Nghĩ thêm về bản sắc

09:27 SA @ Thứ Hai - 21 Tháng Mười Hai, 2009

Bây giờ thường nghe nói nhiều đến toàn cầu hóa và hội nhập, và mỗi khi nói đến hội nhập hầu như bao giờ cũng nghe kèm theo một chữ “nhưng” chặt chẽ và thận trọng: Hội nhập, đúng rồi, không thể không hội nhập trong thời đại ngày nay, nhưng phải luôn tâm niệm không được để mất bản sắc (cũng như hễ nói đến tiên tiến thì, nhưng, phải đậm đà bản sắc dân tộc). Nỗi lo mất bản sắc canh cánh. Cứ như hội nhập bao giờ cũng tất yếu đối lập với bản sắc và luôn có nguy cơ làm biến tạp, thậm chí tiêu tan bản sắc, dẫn đến “mất mình’.

Vậy có lẽ cũng nên thử nghĩ lại về bản sắc, thế nào là bản sắc? Cái vẫn được gọi là bản sắc của dân tộc được hình thành và biểu hiện qua suốt lịch sử, là cái gì vậy mà cứ phải ngay ngáy lo sợ nó biến mất khi hội nhập? Có phải đấy là một cái trời cho, mỗi dân tộc được cho một cái làm của báu riêng, không an giống ai, và cho một lần là xong, nhất thành bất biến? Bản sắc có lịch sử của nó không? Có thể thử lần lại lịch sử của bản sắc dân tộc không?

Gần đây việc tìm thấy di tích của một kinh thành Thăng Long cổ ở nơi định xây nhà quốc hội và hậu trường Ba Đình mới đã khiến dư luận cả nước xóm xao. Quả thật rất ấn tượng, dù phạm vi khai quật mới vỏn vẹn một hecta bảy trong tổng diện tích nghe nói lên tới mấy trăm hecta. Riêng tôi rất chú ý đến những di tích thời Lý, thời đại đầu tiên đã dựng nên Thăng Long để ngày nay chúng ta có thể tự hào có một thủ đô nghìn năm. Ngắm nhìn những gì đã được phơi lộ ra đó, không thể không tự nhiên nảy sinh một câu hỏi: tại sao sau một nghìn năm Bắc thuộc, dưới áp lực của một chính sách đồng hóa dữ dội của kẻ xâm lược chẳng hề hiền lành và là chủ nhân của một nền văn hóa rất lớn, tới đây lại bỗng bừng lên một cuộc phục hưng dân tộc rực rỡ đến thế? Hẳn suốt thời gian dằng dặc ấy nền văn hóa Việt đã không thể cưỡng lại, tồn tại, đối mặt với một nền văn hóa xâm lược, để rồi có thể nở tung đẹp đẽ khi độc lập đã được dành lại, nếu nó không có một bản sắc rất đậm, rất sâu. Bản sắc ấy là vậy và do đâu mà có được?

Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu công phu đã làm sáng tỏ một điều quan trọng: suốt thời kỳ Bắc thuộc, tập họp dân tộc trong công cuộc chống ngoại xâm kiên trì và kiên định, để cuối cùng giải phóng được đất nước, không phải là hệ tư tưởng Nho giáo, mà là hệ tư tưởng Phật giáo. Trong một nghìn năm đó người Việt đã không tiếp nhận Nho giáo bị áp đặt, trái lại đã dựa vào một sức mạnh văn hóa khác để chống lại sự áp đặt ấy. Như chúng ta đều biết, Phật giáo đã đến nước ta rất sớm, chủ yếu bằng con đường phía Nam (qua Champa hoặc qua biển), cả trước khi đến Trung Hoa; trung tâm Phật giáo quy mô và nổi tiếng ở Luỹ Lâu (Bắc Ninh) đã hình thành từ vài ba thế kỷ trước Công nguyên. Người Việt đã tiếp nhận phật giáo rất sớm, và đã hòa quyện nhuần nhuyễn văn hóa Phật giáo với văn hóa bản địa (văn hóa Hùng Vương?), tạo nên một nền văn hóa Việt riêng biệt, độc đáo và đặc sắc trước khi xâm lược Trung Hoa đến. Tức là bản sắc văn hóa Việt, cái bản sắc đủ cường tráng để không bị văn hóa bành trướng Trung Hoa tiêu diệt trong một cuộc đồng hóa dữ dội và hết sức kéo dài ấy, là kết quả một cuộc hội nhập thành công của người Việt với một cái khác mình. Đây có thể coi là cuộc hội nhập đầu tiên của dân tộc, kể từ khi dân tộc có lịch sử. Và bài học lớn ở đây là: Người ta chỉ có thể trở thành phong phú và cường tráng chính bằng khả năng hội nhập được với cái khác mình. Bản sắc mới được hình thành trong chính quá trình tiếp nhận thành công đó. Bản sắc không phải là cái có sẵn trước, được trời cho, và cho một lần là xong luôn, cố định; nó xuất hiện và tự khẳng định chính bằng hội nhập, biến đổi và phát triển do hội nhập. Nó là hiện tượng động, và chỉ có thể có sức mạnh lớn khi có khả năng động, chứ không đứng im, đóng chặt. Bản sắc văn hóa Việt thời bấy giờ đã mạnh đến mức nó từng tạo nên những hiện tượng văn hóa xã hội kỳ lạ: đã xuất hiện cả những thời kỳ độc lập tương đối ngay trong lòng thời gian dài bị đô hộ, và cũng đã có trường hợp người bị thống trị đồng hóa ngược trở lại chính kẻ đi thống trị và đồng hóa, như trong trường hợp Sĩ Nhiếp. Không phải người Việt bị Hán hóa, mà là quan cai trị Sĩ Nhiếp bị (hay được) Việt hóa!... Đây là cuộc chuyển động bản sắc quan trọng lần thứ nhất.

Sau khi thoát khỏi ách Bắc thuộc, giành lại nền độc lập tự chủ, người Việt lại có một cuộc tiếp biến văn hóa thứ hai, khá độc đáo: chủ động tiếp nhận Nho giáo, mà họ đã ra sức cưỡng lại trong suốt một nghìn năm bị đô hộ trước đó. Vì sao? Nhiều tác giả đã chỉ ra khá thuyết phục nguyên nhân của ứng xử văn hoá có vẻ kỳ lạ này: Việt Nam vốn thuộc Đông Nam Á cổ, mà một đặc điểm quan trọng là tổ chức nhà nước theo lối liên hiệp các tiểu quốc (đi đôi với chế độ truyền hiền - chứ không phải truyền tử v.v...), ít nhiều có tính “dân chủ”, nhưng lại rất dễ bị đánh tan tành trước các cuộc xâm lược của Trung Hoa từ nay trở thành mối đe dọa thường trực. Người Việt chủ động học lấy Nho giáo là học một lối tổ chức nhà nước quân chủ trung ương tập quyền mạnh, như kiểu Trung Hoa, để đủ sức đối phó với xâm lược Trung Hoa. Tức ở đây có một ứng xử văn hóa lạ, tạo nên một bước chuyển mới trong bản sắc của dân tộc: chủ động từ bỏ tính chất bản địa (Đông Nam Á) gốc của mình, chủ động tự thay đổi theo cái khác mình, vì chỉ làm như vậy thì mới có thể giữ được mình, độc lập dân tộc của mình. Hoá ra quyết liệt từ chối (trước đây) là để giữ vững bản sắc, mà chủ động tiếp nhận, hoà nhập lúc này cũng là để giữ lấy và phát triển bản sắc. (Thực ra người Việt đã tiếp nhận Nho giáo chủ yếu ở tầng “trung ương”, trong khi vẫn giữ một thứ văn hoá tự trị kiểu Đông Nam Á ở tầng xã, tức là trong đời sống bình thường của người dân, bình thường nhưng lại là nền tảng của xã hội. Chính mỗi khi mối quan hệ cân bằng này bị phá vỡ thì xã hội sẽ lâm vào khủng hoảng).

