Về "Thời đại Hồ Chí Minh"

Chủ tịch Công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ InvestConsult Group
08:04 CH @ Thứ Năm - 21 Tháng Bảy, 2011

(Đại tá Tạ Cao Sơn, Đại tá Quách Hải Lượng, Đại tá Trần Quang Liêm, Nhà nghiên cứu tâm linh Tạ Mai, Nhà nghiên cứu văn hóa quân sự Dương Xuân Đống - Ngày 4/12/2009)

Ông Tạ Cao Sơn (TCS): Chúng tôi đang chuẩn bị viết một bản góp ý về Cương lĩnh của Đảng trong giai đoạn tới. Hôm nay chúng tôi muốn trao đổi với anh để làm rõ một số vấn đề mà chúng tôi định góp ý.

Ông Nguyễn Trần Bạt (NTB): Cảm ơn các bác đã đến trao đổi với chúng tôi. Xưa nay tôi vẫn tán thành cái mà nhiều người nói rằng Đảng là người lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, tôi chỉ hỏi nhỏ thêm một câu thôi: "Thế còn thất bại thì ai chịu, còn những thứ ngoài cách mạng thì sao?". Từ lúc trẻ tôi đã thấy khuynh hướng Đảng đứng ra nhận và chịu nhiều trách nhiệm là một khuynh hướng tích cực về mặt đạo đức, nhưng có lẽ có vấn đề về mặt phương pháp. Về mặt khoa học, nhận quá nhiều trách nhiệm cũng không phải là tốt. Thế hệ các bác chưa phải là lớp nền nhưng là thế hệ móng của Đảng. Nền là thế hệ cụ Hồ, cụ Trường Chinh, cụ Lê Duẩn, lớp ấy bây giờ tìm khó lắm. Có một cựu quan chức cao cấp có đến đây chơi với chúng tôi và bảo bác ấy tự giao nhiệm vụ cho mình đi tìm và phát hiện ra những nhân tài cho Đảng. Tôi nói rằng, một thể chế chính trị tích cực là một thể chế mà nếu có người tài điều khiển thì nó tốt hơn, nhưng nếu không may không có người tài thì nó vẫn không tồi. Còn phải đi tìm người tài mới điều khiển được thể chế thì tức là thể chế có thể có vấn đề. Anh em chúng tôi thay mặt thế hệ trẻ hơn hết sức cảm động trước những trăn trở về đất nước của các bác. Ở thế hệ anh em trẻ hơn chúng tôi không tìm thấy sự gắn bó máu thịt với sự nghiệp của đất nước như các bác được, không đủ năng lực để kiến tạo ra nỗi đau khổ của một con người trong suy nghĩ về thân phận dân tộc và đất nước của mình. Thật lòng mà nói, thế hệ chúng tôi không có cái đau khổ ấy. Nếu mà nói về yêu nước, yêu đảng, yêu con người, yêu nhân dân thì thế hệ chúng tôi nói không kém gì các bác, thậm chí còn chế ra hay hơn, nhưng mà nghĩ thật, nghĩ như một nỗi niềm, nghĩ như một ý tưởng rõ ràng, một cấu trúc tinh thần căn bản của đời sống con người thì chúng tôi không làm được như các bác. Trong đời sống phát triển của một dân tộc thì đấy là phú quý giật lùi. Khi cha mà yêu nước hơn con thì nước mất dần, mất mòn. Tôi là một nhân vật nửa nọ, nửa kia, tôi vừa thuộc về lớp trẻ bởi tôi có được những kinh nghiệm của lớp trẻ, nhưng lại không dứt được tâm tư của lớp già, vì vậy nên tôi có cái may mắn là cảm thông được với cả hai thế hệ. Hàng ngày tôi tiếp xúc, nghe điện thoại và nhận thông tin của rất nhiều người thuộc thế hệ của các bác, tướng lĩnh cũng có, sĩ quan cao cấp cũng có, công an cũng có, bộ đội cũng có, trí thức cũng có, người dân nhà quê cũng có, nỗi niềm của họ đều giống nhau. Trong bài trả lời phỏng vấn gần đây nhất của tôi, một phóng viên rất có kinh nghiệm của một tờ báo lớn hỏi tôi "Anh có nghĩ gì về kinh tế Việt Nam không?". Tôi bảo "Không, bây giờ tôi không nghĩ về nó nữa, tôi nghĩ về những điều mà Bác Hồ nghĩ vào những năm đầu của thế kỷ XX, tức là độc lập dân tộc". Độc lập dân tộc của chúng ta bây giờ không mất theo nghĩa cổ điển, mà mất theo nghĩa là chúng ta mất dần quyền tự chủ của mình, mà đầu tiên có lẽ là quyền tự chủ về chính trị. Chúng ta muốn nói to về đối tượng này, đối tượng kia mà chúng ta không dám, chúng ta buộc phải chỉ trích những đối tượng không liên quan gì đến mình cả và cũng không cần phải chỉ trích. Thành ra đôi khi trạng thái chính trị trở nên khó hiểu. Khi mà chính trị đạt đến mức khó hiểu thì dần dần nó xa rời nhân dân, tức là chính trị không gắn với đời sống nhân dân nữa. Mà chính trị thiếu nhân dân thì nói như cụ Hồ là cá thiếu nước, chính trị mà sống ngoài nhân dân là cá sống ngoài nước. Chỉ có thể làm tốt đời sống chính trị, chỉ có thể thông thái về chính trị, chỉ có thể hợp lý về chính trị chừng nào chính trị chính là nhân dân, chính trị chính là công việc được nhân dân tiến hành và là công việc được tiến hành trong nhân dân. Còn khi chính trị không tiến hành trong nhân dân và không được điều chỉnh bởi nhân dân thì chính trị hỏng, chính trị ấy là chính trị của con cá không cần nước, mà cá không cần nước thì chỉ có cá gỗ.

Tôi là một người có một cam kết với xã hội, đặc biệt là với chính bản thân mình là không tham gia vào đời sống chính trị như một nhà chính trị. Tuy nhiên chính trị không tách rời ai, và không ai ra khỏi chính trị được, giống như con cá không ra khỏi nước được. Tôi làm một việc có ích cho chính trị là nghiên cứu về nó chứ không làm nó và tôi sẽ không có mặt ở bất kỳ mâm nào trong những mâm mà chính trị đem lại cho bữa tiệc của mỗi một nhóm lợi ích. Tôi không tham gia bất kỳ nhóm lợi ích nào, không về phe nào, không chống lại ai và cũng không ủng hộ ai để chống lại ai cả. Tôi cung cấp những lý giải với tư cách là một người làm khoa học chính trị. Nói như thế thì rất nhiều người có thể cho rằng tôi cải lương và thiếu trách nhiệm. Nhưng phải nói thật với các bác là vốn dĩ tôi cũng không tín nhiệm việc một số người cứ nhảy đại vào nồi canh của người khác mà không biết đầu cua tai nheo thế nào. Cho nên, tôi chỉ có thể có mặt trong bữa tiệc của cả xã hội trước sự thành công của đời sống chính trị. Tôi là người không biết lắm về thực tiễn chính trị như là một kẻ từng tham gia nó, nhưng tôi biết nó như một nhà khoa học, tôi hiểu các quy luật của nó, các diễn biến của nó như là hệ quả tự nhiên của một số hiện tượng trước đó. Trong phạm vi hiểu biết của mình, nếu có thể góp ý được với các bác điều gì trong những văn kiện, trong những thư ngỏ, thư kín, trong những sự góp ý mà các bác gửi cho Đảng thì tôi sẽ góp. Quan điểm của tôi là vẫn tôn trọng những giá trị chính trị của những người cộng sản Việt Nam một cách nhất quán. Tôi bỏ qua tất cả những rạn nứt, những suy thoái, những yếu kém của nền chính trị Việt Nam và chỉ phân tích những lỗi lầm có chất lượng khoa học để chúng ta có thể tiếp cận với nhau lâu hơn được. Bởi vì nhà cầm quyền bây giờ rất sốt ruột, tất cả mọi người có những quan điểm khác, thậm chí hơi khác đều đôi lúc được xem như là đối lập, thậm chí có lúc được xem như là chống đối. Đấy là một trạng thái chúng ta không làm chủ được, tôi không làm chủ được, các bác cũng không làm chủ được. Trong lúc cụ này, cụ kia say sưa nói vài ba câu thì rất có thể sự quá đi một chút của vài ba câu ấy biến các cụ ấy thành người có màu sắc chống đối. Nếu người ta không thận trọng trước những nhân vật như vậy thì người ta sẽ ghép một cách quan liêu vào sự chống đối ngay. Qua vụ án của chị Ba Sương, chúng ta thấy rằng một người anh hùng, thậm chí cả cha cũng là anh hùng mà còn trở thành kẻ đối nghịch với các quyền lợi của đảng. Tôi chẳng là gì cho nên tôi buộc phải thận trọng khi nói về những vấn đề nhạy cảm, về chuyện chính trị. Sự phát triển của một xã hội luôn luôn lệ thuộc vào các cuộc thảo luận mang chất lượng chính trị trong xã hội ấy. Châu Âu có hàng trăm năm thảo luận mới có nền dân chủ của nó. Châu Âu có hàng trăm năm chuẩn bị mới sinh ra được vài người gọi là những nhà Khai sáng. Chúng ta đã có gì đâu mà chúng ta đòi dân tộc của chúng ta thăng hoa. Chúng ta phải có vài nghìn người làm những việc như các bác đang làm, như tôi đang làm, rồi trong số vài nghìn người ấy may ra mới có một vài người đạt được đến ngưỡng phục vụ được cho sự đột phá, sự thăng hoa của dân tộc. Cho nên tôi nghĩ rằng tôi không định làm cái pháo sáng để đốt lên, tôi chỉ làm những quả pháo tép để khích lệ năng lực suy nghĩ của toàn xã hội và có lẽ như thế mới sống được, mới tồn tại được. Các bác có vấn đề gì cần hỏi, cần thảo luận, xin mời các bác cứ tự nhiên.

