Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 44.299.511
Số người trực tuyến: 360
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Chế độ xã hội với trí thức

Nguyễn Ngọc Lanh   
02:11' PM - Thứ sáu, 03/07/2009

Mỗi chế độ xã hội đều có tầng lớp lao động trí óc của mình với tiêu chuẩn và tên gọi riêng. Nói một cách danh chính và chặt chẽ, trí thức đúng nghĩa chỉ xuất hiện trong những xã hội đã có dân chủ, tự do; nhất là tự do báo chí. Cách mạng tư sản Pháp thành công năm 1789, nhưng hơn một thế kỷ sau mới ra đời từ trí thức; chính là vì phải đợi cho tự do, dân chủ phát triển đạt yêu cầu. Nhưng ở thế kỷ XX, nhiều nước châu Á tuy rất nặng căn phong kiến mà chỉ cần vài thập niên đã có đủ dân chủ, tự do để trí thức “đúng nghĩa” xuất hiện. Thế kỷ XXI hẳn phải nhanh hơn nữa.

Để cho tiện, bài này xin được gọi một cách quy ước người chuyên lao động trí óc ở mọi chế độ xã hội đều là “trí thức” - cho tới khi cần làm rõ nội hàm của từ này.

Văn minh nào - chế độ ấy. Chế độ nào - trí thức ấy

Mỗi nền văn minh chỉ chấp nhận chế độ phù hợp với nó. Mỗi chế độ chỉ sinh ra tầng lớp trí thức đặc trưng của mình. Như vậy, trí thức trong một xã hội phản ánh bộ mặt của nền văn minh mà trên đó chế độ xã hội đang tồn tại. Trí thức của chế độ phong kiến dựa trên nền văn minh nông nghiệp không thể mang những phẩm cách của trí thức ở chế độ tư bản với nền văn minh công nghiệp. Nếu dựa vào trình độ văn minh, đến nay nhân loại đã trải qua 4 thời kỳ, khời đầu đương nhiên là thời kỳ “chưa văn minh”, được gọi đúng tên là mông muội, hoang dã...

  • Thời kỳ mông muội trải nhiều triệu năm. Thích hợp với nó là chế độ cộng sản nguyên thuỷ, trong đó con người sống theo nhóm, chật vật tìm kiếm thức ăn có sẵn trong thiên nhiên: thu hái, săn bắt và… cướp bóc nhau.
  • Khi chuyển từ hái lượm, săn bắt sang trồng trọt, chăn nuôi: Nền văn minh nông nghiệp ra đời. Thích hợp với nó là chế độ chiếm hữu nô lệ và sau đó là chế độ phong kiến.
  • Tiến lên nền văn minh công nghiệp là bước ngoặt lớn để chế độ tư bản xuất hiện. Con người bắt đầu có các quyền dân chủ, tự do, tạo điều kiện để tầng lớp trí thức đích thực - hay “đúng nghĩa” - được sinh ra.
  • Nay, người ta nói nhiều về nền văn minh hậu công nghiệp (văn minh tin học hoặc trí tuệ); nhưng câu hỏi chế độ xã hội nào thích hợp với nó vẫn chưa có đáp số được đồng thuận cao - nhất là sau biến cố “tự sụp đổ” của cái mô hình danh nghĩa là XHCN, vì chế độ giả danh này ra đời vội vã từ những nước chưa thật sự thoát khỏi nền văn minh nông nghiệp. Vẫn cần ngẫm nghĩ lời Karl Marx dạy: Cách mạng vô sản chỉ thành công đồng loạt ở những nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển hết mức.

Từ 50 năm trước, nghị quyết đại hội III đã nêu rõ: Nước ta quyết “bỏ qua” chế độ tư bản đầy bế tắc, rủi ro. Tuy vậy, đến nay chúng ta vẫn đang tìm tòi trên lý thuyết một mô hình chế độ mới, đương nhiên phải cao hơn chế độ tư bản. Nhưng để thực hiện chế độ ưu việt này, đất nước ta cần có một nền văn minh phù hợp. Hẳn đó là nền văn minh tin học?

Thời kỳ mông muội: Chế độ thích hợp là cộng sản nguyên thuỷ

Đó là xã hội của những con người vừa tách khỏi cuộc sống con vật nhờ sở hữu hai bàn tay và khối óc. Đám con cháu trực hệ từ hai vị thuỷ tổ - Adam và Eva – này vẫn còn phải tiến hoá về sinh học, do vậy không có gì lạ nếu nói xã hội nguyên thuỷ về mức độ thô sơ có thể so sánh với xã hội loài vật, ví dụ: ong, kiến, mối. Sự quần tụ của các cá thể mang nặng tính bản năng. Ý thức về cá nhân, về tư hữu chưa thể có, hoặc hết sức mờ nhạt - chẳng khác thân phận con ong, cái kiến trong xã hội của chúng.

Thời kỳ mông muội kéo dài tưởng như vô tận mà nguyên nhân là sự tích luỹ tri thức quá chậm chạp. Nếu căn cứ vào tuổi hoá thạch của những bộ hài cốt tìm được thì thời kỳ này cách đây đã 4, hoặc 7 triệu năm. Trong khi đó nền văn minh cổ nhất xuất hiện cách đây mới chỉ 10 hay 15 ngàn năm; đủ thấy thời kỳ mông muội dài biết chừng nào. Riêng giai đoạn chưa biết sử dụng lửa (“ăn sống, nuốt tươi”) cũng dài tới mấy triệu năm. Gọi là “tối tăm, mông muội” quả không sai.

