Hình ảnh người Việt đầu thế kỷ 20

05:19 CH @ Thứ Sáu - 05 Tháng Sáu, 2009

Nếu không có lần tái bản này, chắc chắn sẽ rất ít người có cơ hội tiếp cận cuốn sách quý của Henri Oger về người Việt Nam đầu thế kỷ 20, vì trong lần ra mắt đầu tiên cách đây đúng 100 năm, cuốn sách chỉ được in 60 bản, giờ nằm tản mát ở thư viện nhiều nước trên thế giới.

Những hình vẽ có một không hai

Đó là vào những năm 1908 - 1909, khi Henri Oger cùng một họa sĩ người Việt đi khắp các phố phường Hà Nội và vùng lân cận để ghi chép và vẽ lại các công cụ, đồ nghề và thao tác của người thợ thủ công. Rất nhiều nghề, trong đó có những nghề nay đã mai một hoặc không còn, đều được “chụp” lại bằng những nét vẽ mộc mạc nhưng chính xác và có sức gợi hình mạnh mẽ. Có thể kể ra đây hàng loạt bức tranh sinh động như: Xưởng làm đồ sơn, Bật bông và ép bông, Người mù xay bột gạo, Thợ thêu chép mẫu, Tô vẽ hình trang trí

Cũng trong hành trình này, có lẽ do quá hứng thú và tò mò về một nền văn hoá khác, Henri Oger đồng thời cho vẽ lại hết sức tỉ mỉ nhiều ứng xử và hành vi đời thường của người dân, từ mang con bỏ chợ, thả bè trôi sông, động tác của đàn bà cãi nhau, người An Nam đi du lịch đến ngoáy tai bằng lông gà, quạt mát bằng vạt áo, đẻ rơi ngoài đường, đám phụ nữ chờ việc trên phố, trộm tháo cánh cửa, chải lược để xuống sữa… Phần này được chia thành nhiều mảng, trong đó các mảng Phép thuật và bói toán, Các phép trị liệu dân gian, Tết và lễ, Trò chơi và đồ chơi, Đời sống ngoài phố, Nghề bán rong được đặc biệt quan tâm. Chính sự toàn diện trong việc thu thập dữ liệu đã làm nên nét độc đáo cho công trình của Henri Oger so với những nguồn tranh, ảnh, tư liệu cùng thời khác.

Năm 1909, tác phẩm “Giới thiệu tổng quát kỹ thuật của người An Nam” của Henri Oger được xuất bản, gồm hai tập - tập Bài viết và tập Bản vẽ, trong đó tập Bản vẽ gồm 700 trang với 4.200 hình in trên giấy dó khổ lớn bằng phương pháp in mộc bản (phương pháp in tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống). Giúp việc cho Oger có khoảng 30 thợ vẽ và thợ khắc, hầu hết không có danh tính, mà Oger ca ngợi là trung thực và có ý thức.

Nếu nội dung tập Bài viết khá sơ sài, cảm tính và không có nhiều giá trị về mặt khoa học, thì tập Bản vẽ, với tính thẩm mĩ cao đã khiến bộ tư liệu của Henri Oger trở thành một cuốn sách nghệ thuật thật sự và về mặt lịch sử, là một thư tịch quý về kỹ thuật, phong tục và đời sống của người Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20.

Nhà nghiên cứu đơn độc

Henri Oger sinh tại Pháp năm 1885. Sau khi đỗ tú tài chuyên ban tiếng Latinh, Hy Lạp và Triết học năm 1905. Ông tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Hà Nội từ năm 1907 đến 1909, khi Bắc Kỳ trở thành xứ Bảo hộ mới được 20 năm.

Ông đã khởi xướng nhiều đề án nghiên cứu, trong đó Nghiên cứu về kỹ thuật của người An Nam mà ông tiến hành khi mới 23 tuổi là đề án quan trọng và hoàn chỉnh nhất của ông. Nghiên cứu này về thực chất là bộ sưu tập hình vẽ một cách có chủ ý, vì theo ông “trí nhớ hình ảnh thường rất dai dẳng ở đa số mọi người”, trong khi “đọc bài trình bày về các công cụ hay động tác” là công việc quá vất vả.