TCS: Tôi muốn bày tỏ sự cám ơn của chúng tôi đối với anh về những vấn đề mà anh đã trao đổi với chúng tôi, đặc biệt là vấn đề Hồ Chí Minh. Các bài của anh về Hồ Chí Minh là công trình hay nhất mà chúng tôi có thể tiếp nhận để biên soạn một số ý kiến góp ý cho Cương lĩnh của Đảng, đó là cương lĩnh phát triển trong thời đại Hồ Chí Minh. Tôi đã hình thành tất cả những suy nghĩ theo vấn đề mà anh phân tích về Hồ Chí Minh, đặc biệt là vấn đề mà anh đặt ra rất rõ: Hồ Chí Minh là nhà dân chủ xã hội chính cống. Tôi có thể chứng minh Hồ Chí Minh là một nhà dân chủ xã hội chính cống bằng chính câu nói của Bác. Chúng tôi có đến gặp anh Hoàng Tùng, anh ấy có nói rõ tâm tư của Bác Hồ là Bác còn băn khoăn chưa làm giảm chủ nghĩa tả khuynh của Liên Xô và Trung Quốc, vì trong kháng chiến chưa làm được, cho nên việc này các chú phải làm. Anh cũng nói với tinh thần là Bác Hồ luôn luôn phải chống lại hay cưỡng lại khuynh hướng tả khuynh. Tôi muốn hỏi rằng liệu làm như thế có được không? Và phải nói rằng những vấn đề mà anh phân tích về Bác Hồ chúng tôi cho rằng hoàn toàn đúng và tôi đã chứng minh với nhiều người rằng đấy là những phân tích hay nhất về Hồ Chí Minh. Đến bây giờ tôi có thể khẳng định được như thế. Còn những thứ khác thì chúng tôi vẫn tiếp thu. Ví dụ như có ý kiến phát biểu của một vài vị tướng tá rất uyên bác, rất hiểu biết, nhưng không đồng ý và vẫn cho rằng anh đặt vấn đề thế không đúng. Đấy cũng là vấn đề mà chúng tôi vẫn còn đang tiếp tục tranh luận.

NTB: Tôi được biết là Đặng Tiểu Bình có nói rằng phát hiện lớn nhất của ông ấy là không tranh luận. Khi làm việc với các anh trong Hội đồng Lý luận của Đảng, tôi cũng nói là tôi không tranh luận. Chúng ta với tư cách là những con người, chúng ta có một quyền thiêng liêng đó là quyền nghĩ và trong một chừng mực nào đó là có cả quyền nói. Đấy là một trong những quyền cơ bản của khái niệm tự do. Vì nghĩ thì không đụng đến ai nên chúng ta có quyền nghĩ thoải mái, nhưng khi đã hành động, mà nói cũng là một loại hành động, thì chúng ta phải nói trong những phạm vi không chà đạp lên quyền tương tự của người khác. Mà muốn không chà đạp lên quyền tương tự của người khác thì phải hỗ trợ người khác nói và trọng tài chính là xã hội. Tôi không định thắng ai, nhất là thắng các vị tướng tá mà tôi kính trọng. Quan điểm và nhân cách là hai khái niệm khác nhau. Người ta không kính trọng quan điểm mà người ta kính trọng nhân cách, kính trọng một con người. Về nhân cách, tôi không thấy có điều gì phải xem xét lại hay phân vân gì về những người ấy cả. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể yên tâm để kính trọng họ được và không nên có bất kỳ lời nào, thậm chí cũng không nên có một ý nghĩ nào ngờ vực nhân cách, phẩm chất của những con người như vậy. Còn quan điểm, về mặt tự nhiên nó phải khác nhau giữa tôi với những người khác. Quan điểm đúng, sai không quan trọng. Chúng ta đôi khi rất sợ những quan điểm sai mà quên mất rằng những quan điểm sai đôi lúc là môi trường để thử thách những quan điểm đúng và nó tạo ra sự đa dạng các quan điểm để xã hội có khả năng lựa chọn. Toàn bộ tiến trình phát triển chính trị chính là xã hội có những điều kiện và có đủ lực lượng để cho nhân dân lựa chọn. Con người đôi khi có quyền lựa chọn mà không có cái để lựa chọn. Có thời kỳ chúng ta có quyền mua cái áo mình thích nhưng ngoài mậu dịch không có, chỉ có mỗi một loại thôi thì chúng ta đành phải mua vậy. Trong xã hội của chúng ta, nhất là trong đời sống chính trị và tư tưởng thì chúng ta dường như không có những quan điểm đa dạng như vậy. Cho nên có thời kỳ rất lâu, những quan điểm chính thống của Đảng đôi lúc không được thử thách thông qua sự lựa chọn của xã hội, và do đó nó sinh ra tình trạng duy ý chí hoặc chủ quan. Đấy là những hệ quả ngoài ý muốn của các nhà lý luận cũng như các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng. Và cái đấy nó làm hại các anh ấy nhiều hơn là làm lợi.

Cũng phải nói rằng không phải tất cả các quan điểm mà tôi nói ra có nghĩa là tôi định nói như thế. Có những quan điểm tôi buộc phải thử, bởi vì sự phân tích của xã hội là hòn đá thử vàng, thử bản chất đúng đắn của mỗi một quan điểm, đặc biệt là quan điểm liên quan đến đời sống chính trị. Cho nên tôi phân biệt rất rõ phẩm hạnh, đạo đức và nhân cách của người phát biểu với nội dung của lời phát biểu. Với tư cách là một người đã có một chút nào đó tạo được dư luận về mình trong xã hội, tôi nhờ các bác chuyển đến các bác ấy là tôi kính trọng họ một cách vô điều kiện do lịch sử hình thành nhân cách cũng như phẩm hạnh của họ. Còn các quan điểm thì không phải tôi khác các bác ấy hoặc các bác ấy khác tôi. Quan điểm của mỗi một người là khác nhau và sự hay hơn hay kém hơn của các quan điểm không phải là kết quả của cuộc tranh luận giữa tôi và các bác ấy, mà là kết quả của sự lựa chọn của xã hội. Hãy để cho xã hội làm cái việc mà nó có nghĩa vụ phải làm, chúng ta không nên mất thì giờ để tranh hơn, tranh thua, tranh đúng, tranh sai trong câu chuyện này.

Vấn đề thứ hai, tôi biết ý kiến không đồng tình với tôi như bác vừa nói chủ yếu liên quan đến vấn đề cách mạng và phi cách mạng. Đây là một luận điểm hết sức quan trọng mà tôi mặc dù không tranh cãi nhưng không nhân nhượng với ai. Kể cả các nhà lãnh đạo có nói rằng quan điểm của anh không được hoan nghênh thì tôi cũng sẽ nói rằng, các anh không hoan nghênh là quyền của các anh, nhưng quan điểm của tôi là không thay đổi. Nhân loại không đủ năng lực để chịu đựng các cuộc cách mạng nữa. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà tất cả những gì đốt lên được để tạo ra sự phát triển thì các dân tộc đều đốt sạch. Các bác biết rằng, chính sự đốt cháy các nguồn năng lượng một cách vô tội vạ để tạo ra sự phát triển đã dẫn đến sự sụp đổ của cả nền kinh tế thế giới trong những năm 2007 – 2008. Chưa hết, có người tưởng rằng phương Tây khủng hoảng thì quay về phương Đông, nhưng cách đây mấy hôm lại xuất hiện một cuộc khủng hoảng tài chính khổng lồ ở vùng Trung Đông thông qua sự phá sản của Dubai. Điều ấy nói rằng sự cháy ruỗng của toàn bộ năng lực sống của nhân loại đã diễn ra rồi. Nếu chúng ta không thận trọng, chúng ta lại khích lệ thêm một sự đốt cháy nữa thì có thể chúng ta không cứu được loài người chứ không chỉ là không cứu được người Việt. Tôi không hoan nghênh cách ấy mà muốn đi tìm một cách khác là phi cách mạng hoá đời sống chính trị. Và cái cách khác ấy không phải chỉ ở Việt Nam mà là trên phạm vi toàn cầu. Phi cách mạng hoá đời sống chính trị là tìm cách chuyển giao quyền lực từ thế hệ nọ đến thế hệ kia, từ triều đại nọ đến triều đại kia, từ đảng nọ đến đảng kia, từ nhóm lợi ích nọ đến nhóm lợi ích kia, một cách hoà bình nhất. Để làm gì? Để tránh hiện tượng đôi khi vì muốn tạo một cảm giác thắng lợi, người ta sẵn sàng đốt cháy cả những thứ đang còn dùng được. Những người cộng sản Việt Nam mặc dù có một số sai lầm, mặc dù có một số trì trệ nào đó, nhưng đấy là một thứ đang còn dùng được. Quan điểm của tôi là phải góp phần tái sinh lại và tăng cường những yếu tố đang còn dùng được của những người cộng sản Việt Nam trong đời sống chính trị của xã hội chúng ta.

TCS: Gần đây có một nhà lý luận chính trị cao cấp viết bài mà khi đọc chúng tôi có cảm tưởng ông ấy định làm lãnh tụ tư tưởng của toàn thế giới.

NTB: Tôi xin nhắc lại là tôi không muốn tranh cãi về ý kiến của bất kỳ ông nào cả, vì tin sẽ đồn ra ngoài và nó trở thành một sự mất đoàn kết trong đời sống tư tưởng. Sự mất đoàn kết trong đời sống tư tưởng là dấu hiệu đầu tiên và nền tảng của sự mất đoàn kết về mặt chính trị. Về mặt nhân cách tôi không đưa ra bất kỳ lời bình luận nào, còn về quan điểm thì đấy là quyền của các bác ấy. Nếu các bác ấy có điều kiện để lắng nghe phản ứng của xã hội đối với các quan điểm của mình thì các bác ấy sẽ tự rút ra kết luận về tính còn giá trị hoặc hết giá trị của các quan điểm thôi. Phải để cho nhân dân có một quyền, quyền ấy là quyền vỗ tay trước sự đúng đắn của các quan điểm.

