Làm khoa học

10:30 SA @ Chủ Nhật - 27 Tháng Tám, 2017

Khi đã có hàng chục tiến sĩ, hàng nghìn phó tiến sĩ, hàng chục vạn người có trình độ Đại học, thì đất nước đã có cái lót ở dưới cùng nền văn minh, làm móng vững chắc cho ngôi nhà khoa học được xây dựng trên nền tảng ấy. Chúng ta đã qua thời kỳ đổ móng ồ ạt và bây giờ đã đến lúc xây dựng có lớp lang, nghĩa là phải có cách tổ chức thích hợp. Trong bài này, tôi chỉ bàn tới cách tổ chức thích hợp với những người làm khoa học.

Thuật ngữ "làm" ở đây tôi hiểu một cách dân dã nhất, như làm ruộng. Nhà khoa học trước hết phải luôn luôn là người làm, tự làm lấy chứ không phải khuyên người khác làm, làm một cách thực sự, thực tiễn trong điều kiện kinh tế - xã hội thực tế, có trong tay, chứ không phải trên những điều kiện "giá như". Vì vậy, tôi cho rằng những người làm khoa học hãy tìm những cách khác nhau trên cùng những điều kiện thực tế như nhau. Vấn đề là cách làm.

Một cách làm cho một hiệu quả tối ưu theo nguyên lý của nó (nguyên lý sản xuất nông nghiệp, nguyên lý đại công nghiệp). Người nông dân lão luyện nhất chỉ có thể đạt năng suất cao nhất như làm phần ruộng 5%. Nhưng lịch sử tiến lên không phải bằng cách biến mọi cánh đồng thành ruộng 50%, trái lại phải làm cách khác. Nhà khoa học làm ruộng khác người nông dân giàu kinh nghiệm làm ruộng chính là ở cách làm, ở nguyên lý làm. Đương nhiên, cách làm mới có cơ sở lịch sử là cách làm cũ nhưng không phải nống nó lên, hay đôn nó lên cao hơn, mà là xây lên trên nền tảng ấy một nguyên lý mới - mới đến mức hình như trái ngược với kinh nghiệm cũ. Thí dụ, mấy ngàn năm rồi bà con ta quen mỗi năm gặt hai, ba, bốn lần, nay có thể tin được chăng thứ bảy nào cũng là ngày hội gặt! Một năm 52 vụ gặt! Kinh nghiệm của bà con ta ngay từ đầu đã coi cái ý nghĩ về 52 vụ gặt trong một năm đã là không đứng đắn, thì nói chi đến làm. Vây nên chỉ có một số ít, rất ít, ít lắm những người dám nghĩ đến chuyện "ngược đờí” ấy. Mỗi cá nhân phải dám nghĩ rồi mới dám làm. Còn như muốn thuyết phục bà con ta (không cứ gì nông dân đâu!) thì không phải nói lý với họ mà phải thật sự làm ra cho họ đủ 52 vụ gặt, không bỏ sót vụ nào. Nếu nhà khoa học làm được việc đó, thì rõ ràng là cách làm quen thuộc ngàn đời nay dẫu có kiễng lên, nhảy cẫng lên, cũng không tài nào với tới nổi. Đó là sự khác biệt giữa hai tầm cao lịch sử.

Cứ như tên gọi nguyên thuỷ, thuật ngữ "người làm khoa học" có nghĩa là người lần đầu tiên mở ra một hướng đi mới cho một cách làm mới. Ở thời đại chúng ta, làm khoa học có nghĩa trực tiếp là làm thật (như làm ra 52 vụ gặt), ít nhất cũng với tư cách làm ra một cái mẫu, một hình mẫu. Sau khi đã có mẫu, tức là cách làm đã được xác định, thì mới tính chuyện triển khai nó. Nghĩ như vậy, tôi thấy cần chia toàn bộ quá trình làm khoa học nói chung, xét trên phạm vi toàn xã hội (thậm chí trên toàn thế giới), ra ba cấp:

  • Một là: Cấp nghiên cứu (sáng chế, phát minh)
  • Hai là: Cấp phổ biến
  • Ba là: Cấp áp dụng rộng rãi.

Ba cấp ấy tương ứng với ba trình độ phát triển của đối tượng khoa học. Trình độ thứ nhất là chân lý khoa học hay hình mẫu mới (chỉ cần có một cái duy nhất). Với cấp phổ biến thì chân lý khoa học đã biến thành tri thức khoa học, thể hiện ở nhiều cái được dập nheo mẫu hoặc được in thành sách. Cuối cùng, khi đã được ứng dụng rộng rãi trong dân cư thì nó trở thành một vật dụng thường ngày làm nên đời sống hiện thực, hoà vào nền tảng văn minh của xã hội đương thời. Ba trình độ ấy tương ứng với ba quy mô làm: với chân lý khoa học là làm mẫu, làm hình mẫu. Sản xuất thử ứng với tri thức khoa học, còn vật dụng thường ngày là sản phẩm của quy mô sản xuất đại trà; cuối cùng, tương ứng với ba trình độ và ba quy mô ấy là cách cư xử của người làm khoa học cũng như với người làm khoa học.