Năm 1911, Oger trở lại Đông Dương lần thứ hai, công tác tại Vinh. Do quá chú tâm vào các công trình nghiên cứu, đôi khi ông lơ là việc quản lý hành chính. Năm 1914, bị coi là một công chức vô dụng, ông được cho hồi hương, nhưng với lý do sức khoẻ kém.

Năm 1916, đến Bắc Kỳ lần thứ ba, ông làm phó quản lý tỉnh Quảng Yên. Chuyến đi này kết thúc sau ba năm và ông trở về Pháp năm 1919, cũng với lý do sức khoẻ sa sút.

Sau đó, Oger sống một vài năm ở Tây Ban Nha và mất tích năm 1936. Ông đã lấy vợ nhưng không rõ ngày cưới và không có con.

Bắc Kỳ những năm đầu thế kỷ 20 trong con mắt Henri Oger là nơi đất chật người đông, cuộc đấu tranh sinh tồn rất dữ dội. Ông viết: “Cảnh lũ lụt, sản vật ít, công việc nhà nông cực kỳ vất vả, người phụ nữ phải đầu tắt mặt tối suốt ngày, đã gây ra một hiện tượng kỳ lạ ở đây: các ngành nghề và ngành thương mại đã phân chia, tản mát thành vô số tiểu nghề và nghề buôn bán nhỏ. Có thể nói rằng, ở Hà Nội, mỗi loại thực phẩm, mỗi loại hoa quả đều có người bán riêng. Vả lại chúng ta hãy nhớ rằng ở các thành phố An Nam, những người kiếm sống trên đường phố rất đông”.

Chính vì người dân nghèo (“Người An Nam sống trong một xã hội nghèo và bế tắc, không có nhiều của cải, vì thế sự nghèo túng buộc họ phải giảm tối đa nhu cầu của mình. Trên thực tế, dân An Nam tiêu hoang”), “chưa bao giờ có thị hiếu về cái đẹp”, “chỉ quen mua hàng rẻ”, “ít đòi hỏi cao”, nên hàng làm ra bán cho họ thường bị làm nhanh, làm ẩu. Thợ thủ công An Nam cũng bị nhận xét là kỹ thuật sơ sài, không được giảng dạy đầy đủ về nghề nghiệp. Với một số nghề đòi hỏi hiểu biết về hội hoạ, chẳng hạn như nghề khắc gỗ, thợ An Nam tỏ ra chỉ là người thực hành mà thiếu sáng tạo, “không có chút sinh khí nào”, “không có những phẩm chất đã khiến cho người thợ ở châu Âu trở thành nghệ sĩ”.

Tuy nhiên, theo hai tác giả chủ biên cuốn sách người Pháp, những nhận xét này không hề mang sắc thái khinh thường thái quá mà chỉ đơn giản là vì Oger sống trong thời đại của mình, tin vào tính ưu việt của mô hình văn minh tư sản phương Tây so với các xã hội xa lạ và tin vào sứ mệnh khai hoá văn minh của nước Pháp.


Tác phẩm kỹ thuật của người An Nam hay là sự mở đầu của“nhân học kỹ thuật” ở Bắc Việt Nam

(Olivier Tessier -Đào Hùng dịch -Tạp chí Xưa và nay)

Tác phẩm kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger là kết quả của một nghiên cứu chưa từng có về văn minh vật chất Việt Nam đầu thế kỷ XX. Hành trình của tác giả cũng thật đặc biệt: mê say các nền văn minh Viễn Đông, năm 1905 ông đăng ký vào trường Cao học Thực hành Paris, theo học các bài giảng của Louis Finot và Silvain Lesvi, thay vì đi quân dịch ông xin làm việc hai năm ở Hà Nội (1908 – 1909). Tại đây, ông tập trung chủ yếu vào nghiên cứu vấn đề mà chúng ta đang đề cập đến.