Đôi khi chúng ta tưởng rằng chúng ta có nhiều người để chọn, Đảng của các bác đôi lúc cũng tưởng rằng có quá nhiều cán bộ để chọn. Nhưng đối với những nhà tổ chức nhân sự chuyên nghiệp của đảng thì họ biết rất rõ rằng đảng không có nhiều người để chọn. Vì thế cho nên không nên đốt cháy một cách lãng phí những nhân vật còn dùng được bằng các giải pháp chính trị. Khi chúng ta tuyên bố rằng người này, người kia là vứt tức là chúng ta đã đốt cháy những tài sản chính trị còn dùng được, mà do thiển cận đôi khi chúng ta không nhìn ra giá trị của nó. Trong xã hội chúng ta không phải ai cũng có quyền bộc lộ các quan điểm chính trị một cách rõ ràng, nhất là những người đương nhiệm. Vì thế chúng ta phải biết lắng nghe cái đằng sau, cái bên trong của họ, và phải có thái độ rất thận trọng trong việc góp phần đốt cháy các giá trị còn dùng được, bởi chúng ta không có nhiều những thứ như vậy. Có một thời kỳ rất dài, đất nước chúng ta rơi vào tình trạng chiến tranh. Chiến tranh có mặt tàn khốc, có mặt này, mặt khác của nó, nhưng chiến tranh là một môi trường rèn luyện những người đủ nghị lực để tham gia vào đời sống chính trị, đời sống điều hành đất nước. Chúng ta không thể gây ra thêm một cuộc chiến nào nữa để lại tiếp tục rèn luyện một thế hệ cán bộ để có thể dùng được một cách hữu ích đâu. Lịch sử để lại cho chúng ta những con người đã được rèn luyện, mặc dù họ có thể có mặt này, mặt kia không phù hợp. Tôi là người có thái độ rất thận trọng trong việc đánh giá về mỗi một cán bộ. Không phải tôi sợ ai, vì tôi có chống lại ai đâu mà tôi sợ. Tôi không nói điều gì chống lại họ, tôi không làm điều gì chống lại họ, thậm chí tôi cũng không muốn nói đến họ một cách cá nhân bởi tôi có thể nói sai. Nếu chúng ta quan liêu, chúng ta đốt cháy những đối tượng vẫn còn dùng được cho tương lai chính trị của Việt Nam là chúng ta có lỗi, nếu đốt cháy nhiều thì có tội. Cho nên tôi nghĩ rằng không nên đưa ra các bình luận chính trị mà mình không chắc đúng dựa trên những thông tin mà mình không biết chắc một cách chính xác. Tốt nhất là chúng ta nên có một thái độ giả định khi nói. Tất nhiên, giả định ấy cũng phải dựa trên một số thông tin làm căn cứ. Nhưng tôi nghĩ rằng nên hạn chế việc đặt tên cho các khuyết tật của một con người thành tên người ấy. Tôi là người rất thận trọng trong chuyện này.

Quay trở lại nội dung ban đầu bác đặt ra, trong đó theo bác vấn đề quan trọng nhất là Hồ Chí Minh. Tôi cho rằng Hồ Chí Minh là một hiện tượng thượng đế trao cho người Việt. Chúng ta nói ở đây là nói trước ảnh ông cụ. Tôi chọn bức ảnh này để treo ở phòng làm việc của tôi là có ý nghĩa của nó. Bức ảnh này được tạp chí Newsweek đăng trên trang bìa vào năm 1967. Một người lính viễn chinh của quân đội Hoa Kỳ mang nó đến Việt Nam, chết trận ở Việt Nam và để lại trong căn nhà ông ta trọ ở Đà Nẵng. Người chủ nhà nhặt được trao cho Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, coi như một món quà tặng. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu rất thích bức ảnh và in ra một số bản copy tặng một số lãnh đạo cao cấp, một trong số những người đó đã tặng tôi bản copy này. Tôi không treo những bức ảnh khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù tôi có rất nhiều. Tôi treo bức ảnh này vì nó thể hiện chất lượng chính trị quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là ông được sự thừa nhận của ngay cả lực lượng thù địch quan trọng nhất của người Việt vào thời điểm ấy. Tôi nói lại rằng Hồ Chí Minh là một hiện tượng thượng đế trao cho người Việt, bất kỳ sự sử dụng tùy tiện và thiếu nghiêm cẩn nào đối với các giá trị của Hồ Chí Minh đều sai cả. Phải rất thận trọng, rất trân trọng và phải rất có cơ sở khoa học trong việc vận dụng các giá trị có chất lượng tư tưởng, có chất lượng chính trị của Hồ Chí Minh, bởi vì nó vẫn tiếp tục là phương thuốc cứu rỗi nền chính trị được lãnh đạo bởi những người cộng sản. Một lần nữa tôi khẳng định lại với các bác rằng tôi không thay đổi quan điểm về các giá trị của Hồ Chủ tịch đối với tương lai chính trị Việt Nam. Bởi vì thượng đế không cho người Việt thêm một ai nữa ngoài Hồ Chí Minh. Có muôn vàn người muốn làm những việc mà Hồ Chí Minh muốn làm, có nhiều người có trình độ được đào tạo căn bản hơn Hồ Chí Minh, nhưng không ai trong số họ tạo ra được những thành tựu chính trị lớn lao và căn bản như Hồ Chí Minh. Tất cả những sai phạm mà chúng ta có trong suốt quá trình lịch sử của đất nước từ thời Hồ Chí Minh đến nay đều có nguồn gốc từ sự xa rời các tiêu chuẩn Hồ Chí Minh. Hay nói cách khác, tất cả những gì cố gắng đi ra khỏi Hồ Chí Minh trong lịch sử đều dẫn đến sai lầm cả. Tôi rất khó chứng minh điều này, nhưng không phải vì sự chứng minh ấy là khó mà sự chứng minh ấy là thiếu tế nhị và nó vi phạm một trong những nguyên tắc của tôi là tôn trọng sự đoàn kết. Sự đoàn kết trong đảng của các bác chính là sự đoàn kết ba chiều, không phải chỉ là đoàn kết với nhau ở mặt bằng của những người đương quyền, sự đoàn kết ấy còn là đoàn kết với lịch sử nữa. Từ những người như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến nhân vật khủng long cuối cùng của thế hệ ấy còn sống là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cho đến tất cả những người khác dù sai, dù đúng trong đảng đều phải đoàn kết cả. Đoàn kết là một yêu cầu bắt buộc của lịch sử đối với những người cộng sản hiện nay. Đoàn kết không phải là kết quả của sự thức tỉnh, sự kêu gọi, hay lòng tốt chính trị, mà đoàn kết là điều kiện bắt buộc phải có đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu đảng của các bác vẫn muốn tiếp tục cầm quyền. Rất nhiều bác phản ứng trước chuyện tôi kêu gọi hòa giải, có người còn bảo ông đại tướng này làm sao bằng được ông đại tướng kia. Tất cả chúng ta đều không được quên rằng đối với vận mệnh của đất nước thì tất cả chúng ta đều bé. Chúng ta xem Tam Quốc chí thì thấy rằng các viên đại tướng lần lượt ra đi và để lại những nỗi buồn ở những tập cuối cùng. Chúng ta chỉ trích nhau, chúng ta công kích nhau, đôi khi đấu đá lẫn nhau mà chúng ta không biết rằng nếu kẻ đấu đá với chúng ta kia mà mất đi thì nỗi buồn sẽ tràn ngập tâm hồn của những người còn lại. Có lẽ sự bức xúc của đời sống đương đại không tạo điều kiện thuận lợi để những người đã tạo ra giá trị của đất nước này ý thức được nỗi buồn về sự mất đi của những người như vậy.