Cuộc sống cực nhọc và cướp bóc lẫn nhau khiến tỷ lệ sinh khó mà trội hơn tỷ lệ chết khiến số cá thể tăng rất chậm. Những bộ lạc còn sót lại tới gần đây có khi chỉ gồm vài chục cá thể, hãn hữu mới đạt một-vài trăm. Sang thế kỷ XXI mà bộ lạc người Rục ở nước ta vẫn đứng trước nguy cơ tự diệt vong nếu không được cộng đồng lớn ứng cứu.

Tên gọi cộng sản nguyên thuỷ là phù hợp. Chính vì “nguyên thuỷ” mà phải “cộng sản”. Đây là xã hội còn quá nghèo nàn về tri thức, kinh nghiệm, công cụ, của cải, vật dụng… buộc phải công hữu hoá mọi thứ. Tóm lại, không “cộng sản” không xong. Một chuyện cổ tích (hay tiếu lâm) có chi tiết tương tự: Hai vợ chồng quá nghèo chỉ có một cái quần dài, do vậy đành công hữu hoá để ai có việc phải ra khỏi nhà thì có quyền sử dụng.

Vài đặc trưng dưới đây cho ta chút khái niệm về “cộng sản”, “nguyên thuỷ” và “trí thức” thời đó.

- Mọi người sống thân ái: Tất nhiên, vì họ là những người cận huyết chung sống quần hôn nhiều thế hệ trong một cộng đồng nhỏ. Gọi là bộ lạc hay bộ tộc đều được. Sự thân ái chỉ có trong nội tộc, mà không hẳn phải có giữa các tộc; vì một nguồn sống quan trọng là cướp bóc lẫn nhau. Truyện Robinson có nói các bộ lạc da đỏ cướp người của nhau để… ăn thịt, coi như đi săn thú.

- Đó là một xã hôi thật sự bình đẳng. Người đứng đầu bộ lạc cũng có nghĩa vụ và cũng hưởng thụ như mọi thành viên khác. Nguyên nhân không phải do được ai “giác ngộ” cho, mà duy nhất là do làm không đủ ăn, không có của thừa, khiến không ai có cơ hội chiếm đoạt hoặc được chia phần ưu đãi. Nói thật, xã hội này làm quái gì có các quyền ngôn luận, báo chí, lập hội, ứng cử… để mà tranh giành nhau.

- Đây cũng là một xã hội “làm theo năng lực” - tức là làm cật lực, chết thôi. Buộc phải thế vì nếu không thì đói ngay, kể cả chết đói – mà chẳng vì “lý tưởng cao đẹp” gì hết. Khi săn thú dữ bằng những phương tiện quá thô sơ, nếu mọi người không dựa vào nhau và không dốc hết sức sẽ về tay không mà còn có thể mất mạng.

- Ai cũng “hưởng theo nhu cầu”, kể cả trẻ em và người già, nhưng với điều kiện: 1) nhu cầu phải cực thấp (chỉ cần no); 2) cộng đồng phải kiếm đủ thức ăn. Thực tế, khi bộ lạc lâm vào nạn đói, hai đối tượng “vô dụng” nói trên bị hi sinh đầu tiên. Ta có thể liên hệ hiện tượng khi mùa đông đến (hiếm hoa, thiếu mật) vô số ong đực, ong già bị giết, hoặc bị chết vì không được vào tổ…

- Đó cũng là xã hội mà tư liệu sản xuất “thuộc sở hữu toàn dân”. Đương nhiên thế, vì con người chưa phát triển tới trình độ có ý thức về tư hữu (con ong, cái kiến cũng vậy); và buộc phải thế, vì công cụ quá thiếu thốn; đồng thời nhiều khi phải sử dụng tập thể mới hiệu quả. Một tấm lưới bắt cá phải nhiều người mới sử dụng được. Rất lâu về sau công cụ cá nhân mới phong phú – nhưng đó là lúc xã hội này đang chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, tiến bộ hơn hẳn.

- Gia đình chưa xuất hiện, vì nam, nữ, già, trẻ đều được “công hữu hoá” tất, và sống quần hôn không cần phân biệt thế hệ.

Nói thêm không thừa về công hữu hoá khi xã hội đã vượt qua thời kỳ mông muội. Ở một nước láng giềng với ta, có thời gian các nhà cách mạng cực tả đã triệt để “xoá bỏ tư hữu”, biến tư liệu sản xuất và đất đai thành “sở hữu toàn dân” với ý đồ thánh thiện là sớm đưa nhân dân lên… thiên đường. Lập tức, cả nước “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên… chế độ cộng sản nguyên thuỷ. “Nhân dân” thành con sâu, cái kiến.

- Săn bắt và hái lượm là phương thức kiếm ăn chủ yếu. Của trời không ê hề để mọi người có thể làm giả ăn thật. Xã hội phải bỏ ra 90% thời gian ban ngày và 90% sức lực để lo miếng ăn.

- Con người chưa thể có ý thức về cá nhân và quyền lợi cá nhân. Nguyên tắc “hi sinh cá nhân cho tập thể” được thi hành triệt để. Không phải do được giáo dục mà do sự cạnh tranh sinh tồn rất khốc liệt, con người buộc phải hành động y như ong, kiến để cộng đồng có cơ hội sống sót. Vậy mà số bộ lạc bị diệt vong vẫn rất lớn, dân số tăng rất chậm. Có bộ lạc thực hiện nguyên tắc trên bằng cách… vứt bỏ vào rừng sâu những người ốm yếu, già cả (để họ hi sinh cao cả vì lợi ích tập thể). Nhưng khi xã hội phát triển cao, cũng là lúc các mối đe doạ giảm đi, ý thức cá nhân có điều kiện nảy nở, khiến con người trở nên “người” hơn. Tuy nhiên, nếu một khi cộng đồng lại lâm vào nguy cơ diệt vong thì nguyên tắc trên lại được áp dụng - cho tới khi thanh toán được mối đe doạ. Như vậy, cái nguyên tắc này giúp cho xã hội cơ may sống sót trước một nguy biến, nhưng cản trở sự tiến hoá xã hội.