Ông đã đi khắp các phố phường Hà Nội và vùng ngoại thành, có một thợ vẽ theo cùng, nhằm liệt kê và nắm bắt sự đa dạng vô cùng của các ngành công nghiệp (thủ công) và buôn bán người dân thường phát triển, không bỏ qua một khía cạnh nào của cuộc sống riêng và chung lúc bấy giờ. Hơn 4.000 tài liệu được thu thập dưới dạng phác thảo và ký họa, cho chúng ta biết được bao nhiêu là cách thức, động tác, công cụ và các sản phẩm thủ công gắn liền với tên gọi địa phương của chúng.

Việc còn lại là xuất bản công trình đồ sộ này. Ngoài vấn đề tài chính, việc thực hiện còn vấp phải một thách thức thực sự về kỹ thuật. Đó là 4.000 hình vẽ có kèm chú thích bằng chữ Hán Nôm, được khắc trên ván gỗ do một nhóm gồm 30 nghệ nhân thực hiện. Nhóm thợ khắc thủ công này làm việc trong vòng 2 tháng tại chùa Vũ Thạch. Bản khắc gỗ như vậy rõ ràng là không thể cho chạy dưới các trục lăn của máy in.

Vì vậy phải dùng đến kỹ thuật bản dập để in trên giấy dó. Bài dẫn luận về Nghiên cứu kỹ thuật của người An Namđã được in 60 bản bằng cách đó, nằm trong bộ sách “Hồ sơ tư liệu về nghệ thuật, dân tộc học và xã hội học của Trung Quốc và Đông Dương” . Bộ sách gồm hai tập: tập 1 là văn bản mở đầu do tác giả viết (gồm 160 trang kèm 33 bản vẽ); tập 2 là sưu tập tranh vẽ 700 trang khổ in–folio (65cm x 42cm), gồm 4.000 hình vẽ, sơ đồ và bản khắc. Công trình có thể đã được hoàn thành năm 1909 và không phải làm các thủ tục lưu chiểu vì in tại Việt Nam.

Ngoài giá trị thẩm mỹ của các tranh vẽ khiến cho nó thực sự là một cuốn sách nghệ thuật, công trình này là minh chứng duy nhất của tính đa dạng của công nghệ dân gian đang diễn ra ở Miền Bắc Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tầm vóc bảo tồn di sản của công trình này đã gợi ý cho Pierre Huard, một chuyên gia lớn về văn hóa Việt Nam, đã đặt tên cho nó khi ông viết bản tiểu sử tóm tắt của Henri Oger năm 1970: “Người mở đầu cho kỹ thuật học Việt Nam, Henri Oger (1885 – 1936?) (1).

Thật vậy, vào đầu thế kỷ XX, công trình khoa học chủ yếu dành cho văn hóa dân gian Việt Nam là do Gustave Dumoutier (1850 – 1904) chỉ đạo, công trình mà kết quả được công bố sau khi ông qua đời dưới nhan đề “Phác thảo về người Bắc Kỳ” được đăng thành một loạt bài trong Tạp chí Đông Dương (15/3/1907 – 15/2/1908). Đối diện với tác giả đã được công nhận đó, anh Henri Orger trẻ tuổi đã không giấu tham vọng tìm đến sự hiểu biết tinh tế và sâu sắc về xã hội thuộc địa của mình. Tham vọng khoa học theo đó cũng không khác mấy.

Gustave Dumoutier phát triển sự tiếp cận tổng thể với xã hội và các thiết chế của nó. Để làm việc đó, ông tiến hành nhiều nghiên cứu theo chủ để nhằm phục dựng lại các khía cạnh khác nhau, dù là thuộc làng xã, gia đình, cách ăn uống, y học, tín ngưỡng .v.v..