Tôi cho rằng, chúng ta đoàn kết là đoàn kết những người đang sống với nhau, đoàn kết với những thế hệ trước đó và nếu đúng đắn hơn nữa thì chúng ta đoàn kết với tất cả các nhà nước đã từng tồn tại trên lãnh thổ của quốc gia chúng ta. Bây giờ chúng ta đưa chuyện Phan Thanh Giản ra bàn rồi người này chê, người kia chê, tôi nghĩ rằng những chuyện ấy rất vô lối. Chúng ta có truyền thống là nếu anh đến thắp hương cho cha mình ở trong một nghĩa trang mà nghĩa trang ấy có người từng là kẻ thù của cha mình cũng nằm ngay đấy thì anh cũng vẫn phải thắp cho họ một nén hương. Năm 1990, tôi đến Mỹ tham gia một cuộc nói chuyện ở Washington. Trước khi đến hội trường, tôi nói với một quan chức về hưu của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ "Giáo sư hãy đưa tôi đến bức tường kỷ niệm những người Mỹ chết trận ở Việt Nam". Ở bên Mỹ người ta không có hương nên tôi đặt một bó hoa vào bức tường ấy, trước khi vào nói chuyện với 600-700 người Mỹ. Họ hỏi tôi tại sao làm việc ấy? Tôi trả lời "Loài người được tiếng là động vật thông minh nhất trên hành tinh này, mà đã thông minh thì không đem khái niệm hộ chiếu lên thiên đường". Nhiều người nói rằng, ngày xưa khi cụ Hồ đi thăm viện bảo tàng có chỉ vào bức ảnh một nhân vật và nói "Chú này ngày xưa gây khó cho bác lắm đây". Chuyện ấy có thể có thật, có thể không, tôi không biết, nhưng nếu nó có thật đi nữa thì Bác Hồ cũng không hề dặn bất kỳ ai trong thế hệ con cháu của cụ là không được thắp hương cho những người từng có vấn đề với mình. Chúng ta không thể căn cứ vào các sử liệu có trên đất nước của chúng ta được. Phải nói rằng chúng ta có một nhà nước mà lịch sử của nó được xây dựng một cách kỳ lạ là không có chi tiết nào được nêu một cách cặn kẽ để làm tư liệu cho chúng ta suy nghĩ cả. Lịch sử của chúng ta là một lịch sử rất ít nội dung xác thực được công bố, vì thế người Việt Nam về cơ bản là không có tư liệu để nghĩ. Hiện nay có nhiều người nghiên cứu về tâm linh, tâm linh là cách thức để chúng ta giải quyết những bế tắc mà bằng con đường vật chất chúng ta không tiếp cận nổi. Hồ Chí Minh là món quà quan trọng nhất mà thượng đế trao cho người Việt, mà may mắn cho những người cộng sản là có ông cụ, và do đó việc sử dụng các giá trị của ông cụ đòi hỏi phải rất thận trọng. Đó không chỉ là đòi hỏi với các nhà lãnh đạo mà ngay cả chúng ta, ngay cả các bác khi nói về ông cụ cũng phải thận trọng. Các bác về hưu rồi, các bác không có trách nhiệm đương đại, trách nhiệm cầm quyền nữa, nhưng chúng ta cũng không nên biến cái lẽ mà chúng ta xem là phải trở thành sức ép với người khác, kể cả những người đương quyền. Các bác cử nói rỉ rả thôi: Những giá trị ấy là của thượng đế trao cho dân tộc, các anh là đại diện, các anh sử dụng thế nào là tùy các anh. Các anh sai thì chúng tôi cũng không lên án các anh, nhưng lịch sử sẽ lên án. Mà lịch sử lên án thì đau hơn các bác lên án. Có nhiều người rất mạnh dạn chỉ trích một cách to tiếng những người cầm quyền và tưởng rằng sự chỉ trích ấy tạo ra sức ép, đấy là ngốc nghếch. Đã leo lên đấy thì họ đủ khôn ngoan để hiểu rằng phải sợ lịch sử hơn, bởi vì lịch sử là mỹ từ để nói đến quan hệ nhân quả. Các bác thấy là bây giờ chùa triền dựng lên rất nhiều, rất to và người ta đi lễ bái, lên đồng rất nhiều, có cả cán bộ cao cấp cũng tham gia vào những chuyện ấy. Một người hạnh phúc, một người tin vào sự đúng đắn của mình thì chẳng việc gì phải đi lễ nhiều thế. Tại sao người ta đi lễ nhiều thế, thắp hương nhiều thế? Bởi vì người ta sợ. Nỗi sợ về sự sai của mình đang ám ảnh tâm hồn của rất nhiều người đương quyền. Cho nên, tôi nghĩ rằng khi họ đã sợ rồi thì nhiệm vụ của xã hội không phải là làm cho họ sợ thêm mà phải làm cho họ bớt sợ. Anh đi tìm sự thân thiện đối với các đối tượng tâm linh, với ma, nhưng anh quên mất rằng chúng tôi, những người đang sống rất muốn trao cái sự thân thiện của chúng tôi cho các anh. Ý kiến ấy của tôi như một lời kêu gọi. Phải và trái rất quan trọng, nhưng không quan trọng hơn cuộc sống. Nếu đánh đổi cuộc sống để lấy phải và lấy trái thì đấy là một trong những lỗi lầm nghiêm trọng nhất. Sự tồn tại được, sự sống được là lẽ phải quan trọng số một, sau đó mới đến các loại lẽ phải khác. Lẽ phải nào không làm cho con người sống tốt được thì lẽ phải ấy không có giá trị, và gọi nó là lẽ phải là sai lầm trí tuệ. Chúng ta đã tạo ra một thói quen rất kỳ lạ rằng cuộc sống của anh tồn tại trái với lẽ phải. Mọi lẽ phải đều phải phù hợp với cuộc sống và phải phục vụ cuộc sống, nhưng đôi khi chúng ta bảo cuộc sống mâu thuẫn với lẽ phải, tôi không hiểu nổi tại sao lại có những kết luận kỳ quặc như vậy. Chúng ta nhầm lẫn giữa chất lượng hành vi của một cá nhân với cuộc sống của họ. Đôi khi chúng ta thay thế việc phê phán một hành vi bằng phê phán một con người, chúng ta nhắc tên một số người và phê phán người ta như một tổng thể sai trái mà không vạch ra được các yếu tố sai trái trong một số hành vi của họ. Tức là chúng ta quan liêu, chúng ta đồng nhất con người với khuyết điểm của họ. Các bác muốn kiến nghị với đảng của các bác thế nào là tùy các bác, nhưng cả các bác lẫn đảng của các bác đều phải hiểu được một điều cực kỳ quan trọng là không được đồng nhất con người với hành vi của họ và các sai trái trong hành vi của họ. Như thế chúng ta mới tiết kiệm trong việc sử dụng con người được. Tôi đã nói về sự tiết kiệm này, đó là làm thế nào để một cá thể sau khi là đầu ra của quá trình chính trị này thì vẫn có thể là đầu vào của quá trình chính trị khác. Tức là con người phải dùng được nhiều lần trong một số chu trình chính trị, bởi chính trị thay đổi hàng ngày. Nếu con người lạc hậu, con người không còn tương lai trong đời sống chính trị của chu trình sau thì đấy là lãng phí. Sự lãng phí ấy còn nghiêm trọng hơn cả việc rút thép trong ruột các kết cấu, bởi vì đấy là rút chất lượng hợp lý trong một con người để đốt nó đi. Không tiết kiệm con người là đỉnh cao của sự không tiết kiệm.

Điều quan trọng nhất mà có lẽ là các bác bức xúc nhất là việc đánh giá cụ Hồ. Chúng ta thấy rằng có rất nhiều dân tộc trong khu vực này không có nhân vật nào có địa vị chính trị trong đời sống phát triển của thế kỷ XXI như Hồ Chủ tịch. Một nền văn hóa khổng lồ và lâu đời như Ấn Độ mà cũng chỉ có một Gandhi, một Nehru. Mà Ấn độ thì đông dân gấp 14-15 lần so với Việt Nam. Một dân tộc khổng lồ như Trung Hoa cũng tưởng có nhiều, nhưng cuối cùng thì người ta thấy rằng hình như chỉ có một vài người như Tôn Trung Sơn thôi. Chúng ta không có sự so sánh tương đối như vậy nên không hiểu được giá trị của Hồ Chí Minh. Nam Cao khi viết truyện Đôi mắt đã mượn lời của một nhà văn nào đó nói rằng "Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông cụ lắm. Tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp, mà chỉ có đến tướng De Gaulle". Đấy là ân sủng thượng đế trao cho người Việt, nhưng người Việt sử dụng nó một cách lãng phí và hơi bừa bãi. Phát động cả nước đi tìm giá trị của bác Hồ, chắp từ mảnh áo đến cái khuy nhưng quên mất cái cốt lõi. Cái cốt lõi của giá trị Hồ Chí Minh tôi đã nói trong những bài viết về Hồ Chí Minh. Bằng những thông điệp ấy tôi muốn gửi đến các nhà lãnh đạo và các nhà lý luận của Đảng là không nên tiếp tục lãng phí ân sủng quan trọng nhất mà thượng đế trao cho người Việt, mà lại trao vào trong tay những người cộng sản. Nếu những lực lượng chống đối đủ tự do để không định kiến mà họ sử dụng Hồ Chí Minh như người của họ là nguy chứ không phải chuyện đùa đâu. Phải nói rằng Hồ Chí Minh đứng ở bên nào thì bên ấy trở thành chính nghĩa. Cho nên, đừng đẩy giá trị Hồ Chí Minh vào tay những kẻ đối nghịch với đảng của các bác.

TCS: Điều ấy chúng tôi cũng đã nói nhiều lần rồi.

NTB: Nói nhiều và nói một cách có chất lượng là rất khác nhau. Không phải điều gì cũng nói với mọi người được, và không phải mọi người đều có giá trị ngang nhau trong việc gửi các thông điệp chính trị. Tôi không phải là một thành viên thuộc thế hệ các bác, tôi không có địa vị lịch sử để nói với các nhà lãnh đạo như các bác. Tôi biết mình, tôi phải khiêm tốn. Nếu tôi đến gõ cửa các nhà lãnh đạo để nói thì người ta cho là tôi cơ hội, tôi định tìm kiếm cái gì đó. Tôi không định tìm kiếm cái gì ở họ hết, trừ sự yên ổn mà Đảng bằng sự sáng suốt chính trị tạo ra cho xã hội. Tôi nghĩ rằng các bác cũng cần rút kinh nghiệm xem cần phải nói như thế nào, chứ không phải họ sai thì ta nói kiểu gì cũng được. Bởi vì chưa biết chừng các bác cũng có thể có những cách nói sai. Cách nói nào mà đảng của các bác không nghe còn địch lại dùng được thì cách đó dứt khoát sai.

TCS: Chúng tôi muốn góp ý tiêu đề của Cương lĩnh Đại hội phải là "Chấn hưng đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh" hoặc "Chấn hưng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội dân chủ".

NTB: Về mặt lý luận, cần phải làm rõ hơn về vấn đề này. Chúng ta phải phân biệt rõ ràng giữa "xã hội dân chủ" và "dân chủ". Chúng ta bảo rằng chúng ta tiến lên xã hội dân chủ là chúng ta sai, bởi vì xã hội dân chủ là tên gọi của một trào lưu chính trị và bây giờ nó dần dần trở thành tên gọi của một loại đảng chính trị. Còn dân chủ là trạng thái chính trị của một xã hội mà trong đó tất cả các đảng chính trị đều có thể tìm kiếm được chỗ đứng. Xã hội có nền dân chủ là xã hội thừa nhận nhân dân làm chủ. Mục tiêu của chúng ta là xây dựng một xã hội mà người dân làm chủ chứ không phải là xây dựng một xã hội mà đảng xã hội dân chủ cầm quyền. Đấy là sự nhầm lẫn giữa chất lượng dân chủ của một xã hội với tên gọi của một phong trào chính trị.

TCS: Như vậy có nghĩa là "Cương lĩnh chấn hưng đất nước tổ chức nền dân chủ trong xã hội Việt Nam" mới đúng?

