Làm khác đi, bắt đầu từ mục đích dạy sử

10:20 SA @ Thứ Bảy - 17 Tháng Tám, 2013

Tôi trở lại với trường hợp Phần Lan, quốc gia đang rất nổi tiếng nhờ thành công trong giáo dục phổ thông của họ, như là một căn cứ, thông qua đó giúp chúng ta tự định vị mình đang ở đâu và đang thật sự có những vấn đề gì?

Lịch sử - Đôi chuyện viết và đọc

Hai ý kiến trong kỳ này, một nêu quan điểm về nội dung môn sử cần dạy trong trường học theo từng cấp, một cho biết cách làm của một nền giáo dục khác đối với môn sử. TTCT mong bạn đọc tiếp tục góp bàn cho câu hỏi: Vậy nếu đi từ sách giáo khoa, ta cần một cách tiếp cận ra sao?

Trước tiên tôi sẽ bàn đến các tiêu chí về một mẫu hình học sinh lý tưởng liên quan đến môn học này mà nhà trường Phần Lan lấy làm mục tiêu đào tạo.

Mục tiêu môn học

Tại Phần Lan, mục tiêu môn sử cũng như các môn học khác của bậc giáo dục cơ bản được quy định trong chương trình cốt lõi quốc gia (VN thường gọi là chương trình khung - BTV). Tài liệu này trình bày mục tiêu và nội dung tổng quát của môn học dành cho học sinh bậc giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9), mô tả những khía cạnh về một mẫu hình lý tưởng phải như thế nào.

Học sinh Phần Lan bắt đầu học sử từ lớp 5. Chúng tôi xin lấy những quy định quốc gia dành cho học sinh từ lớp 7 đến lớp 9 để phân tích, theo đó học sinh phải:

• Nắm và sử dụng được những thông tin về lịch sử.

• Biết sử dụng nhiều nguồn, so sánh giữa các nguồn và xây dựng ý kiến, góc nhìn dựa trên những nguồn này.

• Hiểu rằng dữ liệu lịch sử có thể được giải thích theo nhiều cách khác nhau.

• Giải thích được mục đích và hệ quả của hoạt động con người.

• Đánh giá các lựa chọn thay thế trong tương lai dựa trên những bằng chứng về sự thay đổi trong lịch sử.

Cụ thể hơn, tài liệu mô tả mẫu hình của học sinh sau khi đã kết thúc lớp 8 như sau:

• Biết cách phân biệt đâu là những yếu tố giải thích một vấn đề chính với những yếu tố thứ cấp.

• Sẵn sàng đọc và giải thích những nguồn thông tin khác nhau.

• Biết đặt các sự kiện lịch sử được học vào bối cảnh thời gian phù hợp và sắp xếp theo đúng trình tự thời gian.

• Biết cách giải thích nguyên nhân, theo nhiều mặt trong cuộc sống, vì sao con người từng hành động khác hẳn so với cách họ làm ngày nay.

• Biết cách trình bày nguyên nhân gây ra cũng như hệ quả mang lại của những sự kiện lịch sử.

• Sẵn sàng trả lời câu hỏi về quá khứ bằng cách sử dụng thông tin các em có được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm những thông tin các em tìm kiếm được thông qua những phương tiện công nghệ hiện đại.

• Trình bày một cách có hệ thống những ý kiến, lý luận và đánh giá về những sự kiện hay hiện tượng.

Chúng ta thấy những gì mà việc giảng dạy môn học này nhắm tới ở trên là đào tạo những kỹ năng và thái độ khách quan khoa học mà học sinh cần phải sở đắc, tuy ở đây mới chỉ là những mục tiêu dành cho học sinh lứa tuổi trung học cơ sở. Chúng ta không thấy những đòi hỏi bắt học sinh thuộc lòng các nội dung có sẵn, mà là những đòi hỏi liên quan đến phương pháp sử học, đến cách tư duy độc lập, đến khả năng phân tích và phê phán - những điều có lẽ rất xa lạ đối với học sinh cùng lứa tuổi ở nước ta.

Để thực hiện mục tiêu này, giáo viên sử dụng các phương pháp sư phạm chủ động như tổ chức cho các em tự nghiên cứu văn bản, làm việc nhóm, thuyết trình, tập cho các em tìm kiếm phân loại thông tin, thẩm định các nguồn dữ liệu, đánh giá và phê phán chúng...