- Xã hội nguyên thuỷ chưa thể có giai cấp, vì sự phân công còn quá sơ sài, ai cũng phải có năng lực “toàn diện”. Ai cũng biết đi câu, trèo cây, đuổi thú... Tiến hoá xã hội thời đó không do đấu tranh giai cấp, mà do tích luỹ kinh nghiệm và hiểu biết (tri thức). Tốc độ phát triển tuy rất chậm chạp, nhưng sẽ tới lúc giai cấp phải xuất hiện để loài người thoát khỏi thời kỳ mông muội.

“Trí thức” dưới chế độ cộng sản nguyên thuỷ

Xã hội nguyên thuỷ tối tăm và hoang dã nhưng vẫn có lớp người ít nhiều mang dáng dấp trí thức, tuy họ vẫn phải vất vả tham gia lao động chân tay. Đó là những người nhờ từng trải cộng với năng lực tư duy vượt trội nên tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, nhiều hiểu biết, do vậy được cộng đồng tín nhiệm mà tuân theo những chỉ dẫn. Ví dụ, “già làng, già bản” của xã hội Việt Nam xa xưa. Họ là quyển “bách khoa toàn thư” của cộng đồng với số trang ít ỏi đến thảm hại. Ấy vậy mà vị “trí thức” này, ngoài cách truyền khẩu, không còn cách nào khác chuyển giao hiểu biết của mình cho đời sau. Sự rơi vãi sẽ rất lớn vì trí nhớ cả người nói lẫn người nghe đều hữu hạn. Ví dụ, một bộ lạc đã tồn tại 100 năm, qua 4-5 đời “già bản”, thì kho kiến thức của vị đầu tiên với vị cuối cùng không khác nhau bao nhiêu. Rơi rụng kiến thức là một nguyên nhân hàng đầu khiến xã hội tiến lên rất chậm. Đủ hiểu ý nghĩa vĩ đại của sự sáng tạo chữ viết – phương tiện thay tiếng nói ghi lại lâu dài các kiến thức.

Đáng chú ý, khi đưa một số trẻ em từ một bộ lạc (còn sót lại tới ngày nay) vào môi trường giáo dục hiện đại, chúng tiếp thu khoa học và phát triển tư duy không kém chúng ta. Từ đây, có thể thấy vai trò “đi tắt, đón đầu” của giáo dục đối với những nước lạc hậu, nhưng mấy ai biết rằng triết lý tiên tiến trong giáo dục mới là cái quyết định nhất để hiện thực hoá “đi tắt, đón đầu”.

Cạnh “già bản” bao giờ cũng có “thầy mo” (hay nhân vật tương tự) với chức năng đáp ứng nhu cầu tinh thần. Cụ thể, ông ta làm trung gian giao tiếp giữa người và các thế lực siêu nhiên, mà công việc là dùng lễ vật và nghi thức để cầu phúc và tránh họa. Vị thế trung gian buộc ông phải mạo nhận là “phiên dịch hai chiều” giúp thần linh hiểu được lời cầu xin và giúp người trần hiểu được lời phán bảo. Tuy nhiên, có thể nói, khi con vật bắt đầu có niềm tin thì nó thành… con người, và đòi hỏi thoả mãn niềm tin. Vậy, xã hội cần ông. Khỏi cần nói, niềm tin thuở sơ khai mang nặng tính mê tín.

Văn minh nông nghiệp: Mảnh đất của chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến

Chế độ chiếm hữu nô lệ

Thời nay, quá dễ để lên án sự tàn bạo của chế độ này (nhất là khi cần thể hiện lập trường cách mạng) vì không chủ nô nào còn sống để cãi lại. Dẫu sao, chế độ này là tất yếu. Tất yếu ra đời vì có nhiệm vụ lịch sử; tất yếu tiêu vong vì hết vai trò. Tất yếu, vì nó hơn hẳn xã hội nguyên thuỷ về mọi mặt; ví dụ, dưới chế độ này con người không ăn thịt đồng loại nữa.

Đây là xã hội đã có “của ăn, của để” nhờ vậy tách ra được một lớp người không cần lao động chân tay - mà đời sau coi là “bọn ăn bám”, hưởng lạc, một số còn xa xỉ. Tiếng Việt ta rất đắc dụng với vô số từ ngữ biểu cảm (khá dễ gặp trên báo chí nước nhà) để gọi họ là “chúng”, là “bọn”, là “lũ”, “đồ”… cho thoả lòng căm tức. Bị kết tội gay gắt nhất là “lũ” chủ nô và “bọn” tu sĩ, do vậy dưới đây sẽ có vài lời về “chúng”.

Những nghiên cứu về chế độ nô lệ cho thấy “lũ ăn bám” nói trên chính là tầng lớp chuyên lao động trí óc, có công sáng tạo ra các ngành khoa học (tự nhiên và xã hội), nghệ thuật, văn học, triết, tôn giáo... và tạo dựng nên các nền văn minh cổ đại, rực rỡ một thời. Aristote (triết học), Pythagore (toán học), Hippocrate (y học)… là những “kẻ” có tên trong “bọn” nói trên.

Nói: Những kim tự tháp đồ sộ ở Ai Cập do công sức của hàng triệu nô lệ xây nên. Rất đúng, kể cả về lập trường. Nhưng nói: Nếu không có người tính toán, thiết kế, lập kế hoạch, chỉ huy, giám sát… thì dẫu có tăng số nô lệ lên gấp đôi cũng không xây nổi nửa cái như thế. Cũng lại đúng.

