, những vĩ nhân. Nói cụ thể hơn tuổi thọ xã hội của họ dài hay ngắn phục thuộc vào ý nghĩa xã hội, sự cống hiến cho xã hội của họ khi đang còn sống với tư cách một thực thể sinh học. Sau khi chết ai được tôn vinh thì đó là niềm tự hào của người đã khuất và người đang sống.

Con người - đời người - khổ đau - hạnh phúc.


Nói theo cách nói của một nhà văn có thể là như thế này: Con người chỉ sống một lần; sống sao để khỏi ân hận; sống sao để khi chết đi được nhiều người thương nhớ và tự hào, để lại trên nấm mồ của anh những giọt nước mắt long lanh ngọc của đời và những bông hoa mãi mãi thắm tươi dưới ánh nắng mặt trời. Thật đáng tự hào được làm người và sống một cuộc đời của con người. Thế thì ai chẳng muốn làm người.

Nhưng cuộc đời là oái ăm thay. Khi nhìn về khía khác để thấy rằng cuộc đời là bể khổ như cách triết lý của Phật giáo chẳng hạn. Quả cũng có lý khi nói rằng: sinh ra cũng khổ, bệnh tật cũng khổ, già lão cũng khổ, chết cũng khổ. Nếu thế thì suy rộng ra yêu nhau và xây dựng gia đình cũng khổ. Có chồng lại khổ vì chồng. Song không có chồng lại chẳng sung sướng gì. Lênin đã nói rằng người mẹ sinh con là chịu nhiều đau đớn nhưng chẳng bà mẹ nào lại không ao ước muốn được có con vì đó là thiên chức của hạnh phúc cao quí trước hết của người mẹ, người phụ nữ. Dân ta nói người phụ nữ không có con giống như cây không có hoa, không có trái. Đó là sự khổ do không có chồng con!

Do đó, nói đúng hơn đời người và làm người không tuyệt đối sung sướng, không tuyệt đối đau khổ mà là có cả hai. Nhưng con người là một chủ thể tích cực, chủ động nối Trời và đất, biết thích nghi với môi trường để phát triển, có khả năng tạo ra cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn. Chính lịch sử của xã hội loài người, lịch sử của con người đã chứng minh điều đó. Đi vào từng con người cụ thể có thể có người bất hạnh nhiều hơn hạnh phúc, nhưng những người sống tốt đẹp và hạnh phúc nhiều hơn. Sự tốt đẹp ấy lại là phạm trù lịch sử như nấc thang tiến hóa từ thấp đến cao.

Nhìn sâu hơn vào hiện thực thì sự bất lực của con người, sự đau khổ của con người có nguyên nhân tự nhiên nhưng chủ yếu cũng từ nguyên nhân xã hội, con người tự làm khổ cho con người là chính. Trong xã hội có giai cấp bóc lột thì đa số con người sống nghèo khó, chịu nhiều bất công và áp bức trong khi đó thiểu số thì giàu có sung túc hơn nhờ sự bóc lột sức lao động của đa số. Khi con người bắt đầu lao động và sáng tạo, đó là bước nhảy vọt từ lòai vật sang lòai người. Nhưng chỉ khi nào con người xóa bỏ được chế độ áp bức bóc lột cuối cùng trong lịch sử thì mới thực hiện được bước nhảy vọt tiếp theo từ xã hội tiền sử sang xã hội của con người thực sự tự do, phát triển toàn diện, làm chủ tự nhiên xã hội và bản thân mà chủ nghĩa Mác đã dự báo một cách khoa học trên cơ sở hiểu biết qui luật lịch sử.