NTB: Tôi đã gọi rất rõ ràng là tổ chức và rèn luyện nền dân chủ Việt Nam, luận điểm này tôi nghĩ mười mấy năm mới ra được. Tổ chức là bởi vì chúng ta chưa có, còn rèn luyện là bởi vì chúng ta chưa có kinh nghiệm. Chúng ta chưa có và chưa có kinh nghiệm về nền dân chủ Việt Nam thì chúng ta phải làm như thế.

TCS: Có thể đưa thêm cụm từ "trong thời đại Hồ Chí Minh" được không?

NTB: Hồ Chí Minh là một loại vi lượng, nó quý đến mức không thể tùy tiện rải nó lên trên bề mặt của các hiện tượng chính trị mà chúng ta không đoán chắc được tương lai. Việc sử dụng các giá trị Hồ Chí Minh là độc quyền chính trị của những người cộng sản, vì thế không thể rêu rao nó ở mọi ngõ ngách của đời sống được. Nó phải trở thành ý chí thống nhất của các thành viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản. Cái khó của người Việt chúng ta là mua bộ com lê thì vẫn phải để nguyên cái nhãn ở tay mà mặc thì mới yên tâm chúng ta có bộ com lê xịn. Tức là chúng ta luôn muốn dán ra ngoài tất cả các giá trị mà không hiểu về giá trị. Hồ Chí Minh là vốn liếng chính trị quan trọng nhất và là cuối cùng của những người cộng sản. Không ai mang vốn ra để ngoài phố cả. Đó không phải là cái để mang ra nói một cách đại trà. Tôi đã nói rồi, bây giờ thêm chữ tự do vào khẩu hiệu "xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" cũng giống như mặc quần lót ra ngoài quần dài. Không nên hình thức hoá tất cả các kế sách chính trị một cách bừa bãi. Đã là kế sách thì phải nằm ở chỗ sâu nhất của đời sống quyền lực. Làm thế nào để ở những chỗ sâu xa như vậy mà nhân dân vẫn yên tâm là những giá trị ấy được bảo tồn, là điều rất quan trọng. Lâu nay, bằng những sự bất cẩn chính trị, nhiều nhà lãnh đạo đã làm mất lòng tin của xã hội vào phẩm chất của họ, cho nên dù anh có cái tốt ở bên trong người ta vẫn không tin. Làm thế nào để cho nhân dân tin được anh là điều rất quan trọng, nhưng không phải tin bằng việc anh mang cái nhãn dán lên ngực, mà trong hành vi hàng ngày của mỗi một cán bộ, trong hành vi hàng ngày của hệ thống chính trị, của hệ thống chính sách đều có chất lượng nhân dân thì nhân dân mới tin. Về bản chất Hồ Chí Minh là người đại diện cho nguyện vọng của nhân dân, các giá trị Hồ Chí Minh hỗ trợ những người cầm quyền để củng cố, để lấy lại lòng tin của xã hội đối với mình. Nhưng nếu anh cứ làm bậy thì dù anh có dán hình Hồ Chí Minh lên ngực người ta cũng không tin, thậm chí người ta còn có thể hiểu sai Hồ Chí Minh và do đó vốn liếng ấy cũng mất nốt. Hiện nay nó đang mất từng ngày.

Các bác có thể đặt câu hỏi tại sao một người không phải đảng viên như tôi lại luôn trăn trở về vận mệnh của những người cộng sản, và tại sao tôi không ủng hộ người khác mà lại ủng hộ họ. Nếu những người cộng sản không chủ động xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam thì sẽ có bạo loạn. Cho nên, trong tất cả các bài viết của tôi, tôi kêu gọi mọi người đoàn kết xung quanh những người cầm quyền đương nhiệm trong việc tổ chức nền dân chủ Việt Nam. Tất nhiên, tôi chỉ ủng hộ anh khi anh đứng ra tổ chức nền dân chủ thôi. Còn để anh tham nhũng, để anh lấy đất của người ta làm nhà thì tôi cũng chịu. Bởi vì anh có là vợ tôi hay bố tôi thì tôi cũng không ủng hộ anh bằng tình cảm chính trị được. Tôi không chống lại anh mà tôi kệ anh thôi. Giới trí thức có một phản ứng rất thú vị (trí thức thật chứ không phải là trí thức cơ hội), đó là nếu tôi nói mà anh không nghe thì tôi mặc kệ anh. Tối đa giới trí thức chỉ làm thế thôi, nếu làm khác thì không còn là trí thức nữa. Người trí thức là người biết, mà người biết là người dùng những gì mạnh nhất mình có. Đã dùng cái mạnh nhất mà không được thì thôi chứ không thể dùng cái thứ cấp của mình để phục vụ một cách có ích được. Không phải là bây giờ nếu tôi nói anh không nghe thì tôi sẽ cầm gạch đá, gậy gộc để chống lại anh, vì đấy không phải việc của giới trí thức. Có nhiều người làm việc ấy giỏi hơn trí thức. Tôi đã từng là người lính tham gia chiến tranh, tôi hiểu rằng những người lính nông dân trong cuộc chiến tranh ấy thông minh hơn các đại trí thức của chúng ta nhiều. Để xử lý những câu chuyện như chèn lưng cứu pháo rồi chuyện này, chuyện khác thì người lính nông dân giỏi lắm, các trí thức không ăn thua gì. Các trí thức chỉ có thể làm thơ về người lính thôi chứ làm lính là không làm được. Cụ Hồ và cụ Giáp trở nên vĩ đại chính là vì sử dụng chiến tranh nhân dân. Chiến tranh nhân dân tức là sử dụng những năng lực đột phá trong kinh nghiệm dân gian về chiến tranh, mà dân gian chúng ta có nhiều kinh nghiệm chiến tranh hơn tất cả các kinh nghiệm khác. Trí thức tối đa là như thế. Vì cái sĩ của người trí thức, vì cái khí phách của người trí thức, tôi nói cho anh những điều hay lẽ phải, nghe hay không là quyền của anh. Nếu anh chưa nghe thấy thì tôi nói thêm để anh nghe. Nếu anh nghe thấy rồi mà vẫn không thèm quan tâm thì tôi kệ anh, và đến đấy là hết. Nếu có ai đó rủ tôi ra cầm gạch đá hay gậy gộc là tôi dứt khoát từ chối, nhưng có rất nhiều người khác thì không từ chối làm việc ấy. Tôi sợ sự bạo loạn là vì xã hội chúng ta có hàng chục triệu người có thể làm và sẵn sàng làm những việc như vậy. Việc của người trí thức là nghiên cứu để ngăn chặn hiện tượng đó xảy ra. Bởi vì nếu có hiện tượng ấy thì lại có kẻ nhảy từ trong bụi ra, chưa biết là ai, thay thế những người cộng sản mà các bác đã biết mặt, biết tên, đã hiểu. Các bác chính là những kẻ bơ vơ chính trị đầu tiên sau khi có loạn lạc chứ không phải ai khác.

TCS: Xung quanh giá trị Hồ Chí Minh, anh nêu ra bốn vấn đề, tôi xin phép bổ sung thêm hai vấn đề nữa. Thứ nhất là nhân dân là thuộc tính vĩnh hằng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Thứ hai là giúp bạn là tự mình giúp mình là giá trị vĩnh hằng của Hồ Chí Minh. Trên phương diện quốc tế mà nói tư tưởng này của bác Hồ có thể vượt xa hơn Mác, Lênin.

NTB: Cái ý kiến bổ sung thứ nhất của bác, nhân dân là giá trị vĩnh hằng của Hồ Chí Minh thì đúng, nhưng tôi đã diễn đạt dưới hình thức khác đúng hơn. Hồ Chí Minh không dùng khái niệm nhân dân một cách chung chung. Hồ Chí Minh ý thức về giá trị con người chứ không phải giá trị nhân dân. Con người lớn hơn nhân dân. Nhân dân là tên gọi của số đông mà những người cá lẻ, những người vượt lên trên họ dùng để gọi họ. Nhân dân là tên gọi của bầy đàn, nhưng con người thì không bầy đàn, cho nên Hồ Chí Minh đi qua khái niệm nhân dân để đến với khái niệm con người.

TCS: Quan điểm về nhân dân của cụ Hồ có mấy nội dung, tin dân, học dân, dựa vào dân, có một quan điểm sau này ít người nói đến và không bao giờ dám nói đến, tôi nói với anh Lê Khả Phiêu là các anh giải thích về công tác dân vận không đúng. Quan điểm về nhân dân của cụ Hồ là rất hay.

NTB: Chiếu cố đến tình trạng chậm phát triển về chính trị của nhân dân mà Hồ Chí Minh giải thích các nguyên lý tư tưởng của mình như bác vừa kể. Đấy không phải là nguyên lý. Dân vận là hoạt động của chính trị viên cấp tiểu đoàn trở xuống chứ không phải của chính ủy trung đoàn trở lên. Cái ý nhân dân nếu bác viết cụ thể hơn nữa là bác sẽ thất bại, bác buộc các nhà lãnh đạo của chúng ta phải để ý đến nhân dân mà bác trói quá chặt bằng các ví dụ thì yêu cầu của bác trở thành yêu cầu nô dịch họ và người ta không ủng hộ bác. Thứ hai, giúp bạn như giúp mình chính là nội dung của khái niệm quốc tế vô sản mà người ta truyền tải vào Việt Nam, mà nội dung ấy trên thực tế đã được chứng minh là sai lầm, cho nên cần phải dẹp nó đi. Về chuyện này tôi đã viết một cách khái quát hơn, đó là hợp tác là triết học của thời đại chúng ta. Hợp tác là có cả hai bên, còn bây giờ bác bảo giúp bạn như giúp mình mà mình đói, mình nghèo, mình dốt thì mình giúp được ai. Đừng cung cấp những căn cứ để những kẻ huênh hoang đi giúp bạn. Chẳng giúp gì cả. Vì lợi ích của anh, anh phải hợp tác với mọi người. Diễn đạt như thế là hơi lạc hậu về mặt chính trị. Tất cả những phương án bác nghĩ, tôi đã nghĩ rất lâu rồi. Nhân dân là thuật ngữ để một số người gọi cái đám đông kia. Nhân dân chỉ là một sự thay đổi về mặt hình thức khái niệm thần dân, khái niệm bách tính mà thôi. Còn nếu đã là con người thì không gì thay nó được.