Trong ứng xử này có thể nhận ra nhiều mặt khác nhau: một thái độ sẵn sàng mở, và linh hoạt trong mở. Chúng ta là một nước nhỏ, nằm kẹp giữa hai quốc gia và hai nền văn hóa vào loại lớn nhất của nhân loại không biết ứng xử linh hoạt và thông minh như vậy thì rất khó bề tồn tại. Từ rất sớm cha ông ta đã hiểu sâu sắc muốn giữ được mình thì không thể co thủ đóng kín, mà phải khôn khéo thay đổi theo cái khác mình, chắt lọc lấy ở đấy những gì có lợi nhất cho mình, tự làm mạnh thêm mình lên bằng những yếu tố ngoại nhập được tiêu hoá nhuần nhuyễn. Song cũng chính ở đây lại có mặt thứ hai: tiếp nhận chủ yếu là để đủ sức tồn tại, do vậy chỉ nhằm “hớt” lấy ngay những gì có lợi tức thì, có thể dùng trực tiếp cho mục đích tồn tại, không đi sâu đến cùng, không triệt để trong tiếp nhận. Tức có khía cạnh thực dụng. Tiếp nhận Phật giáo và Nho giáo đều vậy. Phật giáo, vốn là một tôn giáo có hệ thống tư tưởng triết học hết sức uyên thâm, khi đi vào nước ta một mặt đã được tiếp nhận “như một hệ thống điển huấn, một hệ thống pháp luật có thể sử dụng được để quản lý đất nước, quản lý xã hội, chứ không phải như một hệ thống niềm tin, hệ thống giáo lý... Khuynh hướng chính trị hóa hệ tư tưởng Phật giáo, đặc biệt là hệ thống giới luật là một nét đặc trưng của các tác phẩm Phật giaos tại nước ta trong mấy thế kỷ đầu...” (1). Ở cấp nhà nước là như vậy. Còn trong dân gian, thì nó chủ yếu hoà quyện làm một và làm sâu đậm thêm đạo lý nhân ái từ bi vốn có của con người... Nho giáo cũng được tiếp nhận chủ yếu “thực dụng” như thế: một học thuyết cai trị. Đạo lý Nho giáo cũng là để tạo nền tảng xã hội cho sự cai trị đó. Tính triết học rất mờ nhạt.

Có lẽ ở chỗ này ta rất khác Nhật Bản và Triều Tiên, hai nước cũng Đông Á và cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ như ta: tiếp nhận của ta không đưa đến hình thành được một hệ thống triết học của riêng mình, cho riêng mình. Có phải chính điều đó dẫn đến tính cách thường không thật triệt để, thói dở dang trong tư duy thường thấy ở ta? Và nếu thế thì hẳn không thể không ảnh hưởng đến con đường lịch sử và số phận của dân tộc...

Và qua đây cũng có thể hiểu thêm: nếu bản sắc không phải là một vật, vật cụ thể này hay vật cụ thể nọ, mà là một kiểu cách ứng xử, một kiểu cách lựa chọn đặc trưng của một cộng đồng trước những thách thức khác nhau (sống, nói theo cách nào đó chính là lựa chọn, lựa chọn cái này hay cái khác, kiểu này hay kiểu khác), thì bản sắc có thể không chỉ gồm những gì là tích cực, tốt đẹp nhất, trong bản sắc cũng có thể có những mặt nhược điểm này nọ. Vậy không nhất thiết bao giờ cũng phải quyết khư khư giữ chặt bản sắc. Thay đổi được bản sắc của mình cũng là một biểu hiện sức mạnh tinh thần của một cộng đồng, hay một con người.