Con người - Số phận - Đường đời - Đích đi tới

Con người hoạt động như thế nào, phải lựa chọn cuộc đời làm người như thế nào không chỉ tùy thuộc vào chính mình mà còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan bên ngòai, có quy luật và luôn luôn biến động không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Nhận thức được tất cả những yếu tố bên trong và bên ngoài ấy trong sự tác động giữa khách thể và chủ thể, con người hành động và lựa chọn phù hợp với năng lực, hoàn cảnh, điều kiện của mình và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, qui luật và xu hướng khách quan bên ngoài thì con người có tự do, có thể đạt được mục đích mong muốn. Nhưng những nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng ấy gần như vô hạn. Con người không thỏa mãn với chính mình và hòan cảnh xung quanh, con người biết thay đổi hoàn cảnh, cải tạo bản thân mình để phù hợp với hoàn cảnh và hoàn cảnh phù hợp với con người. Đó là quan hệ biện chứng hài hòa nhưng cũng có khi đối nghịch. Con người không thể lường hết mọi điều và có khi chính vì nhu cầu lợi ích thái quá lại làm hại mình và làm hại người khác. Có những người vô tình nhưng cũng không ít kẻ cố ý. Dù sao đó cũng là một tai họa. Con người lại thức tỉnh và tự điều chỉnh hành vi của mình cho hợp tình hợp lý. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng làm được điều đó. Hoặc khó khăn là do rào cản tâm lý mà chưa hiểu, hoặc do lợi ích cá nhân cố hữu không vượt qua được.

Thực ra thì cuộc đời, đường đời, sự làm người là sản phẩm của sự tác động zích zắc giữa chủ thể và khách thể như chính hòn bi trên bàn bi trong một trận đấu cụ thể; hay trong thế giới con người thì mỗi người là một hành tinh có quỹ đạo riêng của nó. Chẳng có thần thánh nào quyết định số phận của con người cả. Con người và cuộc sống của con người là do con người quyết định, lao động đấu tranh vươn tới và làm sao con người xứng đáng với con người và loài người như là một sản phẩm tối cao của tinh hoa trời đất, tinh hoa văn hóa và xã hội mà họ sống với tư cách là một thực thể vừa hữu hình vừa vô hình trong sự liên thông với vũ trụ và giữa những người với nhau.

Con người qua đời, cơ thể lại trở về với cát bụi, với đất trời. Tinh thần của con người còn lưu truyền trong xã hội nhưng không có chuyện hồn (tinh thần) lìa khỏi xác, hồn độc lập với xác, tách khỏi thể xác và tồn tại mãi mãi. Có thể có chuyện con người là một thực thể sinh học thì có trường sinh học khi cơ thể mất đi các trường sinh học đấy có thể thóat khỏi cơ thể như một dạng sóng và cũng có thể lưu giữ thông tin ý thức ở mức độ nào đó, thời gian nào đó mà hiện nay khoa học đang nghiên cứu và giải thích. Nhưng khi cơ thể con người chết và phân rã, kết thúc mọi sự sống ở con người mà chẳng có gì sau đó nữa tức là không có luân hồi và tái sinh.

Con người và đời người là có hạn, nhưng lại vận động và phát triển theo qui luật của tự nhiên và xã hội nên có thể là vô hạn trên cả trên hai khía cạnh như tiếp tục sinh con đẻ cái, duy trì nòi giống; mặt khác, những sản phẩm do con người tạo ra cũng như những giá trị làm người của họ lại tiếp tục tồn tại và phát triển với xã hội. Với ý nghĩa đó nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bốn nghìn năm cùng ta ra trận. Cũng có thể nói rằng ông cha ta với những cống hiến của mình làm nên đất nước này, dân tộc này đang cùng chúng ta xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc thân yêu. Các thế hệ cháu con nối tiếp ông cha phát triển và cống hiến nhiều hơn nữa, xứng đáng hơn như dân tộc mình đã triết lý "Con hơn cha là nhà có phúc" (nhưng có một triết lý nữa là đời cha ăn mặn đời con khát nước). Con người và lòai người đi lên mãi không ngừng cùng đồng tiến hóa với tự nhiên.

Con người: quá khứ- hiện tại và tương lai

Thời gian trong một đời người: Con người từ khi ra đời đến khi mất đi, trên con đường thời gian ấy như một dòng sông-dòng đời trải qua bao hoàn cảnh, bao tình huống, bao chiến thắng và không chiến thắng, được và thua, vui sướng và khổ đau, mồ hôi, nước mắt và nụ cười, đói nghèo và no đủ… tất cả làm nên đời người.