- Dẫu sao, trí thức thời nô lệ chưa tách khỏi nhóm quyền lực mà hoà trộn “như một”. Họ có mọi quyền lợi như nhóm thống trị.

- Dưới chế độ phong kiến: Hai bên vẫn gắn kết vì quyền lợi chung, nhưng đã có những tách bạch, ngày càng rõ. Ví dụ, có xếp loại đưa trí thức (quan lại) vào tầng trung lưu, còn giới thống trị là thượng lưu. Khi chế độ phong kiến suy tàn, lòng trung thành của trí thức suy giảm. Một bộ phận ngày càng lớn đã chống lại triều đình bằng tư tưởng, ngôn luận (ở châu Âu) hoặc bằng bạo lực (ở châu Á).

- Dưới chế độ tư bản; “Trí thức là trí thức, quyền lực là quyền lực”.

Chủ nô. Cách hiểu thiên lệch về giới chủ nô đưa đến kết luận chắc nịch rằng “chúng” phải bị tiêu diệt càng sớm càng tốt, mà quên rằng đây là những nhà quản lý thích hợp với xã hội. Nay, chúng ta hiểu rằng xã hội chiếm hữu nô lệ là đoạn đường loài người phải trải. Xin chớ nói chuyện vô duyên: “bỏ qua” chế độ này để “tiến thẳng” lên chế độ phong kiến. Dưới chế độ này, dù lao động bị cưỡng bức bằng roi vọt, nhưng cuộc sống vật chất, tinh thần, tuổi thọ, tỷ lệ sinh… của họ vẫn khác xa con người ở xã hội nguyên thuỷ.

Không ai khác, chính là chủ nô đã “đào óc” tìm ra cách quản lý sao cho phù hợp và hiệu quả với hoàn cảnh xã hội thời đó. Đó là cách lao động tập thể, bị giám sát ngặt ngèo và bị thúc ép thô bạo. Nói vắn tắt, đó là kiểu lao động “xô bồ và cưỡng bức”. Cách này còn được duy trì, nếu năng suất xã hội còn tăng. Nếu (giả sử) có một vị thánh “nứt trời rơi xuống”, ban cho quần chúng “quyền làm chủ tập thể” thì xã hội này trước sau sẽ quay về xã hội nguyên thuỷ, rất gần xã hội loài vật. Lý giải không khó. Chịu nghe lời lý giải mới khó.

Khi cách lao động “xô bồ và cưỡng bức” không còn hiệu quả nữa (kể cả đã sử dụng cực hình), giới chủ nô buộc phải “vắt óc” để sáng tạo ra cách quản lý mới. Cụ thể, đó là cách “khoán sản phẩm đến từng hộ nô lệ”. Chính là nhờ cách này mà chủ nô chuyển hoá thành vua quan (sở hữu đất đai cả nước), nô lệ thành nông dân tá điền (chỉ được trao “quyền sử dụng đất”, tất nhiên có nghĩa vụ nộp tô thuế cho chủ. Và đất có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào). Tóm lại, không cần đổ máu, chế độ chiếm hữu nô lệ “diễn biến hoà bình” thành chế độ phong kiến. Cách đây nhiều ngàn năm, quần chúng nô lệ cũng chỉ dám mong ước đến thế là cùng. Không ai trong số họ hình dung nổi sau này con người lại có cả quyền tư hữu đất đai, để “con người ra con người”.

Tu sĩ. Cách hiểu tai hại của hậu thế coi tôn giáo chỉ toàn là tiêu cực, khiến tu sĩ thành “bọn áp bức tinh thần” - đứng bên cạnh chủ nô (bị coi là “bọn áp bức thể chất”). Quả thật là không thiếu ví dụ tiêu cực do tôn giáo gây ra, nhất là khi nó cấu kết mờ ám với chính quyền (như ở thời Trung Cổ), nhưng nói tôn giáo “toàn là tiêu cực” (với ý đồ “xoá bỏ” nó) là một thiện ý rất tai ác.

Niềm tin, và nhu cầu thoả mãn niềm tin, là một đặc trưng rất “người”. Do vậy tôn giáo tất yếu phải sinh ra. Xã hội chiếm hữu nô lệ phải có tu sĩ thay cho “thầy cúng”. Từ niềm tin mê tín chuyển sang niềm tin tôn giáo là bước chuyển biến rất vĩ đại trong đầu óc con người. Sự xuất hiện tôn giáo - điều không thể có ở loài vật, thậm chí cả ở người nguyên thuỷ - là bước tiến lớn.

Đã là tôn giáo, ắt phải có lý thuyết (tức giáo lý), phải dễ hiểu đối với tín đồ. Chính nhờ vậy niềm tin bắt đầu có cơ sở, có lý lẽ, khác hẳn với niềm tin do mê tín - thuần tuý do sợ hãi. Tôn giáo nào cũng đòi hỏi mọi người sống hướng thiện. Điều này rất cần khi pháp luật thời nô lệ còn sơ sài và chưa vươn đủ tới mọi ngõ ngách. Tồn tại đã hàng ngàn năm, tôn giáo nào cũng bổ sung và hoàn thiện giáo lý, nghi lễ, cho phù hợp với cuộc sống. Tôn giáo mở rộng, mê tín sẽ thu hẹp và tìm cách lẩn khuất vào tôn giáo – mà các vị chân tu rất muốn loại trừ.