Lần tiếp biến thứ ba quan trọng trong lịch sử là với văn hóa Champa, trên đường đi về Nam. Khác lần trước, lần này người Việt ở tư thế kẻ chiến thắng, chủ động, chứ không phải phải bị động đối phó. Cũng có thể có điều đáng lưu ý: nói theo một cách nào đó thì khi người Việt đi vào Nam cũng tức là “đi về’, đi về với cái gốc Đông Nam Á của mình, sau gần một nghìn năm phải Nho hóa để tồn tại. Nhìn chung đã diễn ra một cuộc hòa hợp văn hóa tốt đẹp. Cuộc trở về này đã làm mềm bớt đi và cởi thoáng ra hơn sự cứng nhắc do một nghìn năm Nho hoá buộc chặt. Người Việt đã học được rất nhiều của văn hóa Champa, từ ẩm thực (từ văn hóa tương đến văn hoá nước mắm ...) cho đến canh tác (lúa Chiêm, cho phép làm hai vụ/ năm...), thủy lợi (xe nước lớn...), nghề đóng ghe bầu lớn và đi biển xa v.v...; và còn quan trọng hơn nữa, một cơ cấu kinh tế đa dạng vốn đã tồn tại ở đây từ tận thời Sa Huỳnh, kéo dài qua đến Champa ... ảnh hưởng Champa lên văn hóa Việt hết sức sâu đậm, và có lẽ cho đến nay còn chưa được nghiên cứu, đánh giá đúng mức. Thậm chí có nhiều điều lâu nay ta vẫn đinh ninh là hoàn toàn Việt, “thuần Việt”, là bản sắc riêng của Việc làm nên đặc sắc Việt, không thể lẫn lộn với bất cứ ai... thì lại rất có thể không hoàn toàn như vậy.

Rất có thể những cái đó mới hơn nhiều, được du nhập vào sau, đặc biệt trong cuộc hội nhập lần thứ ba này. Chẳng hạn như thể thơ lục bát, “hồn dân tộc” như chúng ta vẫn nói và tin đinh ninh. Nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký có lần nêu giả thuyết rất có thể người Việt đã học thể lục bát từ người Champa. Cho đến nay chưa có những chứng minh đủ thuyết phục cho giả thuyết này. Nhưng có một điều có thể chắc chắn: ít nhất cho đến Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) - là người có tinh thần dân tộc rất cao, lại rất am tường thơ ca tục ngữ dân gian, và là nhà thơ chữ Nôm rất sớm của văn học Việt Nam - thơ Việt còn hoàn toàn chưa biết tới lục bát. Lục bát chỉ xuất hiện khi người Việt đã đi rất sâu về Nam và hòa nhập đậm đà với văn hóa Champa. Như vậy không phải để nói rằng điệu lục bát không thấm đẫm bản sắc tâm hồn Việt, không phải là tiêu biểu cho bản sắc dân tộc, nhưng là để một lần nữa thấy rằng bản sắc không phải là một cái gì có sẵn, có trước, một lần cho mãi mãi. Nó có thể đến từ bên ngoài. Nó hình thành trong chính hội nhập. Nó có mặt trong đời sống dân tộc khi dân tộc tự phát triển được mình lên một nấc mới bằng tiếp nhận và tiêu hóa được cái khác mình.

Cuộc hội nhập với phương Tây phức tạp và vất vả hơn. Có thất bại chua cay, và thất bại chính là khi chủ trương đóng thắng chủ trương mở, khư khư giữ lấy cái gọi là “bản sắc dân tộc khăng khăng mù quáng bài ngoại, coi tất cả những gì đến từ bên ngoài đều là “man di mọi rợ”, rốt cuộc không đi đến được một công cuộc canh tân để đưa đất nước vượt lên kịp thế giới bấy giờ không còn chỉ gồm thiên triều Trung Hoa với các chư hầu của nó mà đã rộng ra mênh mông, với một phương Tây tân tiến, năng động. Cuộc lỡ thời cơ lịch sử lớn (lớn nhất trong lịch sử và số phận dân tộc) gắn liền với cách quan niệm về bản sắc. Mới hay cách hiểu “bản sắc” quan trọng đến dường nào. Và rất nhiều khi - như tiêu biểu nhất là thời nhà Nguyễn –“bản sắc” trở thành chiêu bài của những quyền lực bảo thủ nhân danh dân tộc mà thực chất là nhằm bảo vệ quyền lợi ích kỷ của mình.