Quá khứ luôn luôn ám ảnh suốt cuộc đời, quá khứ tươi đẹp là liều thuốc bổ nhưng quá khứ đau khổ là liều thuốc đắng, thuốc bệnh cho tâm hồn con người. Làm chủ quá khứ không dễ chút nào. Không có quá khứ thì không có hiện tại nhưng hiện tại và tương lai mới là cuộc sống thực hơn, cần hướng tới. Không thể lấy quá khứ làm chuẩn, quay về quá khứ như quan niệm Nho giáo, tuy vậy không được quay lưng đối với quá khứ, phủ nhận quá khứ. Quan trọng nhất là hiện tại, hãy sống tốt nhất trong hiện tại, cống hiến nhiều nhất trong hiện tại. Hiện tại là tất cả, mà tương lai là hiện tại đang đến, quá khứ là hiện tại đã trôi qua. Hướng tới tương lai, trù tính cho ngày mai, nhưng quan trọng nhất là hiện tại. Ai hời hợt với hiện tại, lãng phí hiện tại, không xứng đáng với hiện tại trong khả năng có thể thì không có quá khứ tự hào và tương lai không có gì đáng mừng cả. Thực thể của hiện tại, quá khứ và tương lai là thời gian, giống như đại lượng và hằng số tiềm ẩn của khổ đau và hạnh phúc ở mỗi đời người.

Quá khứ oai hùng hay đau khổ, bi ai, thì cũng là quá khứ, nó là bệ phóng cho tương lai hay cản bước ta đi về phía trước? Vì bất cứ tương lai nào cũng bắt nguồn từ quá khứ, tuy không phải là nhân tố duy nhất. Có người quá tự hào về quá khứ mà sinh ra tự mãn công thần, có người vì đau buồn quá khứ mà chùn bước, làm đau khổ lẫn nhau vì cái đau khổ đã qua bằng cách nhắc đi nhắc lại sai lầm khổ đau làm tấy vết thương lòng trong quá khứ của mình hoặc của ngừơi khác làm cho cuộc sống thêm nặng nề. Thật là cực chẳng đã. Nếu nhắc lại thì là nhằm mục đích để tránh nó chứ không phải cho hả dạ, hoặc để chì chiết nhau, làm mất uy tín nhau. Nhắc lại niềm vui thì con người phấn chấn thêm sức mạnh, nhắc lại nỗi buồn và nỗi đau chỉ là tự đeo đá vào chân vào cổ, tạo ra u ám trên đầu và trước mặt. Tại sao không đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể của lịch sử để tha thứ cho nhau? Không quên quá khứ nhưng phải nhìn về phía trước mà đi, ngoảnh lại sau lưng làm gì? Vừa đi vừa quay lại, quay lại nhìn mãi về phía sau thì làm sao đi lên được? Dù không quên quá khứ, phải học từ quá khứ, dựa vào quá khứ, nhưng chủ yếu là hiện tại và tương lai, nhìn về phía trước vẫn là hướng chính, nhìn phía trước mà đi thì mới tới đích được. Dòng sông và dòng đời nói chung đều không chảy ngược lại.

Những gì đã qua thường trở thành ký ức, được người ta suy ngẫm, rút ra bài học cho mình dù đó là thất bại hay thành công. Ai không làm như thế thì không tiến bộ được. Nhưng cũng có khi biết thì đã muộn.

Làm chủ thời gian trong quá khứ và trong hiện tại cũng như tương lai là làm chủ đời người.

Thế hệ trẻ già:

Sự sinh ra lớn lên và già đi không chỉ về thể chất mà cả tinh thần. Thời niên thiếu như mầm như nụ, tuổi trẻ như mùa xuân, mơn mởn, hớn hở, cuộc sống đầy ước mơ và hy vọng; tuổi trẻ là tích luỹ, phấn đấu, dám nghĩ dám làm, ngã rồi đứng dậy đi tiếp, đường đời còn dài. Tuổi trẻ học tập, rèn luyện, tích lũy như thế nào thì tuổi trung niên và tuổi già cơ bản là như thế.
Tuổi trẻ học tập và lập nghiệp, tam thập nhi lập.

