Chủ nghĩa duy kỹ thuật phương Tây và quan niệm của nó về tự do và tất yếu

Dương Thị LiễuTạp chí Triết học
02:47' CH - Thứ bảy, 18/11/2006

Vấn đề con người, vai trò của nó trong tiến trình lịch sử là một trong các vấn đề quan trọng nhất đối với triết học phương Tây hiện đại. Xét từ góc độ định hướng thế giới quan của triết học phương Tây hiện đại, có thể tách biệt thực chứng chủ nghĩa và chủ nghĩa duy lý trong việc khảo cứu con người.

Đặc trưng cho mỗi loại thế giới quan ấy là quan niệm riêng về bản chất con người, là các đạo về tự do và tất yếu. Đặc trưng vốn có ở chủ nghĩa thực chứng trước hết là tư tưởng phản nhân đạo, là việc khước từ lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa truyền thống về con người, là ý đồ phủ định khả năng của tự do trong hoạt động con người và tham vọng đạt tới nhận thức “thuần túy khoa học" về con người. Định hướng thế giới quan của chủ nghĩa thực chứng thường được thể hiện trong các quan niệm chung của nó về con người, về kỹ thuật và trong cách tiếp cận của nó đối với vai trò của nhân tố chủ quan trong đời sống xã hội. Xét từ góc độ này, có thể nói, đặc trưng chung trong các trào lưu thực chứng chủ nghĩa là coi nhẹ, thậm chí còn hoàn toàn phủ định vai trò chủ thể của con người trong tiến trình lịch sử, không thừa nhận hoạt động tự giác của con người trong sự phát triển xã hội, phủ nhận vai trò của con người trong tiến trình văn hóa - xã hội khi tuyệt đối hóa mặt khách quan của đời sống xã hội. Mô hình hiện thực xã hội mà chủ nghĩa thực chứng đưa ra là mô hình mà trong đó, con người bị biến thành cái "đinh vít" trong "cỗ máy xã hội", còn hoạt động của con người là hoạt động độc lập.

Quan điểm duy kỹ thuật này giữ một vị trí quan trọng trong khuynh hướng thực chứng chủ nghĩa của triết học phương Tây hiện đại. Xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX, quan điểm duy kỹ thuật phát triển và đạt tới đỉnh điểm ở nửa sau thế kỷ XX với kỳ vọng chiếm địa vị thống trị trong triết học hiện đại. Các quan điểm ấy thể hiện rõ nhất trong các học thuyết về xã hội công nghiệp, xã hội hậu công nghiệp, và xã hội thông tin (L. Norman, L. Winner)... ảnh hưởng của chúng về mặt lý luận, phương pháp luận và trong ý thức thực chứng phương Tây là rất lớn. Do vậy, việc phân tích chúng một cách có phê phán từ góc độ của vấn đề tự do và tất yếu có một ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận lẫn về mặt thực tiễn.

Để hiểu được thực chất của quan niệm duy kỹ thuật về vai trò của con người trong đời sống xã hội, xét từ góc độ tự do và tất yếu, cần phải làm rõ cơ sở lý luận - phương pháp luận của toàn bộ khuynh hướng duy kỹ thuật, tức là các tiền đề triết học của chủ nghĩa duy kỹ thuật (chủ nghĩa kỹ trị). Trong các quan điểm duy kỹ thuật - quan điểm hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc của chủ nghĩa thực chứng, trọng tâm được đặt vào vai trò của kỹ thuật và của khoa học trong đời sông xã hội. Được coi là trung lập về mặt xã hội và độc lập với chủ thể, khoa học và kỹ thuật được tuyên bố là nhân tố phát sinh của sự phát triển xã hội, nhân tố tự động bảo đảm tiến bộ xã hội. Người ta cho rằng, "kỹ thuật đó là nguồn gốc sinh ra sức sống của hệ thống kinh tế... là nhân tố quyết định cuộc sống con người", sự biến đổi của nó sẽ "kéo theo những biến đổi trong lĩnh vực chính trị và quan hệ xã hội". Từ đó, một kết luận đã được rút ra là: Khoa học và kỹ thuật, chứ không phải quan hệ sản xuất xã hội, hoàn toàn quy định tính chất và định hướng của tiến bộ xã hội. Xuyên tạc bản chất và vai trò xã hội của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, chủ nghĩa duy kỹ thuật đã tách biệt một cách tuỳ tiện khoa học và kỹ thuật ra khỏi điều kiện kinh tế - xã hội mà trong đó, chúng hình thành và phát triển. Qua đó, khoa học và kỹ thuật đã được tuyên bố là cơ sở của toàn bộ hệ thống xã hội, các quy luật phát triển của chúng dường như là cái quyết định tương lai của xã hội.