Thời bấy giờ từng có một con người không chỉ không bảo thủ ôm chặt lấy cái gọi là “bản sắc” dân tộc, mà thậm chí còn coi chính cái đó (văn hóa) là nguyên nhân mất nước. Người ấy là Phan Châu Trinh. Khác với tất cả những người đương thời, thậm chí khác với cả những nhà canh tân trước đó, như Phạm Phú Thứ người chủ yếu thấy cần cấp thiết học khoa học kỹ thuật phương Tây, như Nguyễn Trường Tộ hay Nguyễn Lộ Trạch đã tiến tới những đề nghị thay đổi về chính trị, Phan Châu Trinh là người đầu tiên “đã đi sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản về văn hóa xã hội Việt Nam, thấy rõ (đó chính là) nguyên nhân sâu xa đưa đến mất nước, bị đô hộ ngày càng khốc liệt…”(Hoàng Xuân Hãn) (2). Phan Châu Trinh đã đi xa hơn tất cả: ông đi đến tận văn hoá. Ông chủ trương phải thay đổi văn hóa. Ông mạnh mẽ đòi hỏi vứt bỏ đi cái vẫn được coi là “bản sắc”, thay đổi nó đi, tạo nên bản sắc mới, tân tiến, kịp với thế giới. Có một chi tiết rất đáng chú ý trong tiểu sử ông: ông đã lấy biệt danh là Hy Mã, không phải là Hy Mã Lạp Sơn như ta có thể tưởng, mà là hy vọng ở Guiseppe Mazzini nhà cách mạng tư sản Ý nổi tiếng thế kỷ XIX ông không còn tìm thấy thần tượng cho mình ở phương Đông nữa, ông đi tìm ở phương Tây... Đây là một cách hiểu bản sắc văn hóa thật độc đáo, táo bạo và sáng suốt, một sự lựa chọn hết sức đặc sắc. Lịch sử đã éo le không đi theo con đường Phan Châu Trinh. Đất nước đã lỡ mất một cuộc canh tân, sâu sắc từ tận trong văn hoá, để tạo nên một bước phát triển mới tốt đẹp về bản sắc, có thể thay đổi số phận dân tộc...

Cuộc giáp mặt với văn hóa phương Tây còn có thể có những khía cạnh khác rất đáng nghiên cứu kỹ hơn. Chẳng hạn thành công khi tiếp nhận những giá trị lớn của nền văn hóa Pháp, vượt qua được mục đích thực dân hóa của kẻ xâm lược, đưa nền văn hóa và văn học Việt Nam bước hẳn sang thời kỳ hiện đại. Trong thực tế có thể nói chính những lý tưởng dân chủ cao đẹp được truyền qua văn hóa Pháp đã góp phần quan trọng tạo nên cả một thế hệ những nhà cách mạng Việt Nam. Cũng chính ảnh hưởng của văn hóa và văn học Pháp đã có ý nghĩa quyết định trong sự hình thành nền văn học hiện đại Việt Nam, còn tiếp tục cho đến ngày nay. Mặt khác cũng không thể không chú ý đến những tiếp nhận giáo điều một số lý thuyết Phương Tây đã có tác động phá vỡ một số tế bào cơ bản từng tạo nên sức sống bền vững của xã hội Việt Nam, để lại hậu quả khó lường...