Có thể, tôn giáo có con đường tiêu vong riêng, nhưng chưa phải lúc nếu số lượng tín đồ còn được tính bằng triệu và tỷ. Ý đồ tiêu diệt một tôn giáo, dù dưới chiêu bài nào, thực chất đều đưa đến kết quả một tôn giáo khác được áp đặt.

Trí thức dưới chế độ phong kiến

Chế độ phong kiến phù hợp với giai đoạn phát triển cao của nền văn minh nông nghiệp - tức là nó đã hàm chứa cái mầm của nền văn minh công nghiệp mà biểu hiện là giai cấp tư sản đang hình thành. Nhìn bằng con mắt hôm nay, chế độ phong kiến không thiếu tội. Nhưng nếu (giả sử thôi nhé) có một đấng cứu thế muốn thật lòng ban phát cho dân một chế độ “cao hơn phong kiến” thì… chỉ sau vài hồi loanh quanh thực thi ân lệnh, “chế độ mới” vẫn cứ hiện hình với một triều đình độc đoán được nguỵ trang bằng cái áo vì dân. Dân vẫn bị áp đặt một tôn giáo mới thay cho đạo Khổng. Và trí thức vẫn chỉ có con đường làm quan. Các cụ đã nói cấm có sai: Mọc lên vội vàng từ nền văn minh nông nghiệp chỉ có thể là chế độ mang những đặc trưng phong kiến.

Có những cái chung và riêng giữa trí thức Đông và Tây dưới chế độ phong kiến.

Cái chung. Cùng có cơ sở là nền văn minh nông nghiệp, do vậy thân phận và cách hành xử của trí thức dưới chế độ phong kiến cũng tương tự như dưới chế độ nô lệ. Nghĩa là, họ được trọng dụng và trọng đãi trong thời kỳ hưng thịnh của chế độ. Do vậy, hầu hết trí thức (sĩ phu) tiến thân bằng con đường làm quan. Đổi lại, họ dốc sức phục vụ, xây dựng và phát triển chế độ.

Bên trời Tây, do giai cấp tư sản đã có mặt, khoa học phát triển và thành nhu cầu xã hội; nên trí thức còn có thể “làm quan” trong các viện nghiên cứu, trường đại học. Hoàng gia các nước Anh, Đức, Nga, Thuỵ Điển… thành lập nhiều Viện khoa học, Viện hàn lâm... Ngoài hoạt động trong khu vực hành chính, trí thức còn là những ông quan phục vụ chế độ bằng hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật, triết lý. Các hoạt động này làm đẹp mặt chế độ, nhưng cũng là một động lực đẩy chế độ phong kiến chuyển sang chế độ tư bản. Sẽ tới lúc tư tưởng cấp tiến của trí thức làm triều đình lo ngại; còn thành quả nghiên cứu của họ khiến tôn giáo bất an vì có thể trái giáo lý. (Dễ cắt nghĩa, vì sao ở phương Đông chưa thể đạt tới trình độ này). Nhà thờ đã kết hợp với triều đình hạn chế tự do tư tưởng, cấm đoán công bố kết quả nghiên cứu khiến giới trí thức chịu đau khổ và bực mình nhất. Sự phản ứng mạnh mẽ của trí thức được giai cấp tư sản hậu thuẫn đã kết thúc thời Trung Cổ, chuyển sang thời Khai Sáng, tạo tiền đề cho các cuộc cách mạng tư sản.

Cái riêng. Ở phương Tây, chế độ phong kiến đã phát triển hết mức, nghĩa là giai cấp tư sản đã hình thành và có công lớn chuyển chế độ phong kiến từ phân quyền sang tập quyền. Giai cấp phong kiến đương quyền, dù ghét, vẫn không thể “bóp nghẹt” giai cấp tư sản (như ở phương Đông).

Còn với phương Đông, cụ Phan Khôi từng viết (ý): “An Nam ta chưa có chế độ phong kiến” với cách hiểu là chế độ này chưa phát triển đủ mức thì thực dân Pháp đã nhảy bổ vào đô hộ nước ta. Hành xử của trí thức Việt Nam trong hoàn cảnh “thuộc địa, nửa phong kiến” này có những đặc trưng riêng, sẽ được đề cập trong một bài khác. Còn họ hành xử thế nào dưới chế độ phong kiến nói chung, xin xem ở một bài, nhan đề Hành xử của trí thức dưới chế độ cũ.

Bởi vậy, khi nói về trí thức phong kiến, phải phân biệt giữa phương Đông và phương Tây.

Cái gốc khác biệt là:

- Một bên, trí thức vẫn còn răm rắp suy nghĩ và hành động theo chuẩn mực vua ban (đạo Khổng), mà chưa có chút khái niệm gì về dân chủ, tự do, Lời thề của quan lại dưới thời Lý (ghi trong Đại Việt Sử Ký): “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung xin quỷ thần bắt tội”. Cũng từ thời Lý, nước ta có Văn Miếu thờ Khổng Tử cho tới khi nhà Nguyễn mất ngôi. Phẩm chất cao nhất của trí thức phương Đông là liêm khiết, bênh dân, dám can vua và dám từ quan. Chu Văn An là tiêu biểu.

- Còn bên kia thì không như thế, và không chỉ có thế, vì trí thức đã sớm biết Voltaire, Montesquieu hay Rousseau nói gì, và sẽ tới lúc họ cảm nhận được tương lai thuộc về giai cấp tư sản...