Theo chúng tôi, nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy kỹ thuật là quyết định luận công nghệ quyết định luận tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố khoa học - kỹ thuật trong lịch sử như là tiêu chí duy nhất của tiến bộ xã hội. Theo nguyên tắc quyết định luận công nghệ, "những biến đổi về công nghệ tất yếu phải là cơ sở đầu tiên cho sự cố về xã hội, cho hoạt động thực và tư tưởng". Theo H. Vilenxki và Ch.Lơbơ (Ch.Lebeaux), những biến đổi về công nghệ là nguyên nhân cơ bản hơn, quan trọng hơn so với những biến đổi xã hội khác. Từ đó, họ suy ra rằng, có thể quy mọi vấn đề xã hội về vấn đề kỹ thuật và giải quyết những vấn đề ấy "nhờ các phương tiện kỹ thuật".

Theo quan điểm mácxít, đây là chủ nghĩa xã hội học tầm thường, mưu toan quy giản tiến bộ xã hội về tiến bộ khoa học - kỹ thuật, logic của sự phát triển xã hội về logic nội tại của sự phát triển kỹ thuật, coi tiến bộ xã hội là hệ quả trực tiếp của sự phát triển khoa học - kỹ thuật. Chính vì vậy mà chủ nghĩa duy kỹ thuật không có khả năng thâm nhập vào bản chất của các quá trình và hiện tượng xã hội, nó chỉ cố gắng làm lu mờ các đối kháng chính trị - xã hội của chủ nghĩa tư bản và đưa ra quan niệm coi tương lai của nhân loại là cái phụ thuộc vào tốc độ và nhịp độ của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, khi cố loại bỏ vai trò của các quan hệ sản xuất, đem chúng đối lập với hệ thống “khoa học - kỹ thuật".

Bản chất của quan điểm quyết định luận công nghệ được L.Oaitơ (L.White) trình bày dưới dạng đầy đủ nhất. Ông xem xã hội như là "tổng thể ba tầng nằm ngang: tầng công nghệ là cơ sở, tầng triết học nằm trên cùng và tầng xã hội học nằm ở giữa Hệ thống công nghệ vừa là cơ sở, vừa là nguyên nhân. Hệ thống xã hội là chức năng của công nghệ, còn hệ thống triết học phản ánh tiềm lực công nghệ và hệ hống xã hội. Nhân tố công nghệ quyết định toàn bộ hệ thống văn hóa”. Như vậy, hệ thống xã hội đã được ông coi là cái phụ thuộc vào hệ thống công nghệ, còn quan hệ xã hội thì hoàn toàn do quan hệ khoa học - kỹ thuật quyết định. Với quan điểm này, ông đã phủ định mọi sự tự do của con người. Việc vận dụng triệt để quan điểm này vào thời hiện đại đã đưa chủ nghĩa duy kỹ thuật tới kết luận rằng, cách mạng khoa học - kỹ thuật đã loại bỏ tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với sự cải tạo căn bản hiện thực xã hội, rằng giờ đây, người ta có thể giải quyết một cách đơn giản và dễ dàng mọi vấn đề xã hội nhờ "phiên dịch" chúng sang ngôn ngữ của các vấn đề kỹ thuật. Hơn nữa, các đại biểu của chủ nghĩa duy kỹ thuật còn cho rằng, "công nghệ làm nảy sinh tư tưởng áp dụng khoa học và kỹ thuật như là các phương tiện để loại trừ mọi rối loạn xã hội, kiềm chế sự cạnh tranh giữa các giai cấp, các chủng tộc và bản thân nó có thể đưa ra các phương tiện để hạn chế những vấn đề này". Theo họ, kỹ thuật đang biến thành phương tiện thủ tiêu các mâu thuẫn giai cấp, cân bằng lợi ích và mục đích của lao động, của tư bản.