Ở cấp nghiên cứu, người làm khoa học chỉ cần trung thành với đối tượng nghiên cứu. Lúc này, nói một cách tuyệt đối, không thể đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học bằng số phiếu bầu ở bất cứ Hội đồng nào (nếu được thì Ga-li-lê hoặc Anh-xtanh bị thiểu số thảm hại). Nhưng muốn chuyển sang cấp thứ hai thì trái lại, nhất thiết phải qua thủ tục bỏ phiếu vì bây giờ việc làm đã mang tính chất quản lý một cách trực tiếp, vì những lợi ích sống còn của xã hội ngay lúc ấy. Thí dụ, biểu quyết chế tạo bom hạt nhân (chứ không biểu quyết về nguyên lý làm nổ hạt nhân). Còn như đã đến cấp thứ ba, thì việc bỏ phiếu lại trở nên thừa.

Tổ chức lại toàn bộ quá trình làm khoa học trong giai đoạn mới, theo tôi là tổ chức hệ thống việc làm ở cả ba cấp. Nếu xét theo biên chế thì ta có hình ảnh kiểu tổ chức hình chóp, đáy là những người hoạt động tại cấp thứ ba. Số người này vốn đã rất nhỏ so với dân cư, thì những công trình nghiên cứu cấp cao hơn không thể là việc làm ồ ạt của số đông, mà phải có tổ chức chặt chẽ, giao cho những chuyên gia giỏi nhất đảm nhiệm. Thật ra, đó là cách cư xử tự nhiên và cũng vì vậy mà bao giờ người ta cũng lấy trình độ cao nhất làm biểu trưng cho một nền văn minh. Hậu quả tự nhiên của kiểu tổ chức ấy biểu hiện cụ thể ở chính sách và thái độ cư xử cụ thể thích hợp với những cá nhân hiện thực trong cơ cấu tổ chức ấy. May sao, bản thân công trình khoa học (ở cả ba cấp) đã là phần thưởng cao quý cho các cá nhân hiện thực làm ra chúng, xét về mặt tinh thần, thành ra về mặt quản lý xã hội ta chỉ còn lo thêm mặt vật chất nữa - tiền lương, mọi chi phí về thiết bị, phương tiện.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Nhận thức thế giới trong thời đại thông tin

    01/02/2018Nguyễn Trần BạtCon người có thể nhận thức thế giới hay không là một câu hỏi hóc búa không chỉ với các nhà triết học mà còn với cả nhân loại. Tuy nhiên, không chỉ giữa các nhà triết học duy tâm với các nhà triết học duy vật, mà ngay cả giữa những nhà triết học duy tâm với nhau hay giữa các nhà triết học duy vật với nhau cũng có những mâu thuẫn nhất định trong việc trả lời câu hỏi này. Vậy chân lý nằm ở đâu?
  • Sự phát triển của nhân loại trong quan hệ với tri thức

    07/10/2016Bùi Quang MinhBài viết này mô tả sự kiến tạo kiến thức của loài người trong ngữ cảnh "chuỗi" biến đổi lớn về văn hoá và nhận thức xảy ra trong quá khứ và dự báo tương lai...
  • Một số vấn đề triết lý hiện đại

    28/12/2015Đỗ Kiên CườngVới tư cách là triết học tự nhiên, vật lý có vai trò quan trọng trong bản thể luận và nhận thức luận. Dưới đây là một số nhận thức cá nhân về các vấn đề triết lý, cũng như mối quan hệ giữa vật lý hiện đại cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Dưới đây là một số nhận thức cá nhân về các vấn đề triết lý, cũng như mối quan hệ giữa vật lý hiện đại với các lĩnh vực khoa học khác...
  • Tiếp cận một số vấn đề về nhận thức khoa học

    07/01/2015TS. Bùi Mạnh HùngLý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức cũng như về con đường, phương pháp nhận thức…Từ trước đến nay,vấn đề nhận thức luôn là một trong những bộ phận cơ bản của khoa học triết học. Hiện tại, vấn đề nhận thức khoa học vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và phát triển nhằm giúp cho con người ngày càng hoàn thiện hơn những tri thức của mình về bức tranh thế giới hiện thực..
  • Khoa học cứng và khoa học mềm

    03/12/2010Laurent Mucchielli, Đặng Mộng Lân dịchKhoa học cứng và khoa học mềm: khác nhau về đối tượng giữa khoa học về tự nhiên và các khoa học về con người và xã hội, nhưng cùng một phương pháp tiến hành...
  • Liệu triết học có phải là khoa học không?