Tuổi trung niên là tuổi trưởng thành và thành đạt, ít hoăc nhiều, là tuổi có gia đình, con cái, tuổi hạnh phúc, ổn định. Tuổi này như là đỉnh cao của cuộc đời, hoa đã nở, trái đã chín, là tuổi thịnh vượng về cơ thể, kinh nghiệm, tri thức, chín chắn về tình cảm, tứ thập bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, tuổi của mùa hè và sang dần mùa thu, hè trưởng thu tàng.

Tuổi già là tuổi đã cơ bản hoàn thành sự nghiệp, tuổi sử dụng sức dự trữ về kinh nghiệm sống và tổng kết lại cuộc đời, giáo dục, khuyên bảo con cháu, làm chỗ dựa tinh thần đạo đức cho thế hệ tương lai. Đó là tuổi mà đã có con cháu kế nghiệp, nối tiếp cả thể chất và tinh thần, chứa đựng mùa xuân, sinh nở mùa xuân, đông tàn xuân lại thêm tươi là vậy.

Mỗi độ tuổi có mặt ưu và mặt khuyết, mặt mạnh và mặt yếu, trong dòng thời gian, thường bổ sung cho nhau, đồng thuận, nhưng cũng thường mâu thuẫn- đối lập nhau. Đó là giữa trẻ thì nông nỗi và già thì chín chắn, trẻ thì táo bạo và già thì cẩn trọng, dè dặt, giữa trẻ thì nghĩ gần và già thì lo xa, giữa già thì nghĩ về quá khứ và trẻ thì nghĩ về tương lai… Người già do có kinh nghiệm nên thông minh hơn, chín chắn hơn, nhưng người trẻ thì mạnh dạn hơn, táo bạo hơn, nhạy cảm hơn nhưng cũng dễ sai lầm hơn. Người già trọng tinh thần đạo lý hơn, trẻ thì trọng vật chất hơn và cũng lãng mạn hơn. Tuổi trẻ ngày nay có điều kiện làm kinh tế và giàu có vật chất nhanh hơn thế hệ trước, nhưng nếu coi thường thế hệ trước là không đúng. Cần nhận thấy một cách sâu sắc rằng vật chất là một điều kiện của cuộc sống chứ không phải là tất cả. Giá trị cuộc sống vĩnh hằng, chủ yếu ở giá trị tinh thần chứ không phải ở vật chất. Cũng như vậy, tri thức ở lớp trẻ thì tân tiến hơn nhưng phần nhiều còn có tính chất sách vở, còn tri thức ở người già là thấm mồ hôi và nước mắt, có khi bằng cả máu, có sức nặng cả cuộc đời. Lắng nghe, học hỏi người có tuổi, khuyến khích tuổi trẻ phấn đấu và sáng tạo không ngừng mới là đúng đạo lý.

Dù thế nào chăng nữa thì cũng không thể bỏ đi tuổi già dù không ai muốn sống cảnh già yếu, bệnh tật, gần đất xa trời. Cũng không ai muốn sự dại dột, ăn chưa no, lo chưa đến, chưa có kinh nghiệm sống, tri thức còn nhiều hạn chế. Vấn đề là ở chỗ bổ sung lẫn nhau, dựa vào nhau như bụi tre, tre già măng mọc trong cuộc đời một gia đình, một tổ chức, một xã hội. Nâng đỡ nhau cùng phát triển chứ không phải chê bai nhau, loại trừ nhau, dù rằng cuộc đời và đời người sinh ra, lớn lên, mất đi là có qui luật của nó, sinh lão, bệnh, tử là lẽ thường của đạo người trong đất trời.

Thực ra thì có mâu thuẫn thế hệ và cũng có mâu thuẫn ngay trong từng người về mặt thời gian, chung quy là mâu thuẫn về thời gian, quá khứ, hiện tại và tương lai, cũ và mới… một cách tương đối. Vấn đề là giải quyết nó một cách tích cực, tạo ra sự đồng thuận cho sự phát triển.