Thử nhắc lại một cách hết sức sơ lược một số chặng đường lịch sử của bản sắc văn hoá Việt như vậy, có lẽ cũng đã cho phép chúng ta thấy rằng hóa ra cái vẫn được coi là bản sắc cũng có những thăng trầm của nó. Nó chẳng hề là một cái gì đứng im để cho ta có thể khư khư giữ chặt. Nó là một phạm trù lịch sử, được hình thành trong lịch sử, do những điều kiện khác nhau của lịch sử, là hiện tượng động chứ không phải tĩnh. Nó là của con người, tức là một cơ thể sống, và cũng như mọi cơ thể thật sự sống, nó chỉ có thể sống bằng quá trình “trao đổi chất” (métabolisme) với môi trường chung quanh. Nó không mâu thuẫn đối lập với hội nhập, thậm chí ngược lại chỉ có thể tồn tại và phát triển bằng hội nhập. Nó sống bằng thường xuyên tiếp xúc, trao đổi với cái khác mình.


(1) Trong bài viết Trí thức, toàn cầu hoá, bản sắc dân tộc trong phát triển, Vũ Quang Việt cũng nói đến nghi vấn này về nguồn gốc thể lụa bát trong thơ Việt. Tác giả còn nói đến cả “vần lưng (yêu vận) “được Xuân Diệu coi là dân tộc nhất, cũng mãi đến Thiên Nam Ngữ Lục cuối thế kỷ XVII) mới thấy có.

(2) Hoàng Xuân Hãn, trong Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới NXB. Dà Năng 2003 - Tập II, tr. 750.

Nguồn:
FacebookTwitterLinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Sức sống Việt

    28/01/2015Nguyễn Bỉnh QuânTa có năm đặc điểm văn hóa Việt để đi sâu nghiên cứu có thể thấy những nét bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó chính là sức sống Việt, sức sống của dân tộc, quốc gia. Bản sắc ấy, sức sống ấy sẽ chuyển hóa như thế nào, đưa chúng ta tới đâu, giúp chúng ta tới đâu trong cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa trong tình cảnh toàn cầu hóa... câu trả lời sẽ trở thành sức sống Việt thời mới.
  • Văn hóa Việt thời… WTO: Trước tiên, hãy xã hội hóa cái đầu!

    23/06/2016Lan NgọcThế nhưng để “bơi ra biển lớn” hay đặt chân vào “thế giới phẳng”, ta cũng phải đối mặt với không ít thách thức. Và một trong những thách thức đó là xu hướng “nhất thể hóa” và “toàn cầu hóa” văn hóa… Văn hóa và hội nhập dường như đang trở thành một trong những chủ đề thời sự “nóng hổi” khi cả dân tộc “bơi ra biển lớn"...
  • Tính lạc hậu tương đối của Văn hoá

    25/05/2016Nguyễn Trần BạtTrong số những cuộc xung đột, những xung đột về văn hóa tuy không phải luôn hữu hình và quyết liệt, nhưng âm thầm, bền bỉ, dai dẳng và có sức cản rất lớn đối với tiến trình phát triển chung của nhân loại. Nghiên cứu về tính lạc hậu tương đối của văn hóa với tư cách một thuộc tính tự nhiên của văn hóa và ảnh hưởng của nó đối với tiến trình phát triển và toàn cầu hóa là việc làm rất quan trọng, bởi nó sẽ giúp các dân tộc hạn chế khả năng xảy ra xung đột trên cơ sở đó, khai thác những ảnh hưởng tích cực của văn hóa...
  • Toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa

    21/01/2015Đinh Quang TổnToàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan. Chủ động hội nhập là khẳng định đường hướng có chiến lược, có chiến thuật, có kế hoạch cho tùng bước đi. Chủ động hội nhập sẽ khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất...
  • Tư tưởng canh tân sáng tạo nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX của chí sĩ Phan Châu Trinh

    26/09/2014Đỗ Hòa HớiVới sự nghiệp đổi mới, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa và hiện đại hóa văn hóa dân tộc đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Qua tìm hiểu chí sĩ Phan Châu Trinh, chúng tôi thấy ông là một tấm gương mạnh dạn canh tân và sáng tạo nền văn hóa dân tộc vào thời điểm đầu thế kỷ XX.
  • Ảnh hưởng của văn hóa lạc hậu đối với tiến trình phát triển