TCS: Trong bài trước anh có nói về chiến lược không để Tây xa quá, không để Tầu gần quá. Trước khi có cuộc trao đổi ấy chúng tôi đã đặt ra vấn đề không thể gần Tầu mà cũng không thể chạy theo Tây, cho nên tốt nhất là theo cái dĩ bất biến, ứng vạn biến của Hồ Chí Minh. Cho nên chúng tôi muốn đề nghị đưa vào cương lĩnh nguyên lý hay tư tưởng “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh để xử lý trong tất cả các vấn đề đối ngoại, sau đó đưa thêm nguyên tắc bốn điểm của anh thì tôi nghĩ nó hoàn chỉnh hơn.

NTB: Cái quan trọng nhất trong các luận điểm của tôi là tự do. Trong khi chúng ta nghĩ đến tự do của mình thì cũng không được quên tự do của các nhà lãnh đạo. Chúng ta không được phép trói họ vào những châm ngôn đơn giản như vậy. “Dĩ bất biến ứng vạn biến” cũng không phải là nguyên lý của Hồ Chí Minh. Tác giả của tư tưởng ấy là Khổng Tử. Khi bác đưa cái đấy vào là bác đã Trung Quốc hoá tư tưởng Hồ Chí Minh. “Dĩ bất biến ứng vạn biến” là câu nói đi đường của cụ Hồ để dạy các cán bộ của mình tác chiến hoặc ứng xử chiến thuật, không nên biến nó thành một nguyên lý chính trị. Vì nguyên lý chính trị chỉ có giá trị khi nào nó tạo được tự do cho những người sử dụng nó, còn nếu không chúng ta chỉ thay thế sự sùng bái này bằng một sự sùng bái khác. Một trong những việc tôn trọng các giá trị của Hồ Chí Minh là không được phép nhân danh ông cụ để bắt người khác phải sùng bái ông cụ. Các bác phải rất cảnh giác khi rút ra những kết luận như vậy, bởi nó không những không bổ sung cho trí tuệ chính trị mà không cẩn thận nó còn cổ vũ cho sự hình thành các mẹo chính trị. Ở đây cũng phải nói thêm rằng, chúng ta cần phân biệt rõ giữa mẹo chính trị và trí tuệ chính trị. Trí tuệ chính trị là tích cực và xây dựng, còn mẹo chính trị là che đậy, là kiến tạo âm mưu và không bao giờ bền vững. Để thoát hiểm trong một số tình huống bế tắc nào đó thì người ta có thể sử dụng mẹo chính trị, nhưng để đứng vững và phát triển thì người ta buộc phải sử dụng trí tuệ chính trị. Mẹo chính trị hướng dẫn và làm người ta có cảm giác mình sâu sắc, thâm thúy và từng trải, nhưng đấy là sự thâm thúy của một đường hầm dẫn chính trị đến chỗ chết. Đôi khi người ta khiếp sợ trước sự thâm hiểm của mẹo mà quên mất cơ sở của sự phát triển của hệ thống chính trị là trí tuệ chứ không phải là mẹo. Mẹo làm rắc rối, làm bẩn hình ảnh của một nhà chính trị, làm hỏng độ tin cậy của một hệ thống chính trị, những yếu tố chỉ có thể được xây dựng và bảo vệ bằng trí tuệ chính trị mà thôi. Nhược điểm của các nhà lý luận và nhà khoa học chính trị là ít khả năng nghĩ ra mẹo, nên đôi khi vì lấy việc thoát hiểm trong một số bế tắc cụ thể và ngắn hạn làm mục tiêu mà người ta không nhận thấy giá trị của đời sống lý luận và đời sống khoa học.

Ông Trần Quang Liêm (TQL): Tôi xin phép nêu mấy điểm anh cho ý kiến như thế nào. Cái thứ nhất, tôi hoàn toàn nhất trí vấn đề anh nêu, nói đến vấn đề Hồ Chí Minh phải nói đến con người là chủ yếu, còn chỉ nói chuyện nhân dân thì tôi cũng thấy như thế hẹp quá. Có hiểu như thế mới giải thích được Hồ Chí Minh là người cộng sản hay người dân tộc. Vấn đề đó hiện nay ở bên ngoài người ta vẫn tranh luận, nhất là lực lượng chống đối. Họ kết tội Hồ Chí Minh qua những sự kiện xảy ra trong quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo đất nước. Nhưng qua tìm hiểu các tài liệu thì chúng tôi thấy Hồ Chí Minh là người dân tộc. Từ chuyện ở Liên Xô chỉ làm quan sát viên cho đến sau này khi giải phóng xong rồi thì Stalin chưa công nhận ngay, mà Mao trạch Đông cũng chưa phải đã chịu ngay. Thứ ba là người ta kết tội Hồ Chí Minh về cuộc chiến tranh chống Mỹ. Người ta cho rằng cuộc chiến tranh chống Pháp là đúng, đó là cuộc chiến tranh giải phóng, còn cuộc chiến tranh chống Mỹ là cuộc chiến tranh ý thức hệ, chính Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc này thành người đại diện cho khối cộng sản chống lại khối tư sản. Đảng vẫn nêu khẩu hiệu tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa đông nam Á. Như vậy người ta kết tội rằng dân tộc chúng ta phải hy sinh nhiều thứ vì ý thức hệ.

NTB: Các bác không việc gì phải từ chối việc cụ Hồ gắn bó với cuộc chiến tranh thứ hai là cuộc chiến tranh chống Mỹ. Bởi vì thống nhất đất nước là ý chí của dân tộc Việt Nam, còn người ta gọi nó là sự đối đầu này khác thì đấy chỉ là một cách gọi. Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục là người lãnh đạo, vẫn tiếp tục là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Mỹ để thống nhất đất nước. Chúng ta phạm phải sai lầm khi gọi đấy là giải phóng. Đấy chính là thống nhất đất nước. Thống nhất đất nước là ý chí chính trị của dân tộc này có từ nghìn năm trước chứ không phải bây giờ. Nếu các bác tránh quá, bao nhiêu tội người ta treo lên Hồ Chí Minh mà các bác cố gắng gỡ hết ra thì rất mất công. Không việc gì phải né chỗ ấy. Dân tộc này mà không thống nhất được thì nó vẫn tiếp tục nội chiến. Nó đã có những cuộc nội chiến kéo dài 100 năm, đó là sự phân tranh Nam Bắc trong lịch sử. Khi ý thức về vận mệnh dân tộc, Hồ Chí Minh biết rất rõ rằng nếu không thống nhất được nó thì cuộc chiến tranh ấy vẫn cứ kéo dài và lúc nào cũng có thể xảy ra, thậm chí ngay cả bây giờ nếu không cẩn thận thì cuộc chiến tranh ấy vẫn có thể còn kéo dài ra nữa. Cho nên thống nhất đất nước là ý chí chính trị của dân tộc Việt Nam và Hồ Chí Minh là người tuân thủ ý chí ấy mà tổ chức cuộc chiến tranh thứ hai là chiến tranh chống Mỹ. Cuộc đấu tranh ấy không phải là chống Mỹ cứu nước như chúng ta gọi, mà là đấu tranh chống Mỹ để thống nhất đất nước. Hệ thống tuyên huấn của chúng ta có những lỗi lặt vặt khi gọi tên các sự kiện lịch sử. Ngay cả Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng không phải là không hô hào Bắc tiến. Trong câu chuyện này có cái khó nói bởi vì có một sự giống nhau ở mức độ nào đó về mục tiêu dân tộc từ miền Nam đến miền Bắc và ngược lại. Tuy nhiên, sự giống nhau ấy thể hiện một điều cực kỳ quan trọng, đó là ý chí thống nhất đất nước có cả ở các nhà chính trị của Việt Nam Cộng hoà. Như vậy là ý chí chống nhất đất nước là ý chí có thật của dân tộc chúng ta, chỉ có cái không may cho lực lượng này và may cho lực lượng khác là Hồ Chí Minh thắng trong cuộc chơi ấy. Không thể nào người thắng lại có tội được. Đôi khi người thua gán tội cho người thắng mà quên mất rằng người ta đã làm thay những việc mà mình không làm được.

TQL:Tôi muốn nêu vấn đề mà người ta đang tranh luận là có nên dùng chữ “Thời đại Hồ Chí Minh" không? Nếu nói cả quá trình từ trước cho đến trước khi Bác mất thì người ta nói đấy là thời đại Hồ Chí Minh. Còn giai đoạn sau này có một số vị tướng tá có ý kiến cho rằng Bác có để lại cái gì đâu mà bảo chúng ta tiếp tục sự nghiệp. Vậy ta có công nhận thời đại Hồ Chí Minh đến bây giờ vẫn tiếp tục không?

NTB: Cái mà cụ Hồ để lại chính là những vị tướng tá ấy. Nếu không có cụ Hồ thì làm gì có họ. Họ có thể là ai đó chứ không phải là ông tướng. Về vấn đề này, tôi có một cách gọi quyết liệt hơn nhiều. Trong một bài phân tích về Hồ Chí Minh, tôi đã nói rằng thời đại trước là thời đại có yếu tố Hồ Chí Minh, còn thời đại bây giờ mới là thời đại Hồ Chí Minh. Bởi vì vào lúc Việt Nam chưa thống nhất, chưa độc lập, chưa có các chủ quyền cơ bản và chưa có các tiềm lực cơ bản, chúng ta buộc phải nương nhờ, chúng ta buộc phải dựa dẫm vào quốc tế vô sản, dựa vào tình anh em môi hở răng lạnh, chúng ta vá víu bằng đồng vốn và bằng tham vọng của kẻ khác, cho nên Hồ Chí Minh không hiện được nguyên hình những giá trị của ông cụ. Bây giờ mới là lúc thời đại Hồ Chí Minh bắt đầu một cách trọn vẹn. Cho nên không phải là có gọi thời đại này là thời đại Hồ Chí Minh hay không, mà bây giờ thời đại Hồ Chí Minh mới bắt đầu.