Khi chế độ phong kiến Phương Tây suy tàn (sớm hơn phương Đông vài-ba thế kỷ), trí thức dùng kết quả nghiên cứu và lý luận chống lại ý thức hệ chính thống, đòi tự do. Còn ở nước ta, phải tới đời Minh Mạng, Tự Đức, mới lẻ tẻ có một số sĩ phu chống lại triều đình, nhưng chưa có giai cấp tư sản đủ lớn hỗ trợ; do vậy, họ chỉ có thể lãnh đạo nông dân “làm giặc”. Nhưng mục tiêu hai bên không như nhau: nông dân chưa có nhu cầu đòi tự do, mà chỉ đòi cơm áo; còn trí thức thì ngược lại. Trống xuôi, kèn ngược, tất yếu thất bại.

Trí thức dưới chế độ tư bản

Bài Suy nghĩ về khái niệm trí thức cho thấy danh từ trí thức xuất hiện ở nước Pháp vào đầu thế kỷ XX, chỉ 20 hay 30 năm sau đã nhảy vào từ điển và được toàn thế giới sử dụng. Trước đó, có nhiều từ ngữ khác nhau để chỉ những người có học vấn cao - mà bài này gọi một cách quy ước là “trí thức”. Nay tới lúc cần làm rõ khái niệm và nội hàm.

Intellectuel (Pháp) hay intellectual (Anh) vốn là một tính từ, còn danh từ gốc của nó là intellect (trí tuệ, trí thông minh). Nhưng một văn bản công bố năm 1906 - do nhà văn Zola ký tên đầu - lại được thủ tướng Pháp Clemenceau (tiến sĩ, nhà báo) gọi là Tuyên ngôn của Trí thức (Manifeste Des Intellectuels). Cách gọi này đã biến một tính từ thành một danh từ mới, chưa có nội hàm xác định, càng chưa thể có trong các đại từ điển thời đó như Larousse 1866-1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1885-1902.

Có người nói, cụ Đào Duy Anh đã dịch Intellectuel sang tiếng Việt là “trí thức”, còn người sử dụng từ này đầu tiên trong một bài viết là cụ Phạm Quỳnh. Tuy cần xác minh thêm, nhưng rốt cuộc chúng ta có một từ hoàn toàn mới với nội hàm không trùng khớp với các từ đã có, như: sĩ phu, nho sĩ, hiền tài, học giả, trí giả, bác học…

Quả là trí thức là sản phẩm của nền văn minh công nghiệp mà các nền văn minh trước đó không thể có.

Vụ Dreyfus (Dreyfus Affair): hoàn cảnh ra đời của từ trí thức

Bà quét dọn (người Pháp) làm lao công ở sứ quán Đức được lệnh không đốt giấy tờ ở sọt rác mà phải giấu kỹ, nộp cho cơ quan phản gián (nguỵ trang dân sự). Người ta thu được một bản viết tay gạ bán bí mật quân sự. Phong trào điên cuồng bài Do Thái, cộng thêm nguy cơ chiến tranh với Đức đã hiển hiện khiến đại uý Dreyfus (gốc Do Thái) bị nghi là thủ phạm. Trong 5 chuyên gia giám định chữ viết, có 3 người coi đó chính là chữ của Dreyfus cố ý viết khác đi. Thế là đủ để ông bị bắt khẩn cấp! Báo chí “yêu nước” (bài Do Thái, chống Đức và tôn vinh tuyệt đối quân đội) hùa nhau kết tội, nổi bật nhất là lập luận: “Hễ đã bị quân đội bắt giam, ắt là có tội”. Hai phiên xử kín: kết án chung thân, đày biệt xứ. Nhưng có một bộ phận dân chúng và báo chí nghi ngờ vụ án (xử kín, thiếu chứng lý, bị cáo dứt khoát không nhận tội, gia đình bị cáo phản đối quyết liệt). Người ta tiến hành điều tra riêng, sau một-vài năm, nghi vấn đổ lên đầu viên sĩ quan Esterházy, gốc Hung, cùng đơn vị với Dreyfus. Toà án quân sự buộc phải xử, nhưng cả hai phiên toà vẫn “nhất trí” để Esterházy trắng án - kể cả khi cô nhân ngãi bị bỏ rơi của ông này công bố lá thư tình có nét chữ y hệt cái bản “gạ bán bí mật quân sự” kia. Vấn đề là một nhóm quyền lực rất mạnh không muốn sửa lại những quyết định bất nhân, bất công của họ. Khi biết chuyện, nhà văn Zola đã dẫn đầu những người công minh chính trực, đầy uy tín, “vào cuộc” với quyết tâm không lay chuyển. Nhưng đó cũng là lúc Dreyfus đã bị đưa sang Guyane, biệt tăm mấy năm trời; vụ án tưởng đã an bài, ngoài gia đình, mọi người đã quên ông. Không những Zola chống lại một thế lực rất mạnh trong hệ quyền lực, mà còn chủ ý tự vi phạm cả những định chế pháp luật mà quốc hội đã thông qua (vì nó đi ngược thời đại). Nghĩa là ông chủ định làm bị can trước toà để có cơ hội tố cáo. Ông hoàn toàn ý thức việc mình cố ý “vi phạm luật” vì nhiều mục đích: 1) phản đối để xoá bỏ độc quyền xử kín của toà án quân sự; 2) toà án là nơi để ông nhắc lại vụ Dreyfus, khỏi bị quên lãng; 3) lên án đám báo chí hùa theo dư luận sai trái (bài Do Thái) hoặc bị quyền lực giật dây… Nhờ ông, cuộc tranh luận bùng phát lại trên báo chí, kéo dài mấy năm, chia nước Pháp thành hai phe: phe đòi “xét lại” vụ án và phe “chống xét lại” nó. Cả hai phe đều phải dùng từ trí thức trong tranh luận, nhưng một bên tôn vinh, trọng thị, còn một bên dè bỉu, mỉa mai. Điều thú vị là sự trái ngược này khiến người ta phải định nghĩa trí thức.