Sự tiếp cận của Henri Oger mang tính chất khác. Như ông đã nhấn mạnh trong bài dẫn luận rằng ông xuất phát từ nguyên tắc “tình hình hiện tại của việc Nghiên cứu ở Đông Dương và Trung Quốc đòi hỏi chủ yếu là xây dựng một danh mục rộng rãi và thống kê tư liệu”. Tin chắc như vậy, ông xây dựng một bộ tư liệu về muôn vàn khía cạnh của cuộc sống vật chất, của nghệ thuật và công nghệ của nhân dân Việt Nam. Sự tìm tòi tận cùng đó là một trong những đặc tính nổi bật của công trình Henri Oger, khiến cho ông trở thành người tiên phong.

Tính độc đáo không thể chối cãi của công trình này còn ở chỗ ông biết kết hợp thành công việc thu thập tư liệu trên thực địa với sự khám phá một lĩnh vực mà nội dung chỉ mới được phác thảo không lâu, đấy là kỹ thuật học văn hóa. Phương pháp thu thập và tìm tòi nghiên cứu do tác giả tiến hành quả thật đã nói lên mầm mống của sự phân tích xã hội các hệ thống kỹ thuật, cụ thể là trọng tâm dành cho việc nghiên cứu các cử chỉ. Quả thật ông nhấn mạnh tầm quan trọng đó bằng cách ghi lại bằng một loạt các ký họa những hoạt động khác nhau của động tác người thợ hay nghệ nhân khi sử dụng một công cụ hay điều hành một cỗ máy thô sơ. Nhưng hơn thế nữa, xuất phát từ nguyên tắc nghiên cứu văn minh của một dân tộc là nghiên cứu văn minh vật chất, tác giả đi đến chỗ quan tâm đến các động tác không có sự giúp đỡ của công cụ. Cuối cùng đã được nêu rõ bốn yếu tố có mặt trong mọi quá trình kỹ thuật: một chất liệu để kỹ thuật tác động vào; những vật thể (những công cụ, phương tiện làm việc); động tác hay nguồn năng lượng (sức nước, sức kéo) khiến vật thể chuyển động; những biểu hiện đặc biệt kéo dài các động tác kỹ thuật (2).

Vì được xuất bản với số lượng ít, khoảng 60 bản tất cả, công trình của Henri Oger trở nên hiếm hoi. Vì vậy trung tâm Viện Viễn Đông bác cổ Pháp tại Hà Nội, phối hợp với Khoa học thành phố Hồ Chí Minh, sẽ tiến hành tái bản công trình này dự kiến vào tháng 2 – 2009. Nếu trong quá khứ, bộ sưu tập của Henri Oger đã được xuất bản nhiều lần, những sáng kiến đó vẫn có giới hạn và chỉ đưa ra sự lựa chọn một số tranh vẽ kèm theo lời bình (3). Giá trị của lần tái bản này là sẽ công bố toàn bộ nghiên cứu của Henri Oger, có thêm bản dịch chữ quốc ngữ toàn bộ các lời thuyết minh và ghi chú bằng chữ Hán hay chữ Nôm.

Vấn đề bây giờ là phải khai thác nguồn thông tin đồ sộ về lịch sử, xã hội và văn hóa của bộ sưu tập hình vẽ này. Thật vậy, nếu việc tái bản này là một đóng góp có ý nghĩa để hiểu hơn về nền văn minh Việt Nam thì đây không phải là mục tiêu duy nhất. Nó còn giúp cho việc khai thác các công trình khoa học chưa thể tiến hành trong những lĩnh vực khác nhau.

Trong số báo này, chúng tôi chọn lọc một số hình vẽ nhằm mục đích giới thiệu các trang phục của người Việt đầu thế kỷ XX, để bạn đọc có thể so sánh với những đổi thay trong thời gian tiếp theo. Đây là những hình vẽ hiện thực, phản ánh trung thành mọi sinh hoạt của người Việt buổi đầu thời thuộc địa, có thể là những minh chứng xác đáng để chúng ta có thể hình dung cuộc sống của người Việt xưa.