TCS:Tôi hoàn toàn nhất trí với anh. Tôi xin trích ý kiến của tác giả Furuta Motoo viết trong quyển "Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới", ông ấy kết luận như thế này: "Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, đó là hy vọng, tâm niệm của dân tộc Việt Nam. Nhưng tác giả tâm niệm và hy vọng rằng Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, không phải chỉ của người Việt Nam mà sẽ là hy vọng, tâm niệm của nhân loại trong thế kỷ XXI để giải quyết hai nhiệm vụ có tính toàn cầu, một là một nền kinh tế tiêu ít năng lượng nhất, hai là nhà nước dân chủ"

NTB: Hoàn toàn đúng. Hồ Chí Minh là người đã gợi ý cho nhân loại nhiều thứ tốt đẹp. Tôi quan niệm thời đại Hồ Chí Minh bây giờ mới bắt đầu. Nhiều học giả của chúng ta thắc mắc tại sao lại gọi là thời đại Hồ Chí Minh. Tôi nói rằng hãy thắp hương hỏi cụ Hồ xem cụ ấy có cho phép chúng ta đặt cái thời đại này là thời đại Hồ Chí Minh nữa hay không. Không phải là chúng ta lấy cụ Hồ để đặt tên cho thời đại của chúng ta, mà có khi chúng ta phải hỏi xem ông cụ có bằng lòng để một giai đoạn tham nhũng đầy rẫy như thế này được gọi là thời đại Hồ Chí Minh không. Tôi hoàn toàn tán thành cách mô tả của tác giả ấy, và hoàn toàn ủng hộ việc bác trích dẫn như thế. Trích dẫn này là trích dẫn rất công bằng và rất khoa học đối với ông cụ.

Phải nói thật với các bác rằng từ lâu rồi tôi vẫn băn khoăn tại sao một nhân vật lịch sử đem lại nhiều lợi ích đến thế mà xã hội vẫn luôn luôn phân vân trong việc đánh giá ông cụ. Sự phân vân ấy trong tầng lớp các nhà chính trị chuyên nghiệp cũng có, trong tầng lớp trí thức chuyên nghiệp cũng có và trong quần chúng nhân dân cũng có. Và tôi phân tích tình thế như thế này: Nhân dân không hiểu về Hồ Chí Minh, nhân dân tin Hồ Chí Minh vào lúc xuất thần của dân tộc chúng ta trong việc đi tìm hình của đất nước. Khi chúng ta đi tìm hình hài của đất nước thì chúng ta gặp Hồ Chí Minh. Nhân dân phát hiện ra Hồ Chí Minh, nhưng một cách bản năng, không có công cụ lý luận, cho nên thế hệ này qua thế hệ khác, tình cảm ấy phai nhạt theo sự tuyên truyền của các tổ chức tuyên truyền. Do sự chất tải lên Hồ Chí Minh những giá trị mà ông cụ không có hoặc ông cụ không muốn có, hệ thống tuyên truyền ấy đã đi ngược lại tình cảm của nhân dân, làm cho tình cảm của nhân dân đối với Hồ Chủ tịch mất dần đi.

Thứ hai là sự phân vân của tầng lớp trí thức. Phải nói rằng tầng lớp trí thức đi theo Hồ Chí Minh là để đi tìm hình của nước. Những người như giáo sư Hồ Đắc Di, giáo sư Tôn Thất Tùng, giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, giáo sư Hoàng Xuân Hãn, họ đi theo ông cụ bởi ông cụ chất chứa những nguyện vọng lớn lao của dân tộc này. Nhưng càng ngày sự phân phối kết quả của cuộc cách mạng và giải phóng đến tầng lớp ấy càng nhạt đi, càng ngày địa vị chính trị của giới trí thức Việt Nam càng mất dần đi. Do sự thất thiệt về quyền lợi cũng như địa vị chính trị của tầng lớp ấy ngày càng tăng lên mà tình cảm của giới trí thức với Bác Hồ cũng nhạt dần. Khi tôi nói những chuyện này là tôi muốn nhắc lại để ngăn cản sự mất mát tình cảm đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giới trí thức Việt Nam, và phần nào trong người dân Việt Nam. Tôi không làm việc này vì động cơ khoa học mà vì động cơ yêu nước, nhưng bằng sự phân tích khoa học. Ngay cả giới trí thức cũng có trạng thái phân vân về giá trị lịch sử của Hồ Chủ tịch. Vì những người sau này đã làm mất dần giá trị lịch sử của chính họ và của giới trí thức, cho nên giới trí thức buộc phải xem lại cội nguồn của tất cả các giá trị ấy là Hồ Chí Minh. Điều ấy mà không phân tích ra thì còn rất lâu nữa chúng ta cũng không thể khôi phục lại và sử dụng một cách khoa học, một cách có lợi các giá trị chính trị của cụ Hồ đối với tương lai chính trị của Việt Nam.

Thứ ba là trong giới chính trị. Tỉ lệ những yếu tố cơ hội trong đội ngũ các nhà chính trị càng ngày càng lớn. Nó lớn đến mức họ chỉ nhìn thấy những sức mạnh của quyền lực trước mắt mà quên mất rằng quyền lực lịch sử chi phối toàn bộ đời sống người Việt chứ không phải chỉ quyền lực đương quyền. Do quên mất sức hút của quyền lực lịch sử và muốn thoả mãn nhanh chóng các tham vọng có chất lượng cơ hội ngắn hạn, cho nên ngay cả giới chính trị cũng sao nhãng và quên mất các giá trị của Hồ Chí Minh. Và vì không thể không nhắc đến Hồ Chí Minh cho nên họ nhắc đến một cách chiếu lệ, và sự nhắc chiếu lệ ấy tạo ra sự tô vẽ Hồ Chí Minh một cách không đúng sự thật, nhất là không đúng đòi hỏi có chất lượng tâm linh thuộc về con người.

Ông Tạ Mai: Khi đọc tác phẩm của anh tôi rất tâm đắc. Tôi đã mang cái ấp ủ về vấn đề trong cái bài mà giáo sư Đặng Hữu phát tại Đại hội IX là tín ngưỡng và tâm linh, nhưng thấy rằng người ta ít lắng nghe, những người có trách nhiệm cũng không quan tâm. Tôi cùng với anh Chu Phác và anh Nguyễn Phúc Giác Hải rồi cả giáo sư Đặng Hữu và anh Phạm Văn Hiển, chúng tôi nghiên cứu lĩnh vực tâm linh Hồ Chí Minh và muốn chứng minh có đúng Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta không. Chúng tôi đi tìm hiểu và thấy được linh hồn cụ Hồ Chí Minh bây giờ vẫn ở bên cạnh chúng ta, có sự chứng minh đầy đủ. Hiện nay, hàng vạn người thừa nhận Hồ Chí Minh cứu họ, chúng tôi có đầy đủ bút tích tập hợp những chuyện như vậy.

NTB: Về vấn đề tâm linh, trong một bài trả lời phỏng vấn báo chí, cô phóng viên có hỏi tôi "Ông có tin vào tâm linh không?". Tôi trả lời rằng tôi tin có một thứ không phải là ma mà là những dòng xung lượng tinh thần chảy một cách mạnh mẽ trong tâm hồn con người. Khi mà con người rơi vào trạng thái mà các điện trở gần như bằng không trong các hệ thống dẫn thì dòng năng lượng ấy toả sáng, và đấy là phút con người giao lưu với thần thánh.

Ông Dương Xuân Đống (DXĐ): Tôi đọc các tài liệu của anh và rất tán thành những vấn đề mà anh nói, trong đó có vấn đề nhân dân. Trong các bài viết của anh, anh nói không gọi là dân mà phải gọi là nhân dân, anh phân biệt nhân quyền và dân quyền tôi rất tán thành. Chúng ta chỉ nói chữ công quyền mà không nói đến nhân quyền. Tôi rất tán thành quan điểm phi cách mạng hóa của anh. Bỏ thì dễ lắm. Phá một cái nhà chỉ mất một hai ngày, nhưng xây một cái nhà thì mất một hai năm. Tôi tán thành điều anh vừa phân tích là nhân dân chỉ là cách gọi khác của thần dân. Ở tầm suy nghĩ của chúng tôi chưa vượt qua được chữ nhân dân. Hôm nay anh đã giúp chúng tôi phá rào chữ "nhân dân". Năm 2004, tôi có viết một bài tên là "nhân dân, thuộc tính của quân đội Việt Nam", về sau tôi đổi tên thành "người tráng sĩ nhân dân thời hiện đại". Trong đó tôi có hai ý tiếp thu của anh và phát triển lên. Thứ nhất anh nói quân đội ta là sản phẩm của chính trị chứ không phải là sản phẩm của quốc phòng. Thứ hai là quân đội nhân dân là lực lượng liên doanh giữa nhà nước và nhân dân. Anh đã nói hộ tôi những điều tôi không nói được. Tôi thấy quan hệ giữa nhà nước, quân đội và nhân dân giống như cái tam giác mà nhân dân là đáy, không có đáy thì sống sao được. Tôi nghiên cứu về văn hóa quân sự, nhưng thực ra tôi chỉ làm được một việc là giới thiệu văn hoá quân sự Việt Nam nông nghiệp thôi. Tôi thấy rằng văn hóa quân sự ở Việt Nam có hai thuộc tính, tính nhân văn và tính trí tuệ, tính trí tuệ bảo vệ tính nhân văn. Có những quốc gia mà sự nghiệp quân sự rất đồ sộ, nhưng không có tính nhân văn.