Zola đã hai lần bị toà án kết 2 tội: vu cáo và vi phạm pháp luật. Ông bị phạt tiền, phạt tù một năm (phải trốn sang Anh). Nhờ án phạt (rất đúng luật, nhưng rất trái lương tri và đạo đức), sự phán đối bùng lên càng dữ dội. Zola không khuất phục. Cuối cùng, ông mất (nghi bị ám sát) mà không nhìn thấy ngày chính nghĩa toàn thắng. Hiện thi hài ông nằm trong điện Panthéon, nơi chôn cất các danh nhân nước Pháp. Bài báo phản đối của ông được đánh giá “hay nhất thời đại”, tiêu biểu cho báo chí chính trực.

Phẩm cách trí thức

Từ trí thức được sử dụng theo thói quen để chỉ những người (ở bất cứ chế độ nào): 1) có học vấn cao; và 2) sử dụng học vấn để hành nghề. “Học vấn cao” cũng được hiểu một cách rất quy ước: Thời kháng chiến chống Pháp, tú tài đã là trí thức; gần đây, là cao đẳng hoặc cử nhân. Đó cũng là nội dung của những định nghĩa phổ cập, thấy trong sách giáo khoa và cả trong từ điển. Nếu như vậy, nền văn minh nào cũng có trí thức.

Thật khó phản đối ngôn ngữ tuỳ tiện của đa số, đến nỗi từ điển cũng đành phải theo đấy mà đưa vào nội dung của định nghĩa. Ví dụ, “bao tử” không phải là tử cung hay dạ con, mà là dạ dày. Dẫu sao, nó cũng chưa gây ra rắc rối nào đáng kể (mà còn thuận tiện), trừ khi cần làm rõ nội hàm để khỏi gây tác hại.

Từ trí thức ra đời trong vụ Dreyfus, khiến người ta phải thêm những phẩm cách mới mà “trí thức” trước đó chưa có (chưa thể có, chưa dám có). Khi nêu phẩm cách trí thức, người ta nhìn vào hình mẫu Zola và nhóm của ông để có cái nhìn cụ thể và đầy đủ hơn. Đó là:

- Phản đối, đòi sửa hoặc huỷ, các quyết định sai trái của quyền lực. Biện pháp là phê phán bằng lập luận thuyết phục và cái tâm trong sáng, khen chê công bằng. Nay gọi là phản biện - chuẩn số 1. Qua hình ảnh Zola, ta thấy trí thức là người can đảm, công minh, chính trực, khiêm nhường; nhưng cũng chính do vậy, trí thức biết lắng nghe để hiểu hết ý kiến người đối thoại, biết chấp nhận lẽ phải và phục thiện.

Cách diễn đạt khác, chung hơn: Kiến tạo các giá trị Chân, Thiện, Mỹ chưa đủ; là trí thức, anh còn phải kiên quyết chống lại sự xâm hại những giá trị đó. Zola là vậy.

- Công khai và minh bạch mục đích để được mọi người phán xét, đồng thời tranh thủ sự đồng tình rộng rãi. Qua đó, trí thức thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, giác ngộ quần chúng, đề cao chính nghĩa. Suy ra, trí thức chỉ xuất hiện khi đã có tự do báo chí; báo chí đã trở thành quyền lực thứ tư, cũng độc lập như 3 quyền kia.

- Liên kết, tập hợp, những người có cùng một mục tiêu cụ thể (ví dụ, đòi xử trắng án cho Dreyfus), mà không nhằm tham vọng cá nhân. Do vậy, sự liên kết không nhằm tạo ra “đội ngũ” mà là sự tập hợp của những người tự do trên cơ sở đồng thuận về vấn đề mà họ đang tranh đấu đòi thực hiện.

* * *

Như vậy, khái niệm “trí thức” - trải qua các nền văn minh khác nhau - có sự kế thừa và phát triển. Nền văn minh trí tuệ đang hình thành nhất định sẽ tạo ra lớp trí thức mới, với những phẩm cách mới. Các đợt sóng của nền văn minh thứ ba - văn minh trí tuệ - với tiếng vỗ của nó đã văng vẳng dội vào nước ta, cộng với một Nghị Quyết vừa ra đời liên quan tới trí thức, liệu chúng ta có thể hi vọng một lớp trí thức mới sẽ xuất hiện thay cho lớp cũ “thích làm quan”? Bài phỏng vấn GS Nguyễn Huệ Chi do báo Sinh Viên Việt Nam thực hiện thật đúng lúc.

Số lượt đọc:  2506  -  Cập nhật lần cuối:  04/07/2009 01:01:57 AM
  Trao đổi/Nhận xétTổng số:  12
Không dễ thực hiện chế độ XHCN, vì chúng ta còn mầy mò
Nguyễn Thành  - Email:  nguyenvanthanh1979@gmail.com   (22/07/2009 06:51:51 PM)
Nhờ sự trả lời của cụ/bác Dân Việt tôi hiểu thêm trước đây chúng ta xoá bỏ thị trường, do vậy trí thức thế hệ cha ông chúng ta chỉ có con đường làm quan (vào biên chế). Hơn nữa, lúc đầu biên chế sẵn sàng thu nhận trí thức, cho đến khi biên chế trở thành chật chội (lao động dôi dư, trong cơ quan thì việc ít, người nhiều cho nên lương rất thấp). Lại nữa, sự thấm nhuần chủ nghĩa khiến trí thức tâm niệm rằng làm cán bộ để hết lòng cống hiến cho sự nghiệp của đảng mới là niềm vinh dự và xứng đáng với học vấn và trình độ chuyên môn cao của mình.