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy kỹ thuật, cơ chế chủ yếu để loại bỏ mâu thuẫn xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội vốn đã trở nên gay gắt là quá trình kỹ thuật hóa và hợp lý hóa quản lý xã hội. Trong chủ nghĩa duy kỹ thuật này, nguyên tắc "hợp lý hình thức" của M.Vâybơ (M.Weber) được coi là nguyên tắc tuyệt đối về sự phát triển của hệ thống xã hội và của cá nhân. Nhiều đại biểu của chủ nghĩa duy kỹ thuật công khai thừa nhận rằng, tư tưởng của M.Vâybơ có ảnh hưởng lớn tới chủ nghĩa duy kỹ thuật. Theo D.Ben (D.Bell), tư tưởng "tính hợp lý về chức năng" của M.Vâybơ đã phản ánh đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất của "thời đại công nghệ" hiện nay và là cái quyết định các quy luật hoạt động của toàn bộ hệ thống xã hội, quy định quan hệ của con người với xã hội và tự nhiên. Với quan niệm đó, D.Ben cho rằng, việc thực hiện nhất quán nguyên tắc lãnh hợp lý về chức năng là cái có khả năng bảo đảm cho hệ thống xã hội hoạt động hợp với mục đích đã lựa chọn và mang lại hiệu quả tối đa. Theo chúng tôi, việc chủ nghĩa duy kỹ thuật thừa nhận tư tưởng "tính hợp lý" của M.Vâybơ và phục tùng nó đã cho thấy rõ nguyên nhân dẫn tới chủ nghĩa phản nhân đạo của quan điểm duy kỹ thuật, dẫn tới thái độ xem con người như một thực thế hòan toàn phụ thuộc vào các hệ thống và cấu trúc kỹ thuật bên ngoài và xa lạ đối với nó và do vậy, như một thực thể không có tự do.

Theo M.Vâybơ, "tính hợp lý hình thức" đặc trưng cho bản chất của chủ nghĩa tư bản, đặc điểm nổi bật của nó là thái độ trung dung đối với bất kỳ mục đích nào của hoạt động con người, là “lý tính thuần túy kỹ thuật", phát triển theo các quy luật riêng của nó. Rằng, nguyên tắc "tính hợp lý hình thức" có nghĩa là sản xuất vì sản xuất và do vậy, cả con người lẫn nhu cầu của con người đều chỉ là phương tiện để thực hiện nguyên tắc ấy, là nhân tố cần thiết cho hoạt động "chuẩn tắc" của sản xuất. Hoàn toàn chấp nhận tư tưởng ấy của M.Vâybơ, chủ nghĩa duy kỹ thuật hiện đại đã gắn liền tính hợp lý với sự thống trị của kỹ thuật, với việc thiết lập một "trật tự công nghệ" mà trong đó, vai trò quyết định không phải thuộc về con người và quan hệ xã hội, mà thuộc về "các nhân tố vô hồn" của hệ thống.