Giá trị thời gian của đời người

Thời gian một đời người được đo như thế nào. Một người biết tích lũy kinh nghiệm, tri thức, tâm hồn và trí tuệ của cả quá khứ dân tộc và nhân loại, hiểu sâu sắc lịch sử, biết sống với quá khứ, tiếp thu giá trị của quá khứ để bồi bổ cho hiện tại, chuẩn bị cho tương lai, như vậy là thời gian của cuộc đời họ dài hơn rất nhiều thời gian sinh học mà họ sống.
Nhưng còn hơn thế nữa, nếu trong cuộc sống con người có nhiều quan hệ phong phú với đồng loại, những quan hệ trong công việc, quan hệ trong tình cảm, quan hệ trong phát triển trí tuệ, quan hệ trong sinh thành và phát triển. Đó là một cách sống tăng thời gian và tăng năng lực cũng là tăng giá trị cho cuộc sống.

Ngày nay có nhiều vấn đề mới mẻ, bí ẩn phải nghiên cứu, chẳng hạn đó là vấn đề thần giao cách cảm, trường sinh học. Đây là vấn đề phức tạp khoa học còn tìm hiểu. Nhưng về đại thể đó là một dạng thông tin sinh học mà những người có năng lực trường sinh học mạnh, cùng tần số có thể liên lạc với nhau như thế nào đó. Nhưng dù sao đây không phải là chuyện ma, quỷ, thần thánh mà những người bói toán thường hay lợi dụng đối với người cả tin. Những điều bí ẩn ở con người thực chất là có nguyên nhân sinh học sâu xa, các dạng trường và sóng hoạt động hết sức đặc biệt mà khoa học đang khám phá cho ta rõ hơn về chính những điều kỳ diệu về con người. Đó là những vấn đề hấp dẫn nhưng cũng là vấn đề khó khăn phức tạp nhất của khoa học. Nhưng mặt xã hội của con người làm sao để làm người một cách xứng đáng, sống một cách tự do và hạnh phúc cũng khó khăn, phức tạp gấp bội nhất là trong một xã hội còn áp bức, bóc lột, nghèo đói. Tuy vậy con người không bao giờ chịu khuất phục trước hoàn cảnh khách quan..

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Con người là trung tâm: sự khác biệt giữa hai quan điểm tiêu biểu

    26/10/2019PGS.TS. Hồ Sĩ QuýQuan niệm coi con người là trung tâm đã trở thành cách nhìn, cách nghĩ có sức hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà lý luận và các nhà hoạt động chính trị - xã hội...
  • Tiến tới một triết học về hợp tác vì sự giải phóng con người

    22/09/2015Nguyễn Trần BạtVượt thời gian là một khả năng tuyệt vời của nhận thức. Khả năng vượt thời gian cho phép người ta có thể truy đuổi, suy ngẫm về tương lai, hay ít nhất là chuẩn bị tiền đề tâm lý để đi đến với nó. Và ngay cả những người hôm nay đã tìm ra công nghệ để đi đến tương lai nếu trong quá trình tiến đến tương lai tiếp theo, tương lai cấp hai, vẫn khư khư giữ lấy bản đồ án của tương lai thứ nhất thì cũng sẽ trở thành kẻ bảo thủ trong giai đoạn thứ hai này. Cơ sở của công nghệ đi đến tương lai là tư duy không ngừng, lựa chọn không ngừng và loại bỏ không ngừng...
  • Vì con người hãy giúp con người

    20/09/2013Nguyễn Chu PhácLịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sức mạnh không ở mãi trong tay một người, văn minh không nằm mãi ở một vùng. Tự nhiên sẽ tiếp tục vận động, xã hội cũng vận động. Người nắm trong tay sức mạnh vật chất, đồng tiền và quyền lực hãy tỉnh táo cố tự ghìm mình. Kẻ ác sẽ phải trả giá cả về vật chất và tinh thần nặng hơn gấp nhiều lần điều ác mà họ gây ra...
  • Vấn đề con người, nhân văn trong triết học phương Tây hiện đại và chủ nghĩa duy vật nhân văn hiện nay