    04/08/2014Nguyễn Trần BạtVăn hóa và phát triển có mối quan hệ biện chứng sâu sắc. Nếu có bề dày kinh nghiệm văn hoá, chúng ta sẽ có khả năng đồng cảm với những cộng đồng khác trong quá trình tương tác. Sự hiểu biết lẫn nhau sẽ khiến mỗi cộng đồng trở nên tinh tế hơn trong các hành vi tìm kiếm lợi ích của mình...
  • Tính lạc hậu tương đối của văn hóa và tính tất yếu phải cải cách văn hoá

    11/09/2013Nguyễn Trần BạtVới tư cách là sản phẩm của quá khứ, văn hóa không thể tự mình tạo nên những kinh nghiệm mà con người chưa từng trải qua. Chính điều đó tạo ra tính lạc hậu của văn hóa so với sự phát triển của cuộc sống...
  • Vài cảm nhận về thời đại

    09/11/2010Giang AnhNhững đặc trưng lớn của thời đại này là gì? Dòng chảy của lịch sử sẽ đi về đâu và vị trí của trí thức trẻ Việt Nam trong dòng chảy chung ấy thế nào?
  • Ám ảnh về bản sắc

    10/09/2009Lê Ngọc TràXu hướng hội nhập một mặt dẫn tới chủ nghĩa quốc tế trên mọi lĩnh vực, mặt khác làm nổi rõ nhu cầu về bản sắc dân tộc. Bởi vì nếu không có những điểm chung nhất định (tính quốc tế) thì không thể giao lưu, nhưng nếu không có cái riêng (bản sắc dân tộc) thì không có nhu cầu về trao đổi.
  • Triết học luận về “phát triển văn hóa”

    08/10/2008Ioanna Kucuradi,Từ góc độ triết học, bài viết đưa ra và luận giải một số vấn đề về phát triển văn hoá nhằm làm sáng tỏ vấn đề tại sao Liên hợp quốc ra tuyên bố về Thập niên phát triển văn hoá. Những vấn đề mà bài viết đưa ra và luận giải là: Khái niệm phát triển, nhất là vấn đề phát triển trong chính sách của các quốc gia thuộc Liên hợp quốc, những nội dung của "phát triển văn hoá", tính dân tộc và tính toàn cầu trong các quan niệm về "phát triển văn hoá", phát triển văn hoá và các chính sách văn hoá. Trong đó, đáng chú ý là những luận giải của bài viết về các nghĩa của khái niệm "văn hoá".
  • Nhận thức lại toàn cầu hóa và chỉ số toàn cầu hóa của Việt Nam trong 72 nước năm 2007

    14/05/2008PGS. TS. Hồ Sĩ Quý ([email protected])Về cơ bản,TCH là một hiện tượng đi theo logic của tiến bộ xã hội. Nhưng giống như mọi nấc thang tiến bộ khác, không có bước tiến bộ nào thuần tuý bằng phẳng, giản đơn. Để tiến bộ, đôi khi sự phá triển lại phải đi theo những lối quanh co, thậm chí, những bước thụt lùi với những cái giá phải trả có thể sẽ rất đắt nếu như các chính phủ thiếu tầm nhìn xa và không kịp thời đưa ra được những quyết sách thông minh. Với nội dung chính như vậy, bài viết bàn tới 6 vấn đề: 1/ Thời điểm xuất hiện TCH, 2/ Bộ mặt của TCH, 3/ TCH và tình trạngđói nghèo, 4/ Vấn đềTCH văn hoá, 5/ TCH ở châu Á 6/ Chỉ số toàn cầu hoá...
  • Toàn cầu hóa văn hóa