M.Vâybơ còn cho rằng, mức độ mà toàn bộ đời sống xã hội phục tùng nguyên tắc “tính hợp lý hình thức" sẽ dần tăng lên. Điều này cho thấy, ông thừa nhận trật tự hiện tồn sẽ nô dịch con người ngày một nhiều hơn. ở đây, chúng ta có thể nhận thấy ảnh hưởng của C. Mác đến M. Vâybơ trong vấn đề tha hóa. Theo M.Vâybơ, một mặt, vốn là thành viên của một tổ chức, là chuyên gia về một ngành nghề, khi hoàn thành các chức năng xã hội - nghề nghiệp nhất định, con người hoàn toàn phục tùng nguyên tắc "tính hợp lý hình thức"và bị biến thành "chiếc đinh vít" trong cỗ máy vô hồn ấy. Ở đây, con người không có tính chủ quan nào (thiện cảm, tình cảm…) và tự do nào. Mặt khác, con người có thể bộc lộ cá tính của mình ở bên ngoài hệ thống sản xuất, trong cuộc sống riêng tư và cả trong thời gian nhàn rỗi. Với quan niệm đó, ông cho rằng, chỉ có sự phân đôi của cá nhân mới có thể bảo đảm cho nó một sự tự do nhất định trong một xã hôi tồn tại theo nguyên tắc "tính hợp lý hình thức" và do vậy, không có “những giá trị cao cả nhất”. Tính nhân đôi, tính mâu thuẫn nội tại của con người, theo M.Vâybơ, là trạng thái bình thường, đặc trưng cho cá nhân tự do.

Theo chúng tôi, lập trường đó của M.Vâybơ (và của chủ nghĩa duy kỹ thuật) là sự gạt bỏ lý tưởng về cá nhân toàn vẹn và khẳng định tính hai mặt vốn có của tồn tại người như một chức năng trừu tượng. Xuất phát từ quan niệm coi sự thống trị của "lý tính kỹ thuật" là tất yếu, các đại biểu của chủ nghĩa duy kỹ thuật đã biện hộ cho địa vị vĩnh hằng, cho lợi ích và lý tưởng của giai cấp tư sản độc quyền. Chính vì vậy mà những người bảo vệ dân chủ đã lên tiếng phản đối chủ nghĩa duy kỹ thuật, ủng hộ cách tiếp cận dân chủ với các vấn đề phát triển kỹ thuật, khi họ đưa ra nhận xét xác đáng rằng, "việc loại những vấn đề kỹ thuật ra khỏi các cuộc tranh luận xã hội tất yếu sẽ dẫn tới các mối nguy hiểm đe dọa những khái niệm cơ bản như tự do và dân chủ”.

Căn cứ vào tư tưởng của M.Vâybơ về sự cần thiết phải quản lý sản xuất và xã hội một cách hợp lý, các đại biểu của chủ nghĩa duy kỹ thuật đã phân chia các thành viên trong xã hội thành hai nhóm: giới tinh hoa kỹ thuật có khả năng thực hiện sự quản lý hợp lý nhờ nắm được những tri thức khoa học - kỹ thuật cần thiết và đa số người lao động bị tách ra khỏi công việc quản lý. Dựa trên cách tiếp cận chức năng, họ tuyên bố rằng, tầng lớp kỹ thuật là cần thiết vì họ có khả năng thực hiện chức năng quản lý quan trọng nhất trong xã hội. Vai trò xã hội của nhà kỹ thuật và của "con người đại chúng" hoàn toàn do các quy luật phát triển nội tại của khoa học và kỹ thuật quy định. Song, bản thân vai trò này lại hoàn toàn không có giá trị ngang bằng. Các đại biểu của chủ nghĩa duy kỹ thuật coi "con người đại chúng" là những người sản xuất, là nhân tố không đáng kể trong cơ chế hoạt động tổng thể của xã hội công nghệ, hoàn toàn lệ thuộc vào công nghệ và họ gọi những người này là Homo economicus, Homo faber.