    28/02/2009TS. Hồ Bá ThâmVấn đề con người luôn luôn là sự quan tâm phân tích, luận bàn trực tiếp hay gián tiếp của các trường phái triết học xưa nay. Tuy nhiên, tùy theo mỗi thời kỳ lịch sử mà sự phát hiện và nghiên cứu về con người có góc độ và khía cạnh khác nhau. Chủ đề này không mới nhưng lại luôn luôn mang tính thời sự và chưa bao giờ cũ. Chúng ta khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh thì nhiều nhưng khám phá, tìm hiểu về con người, bản thân mình, như nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận, thì vẫn còn ít...
  • Cảm hứng triết luận trong khoa học xã hội và nhân văn hiện đại

    26/02/2009Hoàng Ngọc HiếnTừ cuối thế kỉ XIX, khoa học xã hội trở thành hiện đại, ngày càng chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá, quá trình này là tất yếu để đáp ứng sự nghiên cứu xã hội hiện đại trở nên ngày càng phức tạp. Trong thế kỉ XX, KHXH hiện đại có những đóng góp to lớn về định tính cũng như định lượng, tầm vi mô cũng như vĩ mô, tuy nhiên ở không ít nhà KHXH hiện đại bộc lộ những nhược điểm...
  • Cơ sở của sự hình thành và phát triển chủ nghĩa Duy vật Nhân văn

    21/02/2009TS. Hồ Bá ThâmĐể đưa đất nước phát triển lên giàu mạnh và văn minh, đi qua công nghiệp hóa hiện đại hóa, nền kinh tế thị trường, nền văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần phải xây dựng một tầm nhìn triết học và một nền triết học Việt Nam hiện đại. Có thể trọng tâm của việc xây dựng đó là tập trung vào việc phát triển triết học về con người và triết học về sự phát triển xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới của thời đại...
  • Chủ nghĩa Duy vật Nhân văn: Phương pháp luận nghiên cứu con người hiện nay ở Việt Nam

    13/02/2009TS. Hồ Bá ThâmĐây là một quan niệm mới của tác giả về lĩnh vực triết học nhân văn. Chungta. com cũng đã giới thiệu nội dung khái quát 2 cuốn sách của tác giả về chủ đề này. Để giúp bạn đọc rõ hơn, chúng tôi giới thiệu bài viết trực tiếp về nội dung chủ yếu của chủ nghĩa duy vật nhân văn và phương pháp luận của nó.
  • Con người – Chúa tể

    22/01/2009Hà Huy KhoáiBài viết này chỉ là những suy nghĩ tản mạn của một người "ngoại đạo" nhìn tiến hóa không phải với con mắt một nhà tự nhiên học, mà của một người "bình thường". Tôi bỗng giật mình nhận thấy, trong sự tiến hóa kỳ diệu của tự nhiên, phải chăng tạo hóa đã "lỗ" khi tạo ra con người: loài động vật "thượng đẳng" là nguyên nhân chính làm biến mất khỏi thế gian này bao nhiêu loài khác. Vả lại con người có phải là "thượng đẳng "hay không trong nấc thang tiến hóa?
  • Hồ Chí Minh với vấn đề con người

    06/12/2008Nguyễn KiênBắt đầu hoạt động cách mạng với những khái niệm “con người”, “quyền con người”, Hồ Chí Minh cũng khép lại cuộc đời mình với khái niệm “con người”, tuy với những nội dung có khác nhau…
  • Chỉ là một con người và một số phận

    21/11/2008Nguyễn Thành TrungGần nhà có một quán cóc nhỏ gọi là quán bà Trường, dân tình ngồi ở đấy thường là mấy tay xe ôm, mấy thằng sinh viên trong khu, và thỉnh thoảng có cả mấy ông công an phường....
  • xem toàn bộ

Nội dung khác