    08/05/2008Ths. Phạm Ngọc HàSuy nghĩ về những điều kiện phát triển của toàn cầu hoá nhằm xây dựng khái niệm chung sống giữa các nền văn hoá để trên cơ sở đó, cho phép nghiên cứu mối quan hệ của tam giác bản sắc - văn hoá - truyền thông là hết sức quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Dominique Wolton đã cho ra mắt cuốn sách Toàn cầu hóa văn hoá...
  • Toàn cầu hóa về văn hoá

    13/04/2008Nguyễn Trần BạtNgoài hai xu thế là dân chủ hóa về chính trị và tự do hóa về kinh tế còn có một xu thế lớn khác là toàn cầu hóa về văn hoá. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, người ta nói nhiều đến toàn cầu hóa nhưng chủ yếu là nói về khía cạnh kinh tế. Nói như thế là phiến diện, mặc dù nó có lý do lịch sử...
  • Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

    03/05/2007Nguyễn Văn HuyênC.Mác đã từng khẳng định một cách đúng đắn rằng, một xã hội chỉ có thể phát triển cao với một nền đại công nghiệp. Lý tưởng cao đẹp của toàn Đảng, toàn dân, toànquân ta là xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và văn minh. Để thực hiện lý tưởng đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại.
  • Hội nhập với thế giới và bản sắc văn hóa gia đình Việt Nam

    07/03/2007Nguyễn Võ Lệ Hà“Vì ta sùng bái hâm mộ cái phong lục xã hội Âu, Mỹ - cái chế độ hôn nhân của họ mà ta muốn mang hết thảy về thay đổi cho ta, đó chẳng những không hấp thụ được cái tinh hoa văn hóa họ mà lại dẫm lên cái cặn bã văn hóa của họ...Vậy thì chị em ai là người chủ trương sự giải phóng cho nữ giới, phải nên lựa chọn cái tính chất văn hóa cũ cùng cái tính chất của văn hóa mới dung hòa thế nào cho phù hợp nhau, để tạo nên những người phụ nữ rất trung thành với nghĩa vụ của mình...
  • Một số thách thức của quá trình toàn cầu hóa đối với Việt Nam hiện nay

    01/08/2006TS. Phạm Văn ĐứcToàn cầuhoá hiện đang là xu thế tất yếu, khách quan, tác động mạnh mẽ tới tất cả các quốcgia, dân tộc, đến đời sống xã hội của cả cộngđồng nhân loại, cũng như cuộc sống của mỗicon người. Toàn cầu hoá không chỉ tạora cho các nước những cơhội, mà cả những thách thức to lớn. Trong cácthách thức đóthì thách thức về văn hoá, về việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, các giá trị truyền thống được coi là một trong những thách thức lớn nhất đối với các nước đang phát triển...
  • Toàn cầu hóa, được và mất

    09/05/2006GS. Văn Như CươngToàn cầu hóa về bản chất là sự mở rộng thị trường ra ngoài biên giới quốc gia, một mong muốn hiển nhiên của những quốc gia có nền kinh tế mạnh hơn, sản xuất được nhiều hàng hóa hơn so với các nước khác. Quy luật muôn đời vẫn là: có thị trướng rộng lớn hơn, có nhiều khách hàng hơn thì lợi nhuận càng cao hơn.
  • Nghĩ về nền văn hóa mới và cơ hội mới

    28/01/2006Phan NgọcChúng ta đang bước vào thời đại mới của nền văn hóa mới, với sự phát triển nhanh chóng của văn minh, của kỹ thuật, công nghệ. Bản thân kỹ thuật, công nghệ là biểu hiện, là tài sản chung cho trí tuệ loài người, không phụ thuộc riêng vào một dân tộc nào, và theo phép biện chứng của C.Mác, thì khi kỹ thuật sản xuất thay đổi, đời sống tinh thần cũng thay đổi...
  • Cấu trúc lưỡng hợp trong bản sắc văn hóa Việt Nam

    27/12/2005TS. Nguyễn Thành Bang
  • xem toàn bộ