Theo chúng tôi, việc xây đựng một mô hình xã hội như vậy được thực hiện trên cơ sở tuyệt đối hóa mục đích hoạt động của con người như một "thành tố vô hồn" của hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa. "Con người đại chúng" hoàn toàn không có tính độc lập, có bản chất sáng tạo, mà chức năng của quá trình sản xuất, là “phần phụ của cỗ máy", hoạt động của no được quy định trước bởi các chuẩn tắc, các quan niệm thống trị trong xã hội và do "hệ thống công nghệ" gán cho nó. Theo quan điểm này thì "con người đại chúng" phải phục tùng và hành động theo nguyên tắc "tính hợp lý hình thức trong một xã hội không có các đối kháng giai cấp. Đây là một xã hội mà theo chủ nghĩa duy kỹ thuật, có đặc điểm đặc trưng là tính ổn định và vững chắc cao, còn nguyên tắc hoạt động cơ bản của nó là kỹ thuật hóa và hợp lý hóa để hài hòa hóa các quan hệ xã hội. Toàn bộ cuộc sống hiện tại và tương lai của "con người đại chúng" phụ thuộc một cách trực tiếp vào sự phát triển khoa học kỹ thuật. Theo V.Phơkixơ (V.Ferkiss), "con người ngủ nghê, ăn uống, hít thở như thế nào, sống trong căn nhà nào, tương tác với nhau về mặt văn hóa và xã hội ra sao, quản lý xã hội như thế nào - tất cả những cái đó đều phụ thuộc vào công nghệ mà họ sử dụng".

Như vậy, có thể nói, nếu M.Vâybơ còn để con người ngoài hệ thống sản xuất thì các đại biểu của chủ nghĩa duy kỹ thuật hiện đại đã tước bỏ luôn cả khả năng này của con người. Với họ, sự thống trị của "tính hợp lý hình thức" một khi đã trở nên phổ biến sẽ dẫn tới việc chuẩn tắc hóa đời sống tinh thần của con người, cào bằng các nhu cầu tinh thần và các phương thức đáp ứng những nhu cầu đó của họ và rất cục là thủ tiêu cá nhân tự do, quy sở thích của "con người đại chúng" chỉ còn ở việc tiêu dùng. Dựa vào sự tiến bộ khoa học - kỹ thuật và đồng. nhất nó với tiến bộ xã hội, với sự phát triển của các hệ thống thông tin và điều khiển hiện đại, các tư tưởng gia duy kỹ thuật tin tưởng rằng, rồi đây xã hội sẽ đạt tới một mức độ phúc lợi cao hơn, loại bỏ được đói nghèo, công việc lao động sẽ trở nên nhẹ nhàng, con người được nghỉ ngơi, vui vẻ. Nhưng, theo chúng tôi, đây thực chất chỉ là tự do làm cho con người thích nghi với điều kiện xã hội hiện tồn, và không hơn. Quan điểm duy kỹ thuật coi phúc lợi xã hội như là kết quả trực tiếp của một nền sản xuất có hiệu quả và hợp lý nhờ sự quản lý của tầng lớp kỹ thuật gia chỉ nhằm củng cố thái độ trung thành của tầng lớp chuyên gia khoa học - kỹ thuật, các nhóm công nhân có tay nghề cao đối với chế độ hiện tồn và kích thích khát vọng làm giàu ở họ, gán cho họ các nhu cầu thấp hèn, đồng thời che đậy địa vị bị áp bức của họ. Xét về phương diện này thì tư tưởng duy kỹ thuật là phản nhân đạo, vì nó chống lại lợi ích căn bản của quần chúng nhân dân lao động. Thay cho của cải vật chất mà "nền văn minh công nghệ" hứa hẹn, "con người đại chúng" hoàn toàn bị tước mất khả năng phát triển hài hòa và toàn diện, bị biến thành những con người chỉ còn biết tiêu dùng với những nhu cầu "chuẩn tắc" và các phương thức cũng "chuẩn tắc" để đáp ứng những nhu cầu đó, thành những con người chỉ biết hành động như cỗ máy do giới cầm quyền lập trình và vận hành. Cách đặt vấn đề như vậy đã xuyên tạc cả bản chất con người lẫn bản chất xã hội và không thể đưa ra câu trả lời cho vấn đề giải phóng con người khỏi "sự thống trị của kỹ thuật’. Những tư tưởng, quan điểm mà các đại biểu của chủ nghĩa duy kỹ thuật đưa ra chỉ nhằm hạ thấp vai trò tích cực cải tạo xã hội của con người trong lịch sử và qua đó, phủ định hoạt động tự do của con người.

Chủ nghĩa duy kỹ thuật phương Tây và quan niệm của nó về tự do và tất yếu
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,