Cách thức đánh giá kết quả học tập

Học sinh Phần Lan không phải học để thi. Từ lớp 1 đến lớp 9, học sinh chỉ phải trải qua một kỳ thi cuối lớp 9. Trong suốt các năm học, quyền đánh giá học sinh thuộc về giáo viên đứng lớp, giáo viên lại phối hợp với từng học sinh để làm điều này chứ không áp đặt một chiều.

Về việc này, một cô giáo dạy lớp 6 chia sẻ: “Học sinh tự lập bảng đánh giá bản thân, tự cho mình một số điểm, tôi cũng cho các em một số điểm nhất định. Các bài kiểm tra (do giáo viên tự tổ chức) đóng một vai trò nhỏ trong đó, nhưng kết quả học tập cũng phụ thuộc vào cách thức hoạt động trong lớp của học sinh. Ví dụ nếu học sinh tích cực phát biểu, các em sẽ có thêm điểm cộng”.

Với cách làm như trên, thầy trò cùng bàn bạc và đi đến một bản báo cáo chung bằng số, với những nhận xét bằng lời vào cuối mỗi năm học. Những bản báo cáo này như là lý lịch học tập và rèn luyện của học sinh, không những miêu tả mặt kiến thức mà còn miêu tả tất cả khía cạnh trong quan niệm giáo dục toàn diện của người Phần Lan mà mục tiêu giáo dục quốc gia đã xác định.

Trở lại vấn đề học và dạy sử ở VN, đọc các sách giáo khoa sử, cũng như sách giáo viên, tài liệu hướng dẫn giảng dạy môn học này, tôi thấy mục tiêu của việc dạy được mô tả chủ yếu là chuyển tải những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa cho học sinh, làm cho học sinh ghi nhớ các sự kiện, các mốc thời gian, các ý nghĩa rút ra từ bài học...

Ví dụ mục tiêu của bài học “Bình Tây đại nguyên soái” Trương Định, trong sách giáo khoa lịch sử và địa lý lớp 5 là: Học xong bài này, học sinh biết: 1) Trương Định là một trong những tấm gương tiêu biểu của phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam kỳ. 2) Với lòng yêu nước, Trương Định đã không tuân theo lệnh vua, kiên quyết ở lại cùng nhân dân chống quân Pháp xâm lược (tr. 9)...

Trường học nước ta không dạy cho các em các phương pháp sử học, khả năng tư duy độc lập, phân tích và phê phán các sự kiện lịch sử... như chúng ta thấy trong trường hợp Phần Lan. Cả hệ thống giáo dục phổ thông VN hiện nay là dạy - học để đi thi và các đề thi phần lớn nghiêng về kiểm tra trí nhớ mà không dạy cho các em khả năng nhận định những kiến thức đó thế nào, đúng hay sai...

Như vậy, quan niệm về hình ảnh lý tưởng của một học sinh giỏi sử giữa ta và Phần Lan là hoàn toàn khác biệt. Một bên là hình ảnh của một nhà sử học với khả năng phản biện, tư duy độc lập, biết các kỹ năng đọc sử và giải thích sử...; một bên là hình ảnh của một học sinh ghi nhớ tốt những gì có sẵn để trả bài nhằm có những điểm số tốt mà không cần biết những gì có sẵn đó như thế nào.

Điều đó không chỉ làm các em chán ghét môn sử mà đẩy chúng ra xa với những chuẩn mực quốc tế trong việc quan niệm thế nào là giỏi là dở, chẳng đem lại lợi ích gì cho riêng người học và sự phát triển xã hội nói chung.

NGUYỄN KHÁNH TRUNG (IRED)

Tôi có đọc ở mỗi cấp học một vài cuốn sách giáo khoa môn sử và quả tình nhiều lần đã phải chịu thua, quẳng sách đi với nỗi bứt rứt không nói nên lời. Đáng ra sử cấp I phải là những bài văn khái quát và thật hay (từ cực ngắn đến dài dần ra) về những giai thoại, huyền thoại và những nhân vật tiêu biểu nhất của sử Việt.