(1) Bài đăng trong Beffeo, T.LVII, 1970, tr 215 – 217
(2) Cresswell R, “Kỹ thuật học”, Từ điển dân tộc học và nhân học, Bonte P và Izard M (chủ biên), PUF, Paris 1992, tr 698 – 701
(3) Đáng chú ý là : Viện Từ điển Bách khoa đã chọn lọc một số hình vẽ của H.Oger trong tập 1 tháng 10 năm 1985, Bách khoa thư bằng tranh, Việt Nam đầu thế kỷ 20, 32 tr. TS. Nguyễn Mạnh Hùng, cũng chọn lọc một số tranh, kèm theo chú giải song ngữ Việt – Anh, Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ 20, NXB trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 1989, 203 tr.

FacebookTwitterLinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Gia tài văn hóa của Việt Nam

    05/04/2019Phan NgọcTại sao có một bề dày văn hóa mà Việt Nam chưa bao giờ giàu có cả? Bởi vì, bề dày văn hóa như một kho vàng, tuy nhiên phải vất vả đào bới mới có được và từng cá nhân một phải làm cho chính minh. Nhưng trước hết phải có người chỉ cho anh ta thấy kho vàng đã. Do đó, phải có một chính trị sáng suốt của anh ta, cho anh ta và vì anh ta. Và xây dựng những tổ chức để cùng nhau dào bới...
  • Tính tự phán của người mình

    18/11/2013Thái AnGần đây, chứng kiến những bước tiến mạnh mẽ của Trung Hoa trên trường quốc tế, lại thấy dư luận hâm nóng một cuốn sách được xuất bản cách đây hai thập kỷ. Đó là cuốn Người Trung Hoa xấu xí của Bá Dương...
  • Người Việt đẹp

    27/05/2009Đỗ Bỉnh QuânTrong văn hóa Việt Nam thế kỷ XX không đâu ta trông rõ những biến đổi về sắc đẹp của người phụ nữ như trong hội họa. Cảm nhận của họa sĩ Nguyễn Bỉnh Quân về tinh hoa người Việt đẹp.
  • Y phục người Việt

    29/04/2009Nguyễn Văn Huyên“Ngày xưa, y phục là phản ánh của các đẳng cấp, tôn ty xã hội”. Y phục xác định vị trí của từng người trong nước. Ngày nay, y phục Việt đã mất đi ý nghĩa xã hội của nó. Nhiều giá trị khác nhau của nó đã được đổi mới.
  • Hiểu tư duy người Việt mới hiểu bản sắc Việt

    27/02/2007GS-TS Nguyễn Thuyết PhongLà một trong những gương mặt “Vinh danh nước Việt”, GS-TS Nguyễn Thuyết Phong đang dạy tại trường Đại học KentState thuộc tiểu bang Ohio, Mỹ. Ông là người Việt duy nhất được Chính phủ Mỹ mời đến Nhà Trắng để trao tặng giải thường Di sản quốc gia (National Heritage Fellowship) năm 1997. GS hiện là Ủy viên Hội đồng Nghệ thuật quốc gia Hoa Kỳ.

  • Nghiên cứu con người Việt Nam qua các trước tác của Nguyễn Văn Huyên

    05/03/2006GS. TS. Phạm Minh HạcNgoài đóng góp to lớn của Nguyễn Văn Huyên với nền giáo dục và khoa học giáo dục của nước Việt Nam độc lập, ông đã đề cập nhiều đến vấn đề con người, nhân cách con người và cách hình thành, phát triển nhân cách con người thế hệ trẻ Việt Nam...
  • Đi tìm nhân cách người Việt Nam

    05/01/2004KS. Trần Quốc KhảiThực sự mới ra khỏi chiến tranh hơn chục năm nay, người Việt Nam vẫn sống trong hào quang của chiến thắng. Kém về thể lực và trí lực, cộng với niềm tự kiêu đôi khi không tỉnh táo, thế hệ trẻ Việt tuy đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc bứt phá trong tương lai, nhưng chỉ số nhân cách của người Việt Nam hiện đại đang ở đâu? Dưới kết quả nghiên cứu khoa học về nhân văn trên cơ sở vật lý và toán học, câu trả lời ấy là...
  • xem toàn bộ