NTB: Trong tổng sơ đồ của nền văn hoá Việt Nam thì nền văn hoá quân sự là mảng to nhất và quan trọng nhất. Tôi đã định nghĩa văn hoá là cái vết mà con người để lại trong cuộc sống. Vết đi của con hổ khác với vết trườn của con rắn, khác vết bò của con kỳ đà. Ví dụ, không có sự giống nhau giữa văn hoá Việt và văn hoá Trung Hoa, nó chỉ có cái hình hài có vẻ giông giống như vậy thôi, nhưng khi chiếu kính lúp lên trên các vết của các dân tộc thì chúng ta sẽ thấy nó khác nhau hoàn toàn. Do đó, tôi chứng minh bản sắc là cái không mất đi được. Nhiệm vụ của chúng ta là tạo ra cơ sở khoa học để cho các nền văn hoá ấy tiếp nhận lẫn nhau và trở nên cởi mở hơn, và do đó nền văn hoá của chúng ta không phải là một thứ văn hoá đóng kín, không phải là ao tù mà là một dòng chảy hội nhập với thế giới. Cho nên văn hoá quân sự Việt Nam cũng là một nền văn hóa buộc phải mở như vậy, chứ không phải là một vị thuốc đặc trị, một vị thuốc gia truyền. Nền văn hoá quân sự của Việt Nam có những yếu tố giống với nhiều nền văn hoá quân sự khác, nhưng nền văn hoá quân sự Việt Nam là nền văn hoá tự nhiên nhất trong tất cả các nền văn hoá. Nền văn hoá quân sự Việt Nam có đặc tính giống với lúa nước, nó là sự bất trị của người Việt. Cơ sở để người Việt trở thành bất trị trước nhân loại chính là nền văn hoá quân sự. Văn hóa quân sự Việt Nam là một nền văn hóa đạt đến chỗ trở thành nền văn minh về mặt quân sự. Mục tiêu của nền văn hóa quân sự Việt Nam cao hơn nhiều so với bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Nó bảo vệ thân phận con người ở Việt Nam. Khi nào mà bác vượt qua vấn đề nhà nước để nghiên cứu về văn hóa quân sự thì bác sẽ thấy văn hóa quân sự Việt Nam cao hơn các nền văn hóa quân sự khác vì nó gắn liền với thân phận con người ngay từ khi có nó.

DXĐ: Tôi xin phép nói một số cảm nghĩ của mình. Trước khi đến gặp anh, tôi chỉ biết anh qua một số tác phẩm. Bao giờ cũng thế, tác phẩm đi trước, con người đi sau và đánh giá con người là đánh giá qua tác phẩm. Hôm nay gặp anh tôi thấy người ta đúng khi gọi anh là một nhà tư tưởng, mà theo sự trao đổi của chúng tôi thì có lẽ anh nên là một cố vấn chính trị.

NTB: Tôi đã tâm sự với các bác rồi, tôi không tham chính. Không phải vì tôi không thích. Nếu nói không thích thì tức là coi thường các nhà lãnh đạo, cho nên nói là không dám thì đúng hơn. Không dám vì trong những điều kiện hiện nay phải hội tụ rất nhiều thứ mới làm được. Có những người hội tụ đủ các thứ rồi còn chẳng làm được nữa là tôi. Một lần nữa, cảm ơn các bác đã đến trao đổi với anh em chúng tôi.
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Căn nguyên của phát triển

    28/08/2016Trần Hữu DũngKhoảng 10-15 năm trở lại đây, một cuộc tranh luận đã diễn ra trong giới kinh tế về thành tố sâu xa nhất của phát triển, cụ thể là: có yếu tố nào căn bản hơn, đàng sau những yếu tố nói trên?
  • Chính trị học của tự do

    17/10/2014Nguyễn Trần BạtTự do là cách thức giải phóng con người ra khỏi sai lầm, định kiến, quá khứ, tự do làm thay đổi một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia để bắt đầu chặng đường phát triển của chính nó. Khích lệ nhu cầu tự do của con người là một trong những khích lệ nhân văn nhất. Những ai ngăn cản tự do, những ai từ chối tạo điều kiện để con người tự do thì đó là kẻ chống lại loài người...
  • Thời vắng những nhà văn hoá lớn?

    25/09/2014Trần Hữu DũngTrong một lần gặp gỡ một nhóm sinh viên trẻ ở Hà Nội vài năm trước, tôi hỏi các em: Trong xã hội Việt Nam ngày nay, đặc biệt là trong lãnh vực văn hoá, các em ngưỡng mộ ai nhất? Và tôi ngạc nhiên khi chẳng em nào trả lời tôi được! Nhớ lại hồi còn trẻ, tôi có thể kể năm bảy người mà tôi ngưỡng mộ, những Đào Duy Anh, những Nguyễn Mạnh Tường, những Trần Đức Thảo, những Hoàng Xuân Hãn, những Nguyễn Hiến Lê... Còn ngày nay? Có thể chăng chúng ta đang sống trong thời vắng những nhà văn hoá lớn?
  • Hình tượng anh hùng trong thời đại phát triển

    22/08/2014GS Trần Văn ThọMong rằng hai ba mươi năm nữa, những quan chức, những vị lãnh đạo đầu đã bạc sẽ ngồi ở quán cà phê bên Hồ Hoàn Kiếm trò chuyện mãi về những ngày mà thời trung niên của họ đã hết lòng vì nước vì dân, nên Việt Nam đã vượt qua cái bẫy của nước thu nhập trung bình, chen chân được vào hàng ngũ những nước giàu mạnh trên thế giới .
  • Trao đổi học thuật: Hệ thống lý luận phát triển đất nước

    20/07/2011Ông Nguyễn Trần Bạt nói chuyện năm 2008Tôi vẫn cứ bồi hồi về việc các anh đến đây, bởi vì trao đổi với những người đã đạt đến một cương vị quản lý ở cấp như các anh, đối với chúng tôi là một vinh dự và thích thú. Sự thích thú ấy thể hiện ở chỗ là như vậy, cái cách mà đảng cầm quyền hoạt động đã gần đúng. Tôi nói là gần đúng vì có lẽ cần phải mở rộng hơn diện tiếp cận như thế này. Trong những lần nói chuyện trước, tôi đã nói rồi và hôm nay tôi xin nhắc lại, tôi đã định nghĩa các anh là những vệ sĩ lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, của hệ thống chính trị...
  • Phải ý thức để gìn giữ và bảo vệ không gian sống

    19/07/2011Ông Nguyễn Trần Bạt trả lời phỏng vấnGần đây báo chí có những thông tin về chuyện ở vùng Vĩnh Long có hiện tượng người Trung Quốc núp bóng dân địa phương thuê lại đất làm nông nghiệp. Khi phân tích hiện tượng...
  • Quốc hội khóa 13: Tôi kỳ vọng, nhưng không yên tâm…

    19/07/2011Ông đã nhận lời trò chuyện với phóng viên Đại Đoàn Kết về những kỳ vọng của cử tri vào trách nhiệm của Quốc hội khóa mới về những vấn đề nóng bỏng của đất nước hiện nay, trước ngày kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 13 khai mạc, với lý do: “Tôi đang rất chú ý tới loạt bài Những chứng cử lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền VN tại Trường Sa và Hoàng Sa” đăng trên Đại Đoàn Kết...
  • Cuộc hội ngộ 5 nhân vật phi thường ở Mác-xây

    25/06/2011Bùi Quang Minh (giới thiệu)... đây là một tư liệu lịch sử hiếm có về nhiều nhân vật tầm cỡ lập nước có giao thoa sự nghiệp (hội ngộ tại một thời điểm) mà chúng ta vẫn còn rất thiếu thốn tư liệu về họ, và chưa được tổ chức nghiên cứu và đánh giá chu đáo, đầy đủ, công khai... Mặt khác qua tư liệu duy nhất này, bậc tiền bối còn để lại nhiều thông điệp quan trọng cho hậu thế... Chúng ta được chứng kiến các đường lối cứu nước, thực thi cách mạng Việt Nam gần 100 năm trước do các nhân vật lịch sử đưa ra bàn bạc, cọ xát, suy xét vì lợi ích của dân tộc ra sao.
  • Kết luận về các bài học phát triển đất nước (phần 1)

    28/05/2011GS. Đặng PhongLenin nói: Tổ chức quyết định tất cả. Tổ chức được hiểu theo nghĩa: Là những thiết chế của toàn bộ xã hội từ trên xuống dưới, từ lĩnh vực này tới lĩnh vực kia, theo một mô hình như thế nào để toàn bộ các mối quan hệ có thể vận hành tốt nhất. Trong đó phải có cả những khích lệ thích đáng lẫn những răn đe và trừng phạt thích đáng. Một hệ thống mà khích lệ thói cơ hội, giả dối, kiêu ngạo… sẽ chỉ có thể là một xã hội trì trệ. Một hệ thống không đủ khả năng ngăn chặn những quyết sách sai lầm thì khó tránh khỏi hiểm họa...
  • Đổi mới tư duy hay đổi mới cơ chế

    02/02/2011TS. Nguyễn Đức Thành
    Nhiều người so sánh giai đoạn hiện nay với giai đoạn đổi mới trước đây, và chờ đợi những tư duy mong đợi một “tư duy mong đổi mới”. Dù tư duy ấy có thể gồm một bộ ý tưởng được suy nghĩ, cân nhắc kỹ càng, có vẻ vẫn thuộc về lối tư duy cũ. Điều này có lẽ bắt nguồn từ kinh nghiệm của giai đoạn Đổi mới trước đây...
  • Định hướng phát triển kinh tế Việt Nam 5 năm tới

    25/01/2011Kim TháiToàn bộ sản phẩm của nền kinh tế tương lai của Việt Nam trong 2-3 năm tới lệ thuộc vào sự phục hồi của nền kinh tế phương Tây, tức là phương Tây mới là thị trường của các sản phẩm của nền kinh tế Việt Nam. Do đó, trong 2-3 năm tới, nền kinh tế Việt Nam chưa nhìn thấy sự phát triển thoả mãn kỳ vọng của chúng ta về phát triển kinh tế...
  • Bác Hồ với việc dùng nhân tài

    17/01/2011Dương Trung QuốcCàng ngày ta càng hay nhắc đến câu nói của người xưa ghi tạc trên một trong những tấm bia đặt ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám : “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia…”, coi đó như một nguyên lý bất hủ về nhân tốt đã giúp dân tộc ta trường tồn trên con đường dựng nước và giữ nước...
  • xem toàn bộ

Nội dung khác