Các vị vua Hùng, Thánh Gióng, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Dương Vân Nga, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Gia Long, Nguyễn Huệ, Minh Mạng, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp... không có những bài sử có văn thì các em nhỏ không thể nào nhớ, thích và yêu môn sử được. Đó là những nhân vật làm nên những trang sử ngời sáng của dân tộc và sự toàn vẹn của nước Việt ngày nay. Họ sẽ dẫn dắt các em ở tuổi hồn nhiên ấy bằng sự hiến dâng và thành công của họ.

Sử cấp II, theo tôi, Việt Nam sử lược của học giả Trần Trọng Kim có thể chọn làm nền tảng, ít nhất cũng từ thời Hồng Bàng đến hết nhà Nguyễn. Đây là bộ giáo trình công phu gần như hoàn hảo của một người tâm huyết và nhiều tinh thần khách quan trong nghiên cứu sử.

Đã đến lúc chúng ta nên thôi phân biệt đối xử với những tác gia một thời biến động và phức tạp, cốt để cho học sinh và sinh viên của mình được thừa hưởng mọi đóng góp, dù họ từng là gì. Cũng như chúng ta đã cho in lại văn thơ và hát lại ca khúc của những người một thời từng ở “bên kia chiến tuyến”. Sử dụng lại Việt Nam sử lược sẽ dễ dàng đưa đến cho học sinh hệ thống kiến văn sử, có cả bản đồ lẫn biểu đồ để hình dung sự tồn tại song hành của các nước lớn liên quan chính đến Việt Nam là Trung Quốc và Pháp.

Sử cấp III, theo tôi, quả thật nan giải nếu chúng ta không biên soạn với tinh thần khách quan. Sự công tâm, minh bạch luôn là vẻ đẹp của môn sử. Đó là những khúc quanh bi kịch của dân tộc mà những nam nữ thanh niên sắp trưởng thành cần biết để được trưởng thành một cách thật sự, không phải một người thụ động hay một con vẹt mà là người thấu suốt, có lập luận và có chủ kiến riêng.

Đó là những giai đoạn có hào hùng và cũng có sự phức tạp dữ dội, ví như sự kiện Dương Vân Nga với hai triều, như chân dung nhiều mặt của Trần Thủ Độ, như vụ án vườn Lệ Chi, như sự phân tranh dằng dặc Trịnh - Nguyễn, như công lao và sự yếu kém của nhà Nguyễn, như sự vẻ vang nhưng ngắn ngủi của triều đại Quang Trung, như thế sự bàn cờ ở hội nghị Giơnevơ giữa các nước lớn và thân phận bé nhỏ của Việt Nam, như những bước được và mất của những chiến dịch chủ yếu của cuộc chiến với người Mỹ...

Chúng ta đã khiến các em học sinh cấp III (bắt đầu từ cấp II) bội thực vì những chiến công của một phía trong hai cuộc chiến mới đây. Khoa học lịch sử khác với khoa học quân sự. Điều đó còn để lộ rằng chúng ta quá đắm đuối với thành tích của chính mình mà nhẹ hẳn phần của cha ông ngàn xưa và cận đại. Liệu chúng ta có giỏi hơn cha ông xưa trong việc thoát ra ngàn năm Bắc thuộc và sau đó là những cuộc chiến tranh giữ nước luôn luôn không cân sức? Ngay cả một em nhỏ cấp II cũng thấy chúng ta quá tự cao tự đại về thời của mình (xem trên TTCT số 17) mà không thể yêu sử được.

Không dưng mà giáo sư sử học Trần Quốc Vượng ấm ức cho đến lúc ra đi, rằng ở Việt Nam hiện thời có môn sử nhưng chưa có khoa học lịch sử.

FacebookTwitterLinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Bài học lịch sử

    04/08/2019Phạm QuỳnhLịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục; nó còn khích lệ. Nó làm nguôi ngoai, đem lại sự bình tâm; nó xoa dịu những nôn nóng cũng như những âu lo và cung cấp chỗ dựa cho niềm tin và hy vọng. Giữa những ưu tư nặng nề trước các khó khăn hiện tại, nó đưa lại sự tĩnh tâm thư thái khi thanh thản chiêm ngưỡng quá khứ vì dường như ta được tham dự vào sự bất tận của thời gian và vĩnh hằng của muôn vật. Nó là một phương thuốc tuyệt vời chống lại sự nản lòng và bi quan.
  • Xác minh sự thật lịch sử không đơn giản