    28/04/2010“Có thực triết học là khoa học không?” gắn với sự nghi ngờ về tính chất của ngành này là một câu hỏi khoa học chân chính, một câu hỏi triết học đối với chúng ta. Triết gia và những người quan tâm đến triết học cần phải nhìn lại, nhận thức đúng về ngành Triết học để soi lại mình và định hướng để cho triết học phát triển tiếp.
  • Tư tưởng hệ hóa và nghiên cứu ứng dụng

    15/11/2005Đỗ LongKhi một hệ tư tưởng đã hình thành thì đồng thời cũng xuất hiện khả năng và nhu cầu tư tưởng hệ hóa. Và khi hệ tư tưởng đã chiếm địa vi thống trị thì quá trình tư tưởng hệ hóa càng có điều kiện thực hiện...
  • Các giới hạn của khoa học

    13/11/2005Trịnh Nguyên Huân (dịch)Wigner đã xuất phát từ sự tăng trưởng của khoa học để đi đến các giới hạn tự nhiên của khoa học mà nói cho đúng là khoa học “của chúng ta”. Các giới hạn đó, theo cách hiểu ấy về khoa học nằm trong trí tuệ của con người, trong khả năng ham thích và ham học của con người, trong ký ức và các phương tiện dùng cho sự giao lưu của con người, tất cả có liên quan đến một quãng đời nhất định của con người. Khoa học đó không thể tăng trưởng theo kiểu dịch chuyển một cách vô hạn với ngành mới sâu sắc hơn ngành cũ hay ít nhất cũng bao hàm ngành cũ, mà phải là một kiểu khác – sự dịch chuyển kiểu hai, kiểu dịch chuyển này có nghĩa là chúng ta không thể đạt đến sự hiểu biết đầy đủ cho dù là về thế giới vô tri vô giác.
  • Nhà bác học, thiên tài và trí tưởng tượng

    11/10/2005Đây là bài phỏng vấn nhà vật lý Mỹ nổi tiếng Richard Feynman của tạp chí La Recherche, được chọn là một trong những bài báo hay nhất trong số đặc biệt kỷ niệm 30 năm thành lập của tạp chí này...
  • Thử nêu mấy nét chủ yếu của phong cách tư duy khoa học hiện đại

    24/08/2005Phạm Duy HảiMột số ngành khoa học phi cổ điển đầu tiên đã ra đời từ cuối thế kỷ 19, song khoa học hiện đại chỉ thực sự ra đời do cuộc cách mạng vĩ đại trong khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XX. Mở đầu là thuyết lượng tử, đến thuyết tương đối, và đặc biệt là cơ học lượng tử. Các lý thuyết khoa học vĩ đại này đã làm thay đồi căn bản lối suy nghĩ về tự nhiên và hình thành một phong cách tư duy khoa học mới, gọi là phong cách phì cổ điển...
  • Về sức khoẻ của tư duy

    19/07/2005Tương laiKhông khó khăn lắm để bắt gặp đâu đó quanh ta những người còn rất trẻ những cách suy nghĩ thì quá cũ kỹ, nhạt nhoà, ngược lại có người tuổi cao thậm chí rất cao, nhưng cách nghĩ lại rất trẻ trung, khoáng đạt. Tuy vậy, thực tế đó không bác bỏ một sự thật cũng rất dễ kiểm nghiệm là tuổi trẻ tiếp cận với cái mới, dễ dị ứng với sự trì trệ, không cam chịu với những cái đã quen đang bào mòn sức sống, lẽ sống. Họ không chịu dễ dàng dẫm theo những lối mòn làm chùn bước khát vọng khám phá. Đương nhiên, không phải người trẻ tuổi nào cũng có được cái đó, nếu giả dụ được cả như vậy, thì thật phúc lớn cho dân tộc!
  • Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học

    05/07/2005Nguyễn Quang A dịchTiểu luận này là báo cáo được xuất bản đầy đủ đầu tiên về một công trình khởi đầu được hình dung ra gần mười lăm năm trước. Khi đó tôi là một nghiên cứu sinh về vật lí lí thuyết sắp hoàn thành luận văn của mình. Một sự dính líu may mắn với một cua thử nghiệm dạy khoa học vật lí cho người không nghiên cứu khoa học đã lần đầu tiên đưa tôi đến với lịch sử khoa học. Tôi hoàn toàn ngạc nhiên, rằng việc tiếp xúc với lí thuyết và thực hành khoa học lỗi thời đã làm xói mòn triệt để một số quan niệm cơ bản của tôi về bản chất của khoa học và các lí do cho thành công đặc biệt của nó.
  • Bàn về thông tin khoa học

    29/06/2003Giáo sư Phan Văn DuyệtChúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin khoa học. Thế nhưng vẫn còn những điều đáng bàn về thông tin khoa học đại chúng ở nước ta...
  • xem toàn bộ

Nội dung khác