    31/07/2017Thư Hiên thực hiện“Chức năng cao cả nhất của lịch sử là tôn trọng sự thật. Tuy nhiên, nhận thức lịch sử là một quá trình” - giáo sư, nhà giáo nhân dân Phan Huy Lê, chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trò chuyện cùng TTCT sau lễ vinh danh học sinh giỏi quốc gia môn sử lần đầu được tổ chức.
  • Tất cả đã có trong lịch sử

    04/06/2016Vương Trí NhànVề tham nhũng, Đại việt sử ký toàn thư ghi, không phải đến thời vua Lê chúa Trịnh, mà ngay từ đời Lê Nhân Tôn ( sau Lê Thái Tổ và Lê Thái Tôn, trước Lê Thánh Tôn ), tức khi vương triều thịnh trị, đã có hiện tượng “ trên thì tể tướng, dưới thì trăm quan, hối lộ bừa bãi ”...
  • Nhìn nhận lại môn lịch sử - Dạy gì về Phan Châu Trinh?

    30/05/2016Nhà văn Nguyên NgọcNói chuyện lịch sử bao giờ cũng cần rất thận trọng. Nói lịch sử với lớp trẻ càng cần thận trọng hơn. Về Phan Châu Trinh, nhân vật sáng chói đầu thế kỷ XX của chúng ta, ít ra cũng cần cố gắng nói với những người trẻ hôm nay rằng ông từng thống thiết nhận ra những câu hỏi sâu sắc nhất của phát triển dân tộc, mà lịch sử éo le đã buộc phải bỏ dở dang. Vậy thì chính lớp trẻ hôm nay phải tiếp tục...
  • Không yêu lịch sử dân tộc là con người không có tâm hồn

    13/02/2014Hà Văn ThùyĐó là cách làm tàn hại nhất với con người. Con người, với tư cách một tiểu vũ trụ duy nhất, trước hết phải được nuôi dạy thành CON NGƯỜI chứ không phải thành những công cụ cho bất cứ mục địch kiếm lợi nào. Cố nhiên, con người phải kiếm sống, nhưng anh ta phải được kiếm sống với tư cách CON NGƯỜI. Vì vậy, ngoài phần xác cùng kỹ năng kiếm tiền, anh ta phải được đào tạo để có một tâm hồn cao thượng, một vốn tri thức phong phú về văn, về nhạc, về họa… những thứ không trực tiếp làm ra tiền nhưng giúp anh ta sống như con người có nhân cách!
  • Bản chất của lịch sử là "nhạy cảm" (Bài 1)

    27/09/2011Kiều Trinh (thực hiện)Kênh
    chính để truyền bá lịch sử là việc giảng dạy ở bậc phổ thông đang bế
    tắc. Liệu điều này có bắt nguồn từ việc lịch sử không được nhìn nhận
    đúng bản chất? Vị khách mời của chuyên mục - Tổng thư ký Hội Khoa học
    lịch sử Dương Trung Quốc, đưa ra những góc nhìn, quan điểm của ông xung
    quanh vấn đề này.
  • Người thấy vô số “lịch sử” từ một con đường…

    07/12/2010Hoa ChanhTriển lãm Nghìn năm một đường phố đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền, HN, mở cửa đến 10/12). Các tư liệu, hình ảnh, bản đồ được lấy từ cuốn sách của GS Đặng Phong (1937- 2010) - chuyên gia về lịch sử kinh tế - khiến dư luận bất ngờ và thán phục. Triển lãm được khai mạc đúng 100 ngày mất của ông. Ông định ngày ra mắt sách và triển lãm là 10/9, nhưng ông đã không chờ được đến ngày đó...
  • Tư duy kinh tế thời bao cấp và phá rào, “những bài học lịch sử từ những mũi đột phá”

    31/03/2010Đặng PhongSau Tư duy kinh tế Việt Nam – Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989, xuất bản năm 2008, tái bản năm 2009 với nhiều bổ sung và tên mới Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 – Nhật ký thời bao cấp (Nxb Tri Thức, 476 trang), sử gia kinh tế Đặng Phong đã cho ra tiếp theo ‘Phá rào’ trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới (Nxb Tri Thức 2009, 534 trang).
  • xem toàn bộ