Tuy vậy, sự thực hiện CNXH trên thực tế là chuyện không đơn giản. Các nước đàn anh của VN đã thất bại và sụp đổ. Chúng ta trót làm theo do vậy cũng lâm vào khủng hoảng (gọi là "đêm đen" trước Đổi Mới). Nay, chúng ta đang tìm con đường mà chưa có tiền lệ. Cụ Nguyễn Phú Trọng (chủ tịch Hội Đống Lý Luận) nói rằng: Con đường ngày càng sáng rõ.

Thú thật, học xong đại học nhưng tôi chưa hình dung ra con đường này một cách cụ thể. Ngay ông nội tôi (60 năm tuổi Đảng) cũng vậy. Tôi sẽ lưu tâm tìm hiểu thêm.
Nội dung ở trên là tóm tắt ý kiến ông nội tôi, trí thức cũ, nay 82 tuổi.
C
hungta.com đã đăng nhiều phát biểu của các vị trí thức có tên tuổi của nước nhà; nêu bật ý "phản biện xã hội (với ý thức xây dựng và thẳng thắn) vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của trí thức". Tôi đã đọc cả và download đầy đủ.

Hy vọng Việt Nam ta sẽ có tầng lớp (tôi thấy không nên dùng từ "đội ngũ") trí thức "đúng nghĩa" và ngày càng lớn mạnh.
Phát biểu lần 2
danviet  - Email:  danvietnam1945@yahoo.com   (21/07/2009 09:35:04 AM)
Tôi phát biểu lần 2 theo đề nghị của bạn trẻ HoangHoa (Email: hoanghuuhoa7x@gmail.com) với câu đề nghị "Kính xin các cụ trí thức hồi đó nói thêm cho con cháu hiểu về thời của các cụ trước đây". Vâng, thời ấy tốt nghiệp đại học đã là "trí thức" rồi, huống hồ tôi là phó tiến sĩ.

Giai cấp địa chủ đã bị tiêu diệt sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất "long trời lở đất". Sự tiêu diệt triệt để tới mức Phú Nông cũng bị đôn lên thành địa chủ để "xử lý". Rồi ngay sau đó là công cuộc "cải tạo tư sản" và chỉ sau đó ít năm là toàn miền Bắc không còn tồn tại hai giai cấp bóc lột này nữa. Thị trường tự do cũng bị tuyên bố "xoá bỏ" để khỏi cản trở toàn đảng, toàn dân "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc" lên CNXH - như Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn Đông Âu. Ai được may mắn sang các nước này đều thấy đó là thiên đường so với VN khi đó.

Thử hỏi, trí thức còn con đường nào khác mà không "làm quan"?

Biên chế nhà nước quá đủ chỗ cho bất cứ ai tốt nghiệp sơ cấp, trung cấp; do vậy tốt nghiệp đại học càng dễ dàng được trọng dụng trong biên chế.

Chúng tôi say sưa học chủ nghĩa Mác-Lênin, học ở bậc phổ thông, học kỹ khi lên đại học, học sâu khi chuẩn bị thi phó tiến sĩ và học 2 năm liên tục khi được đề bạt. Càng học càng mê. Nó hứa hẹn một xã hội công bằng, nhân bản, no ấm, hết bóc lột. Và nó vạch ra con đường cụ thể để đi tới đó.

Chúng tôi nguyện trung thành với chủ nghĩa mà mình đã chọn còn hơn cả sĩ phu đối với đạo Khổng. Khi tranh luận, ai dẫn trích một câu của Mác, Lênin thì đối phương phải thận trọng ngay. Ai nói gì có vẻ trái với quan điểm, tôi thật sự bực mình, tức tối.

Làm sao các bạn trẻ hiện nay hiểu được chúng tôi thời đó. Tuỳ các bạn phê phán, nhưng thực tế hồi đó là vậy.
Bài dài, nhưng hay
HoangHoa  - Email:  hoanghuuhoa7x@gmail.com   (19/07/2009 04:15:39 PM)
Người dân ở mỗi chế độ chỉ được phép hành xử trong phạm vi quy định. Khi dân trí còn thấp, kho tàng trí tuệ của xã hội chưa phong phú, thì một chế độ mang nặng tính áp bức là phù hợp. Nếu không, xã hội sẽ "loạn". Dẫu sao, chế độ sau (tiến bộ hơn chế độ trước) cũng cho phép người dân có nhiều quyền hơn và sự giác ngộ về trách nhiệm cũng cao hơn.

Giới trí thức (thành phần tinh hoa của dân) cũng phải chịu như vậy. Trí thức "đúng nghĩa" không thể ra đời quá sớm.
Toàn bộ giới sĩ phu ở chế độ phong kiến tâm niệm rằng "trung với vua là đạo đức cao nhất"; do vậy trái ý vua là tội nặng nhất, còn nói gì đến chuyện "phản biện". Cho đến chế độ tư bản, trí thức bắt đầu có quyền phản biện - tức là có quyền phê phán (khen và chê) các quyết định của giới quyền lực. Và từ đó họ mang danh "trí thức". Họ là tiếng nói để chế độ hoàn thiện.

Điều tôi phân vân là thế hệ cha và ông mình tại sao trước đây chưa lâu lại cứ hành xử như sống dưới chế độ phong kiến, ví dụ chỉ có con đường làm quan (vào biên chế), chỉ có cách hành xử là "ca ngợi" ơn trên, chỉ tuân theo một chủ nghĩa (cấm nói khác)..., trong khi đảng ta đã tiêu diệt chế độ phong kiến, bỏ qua chế độ tư bản để tiến thằng lên CNXH?

Vẫn biết cái tên của nước ta (tuy gọi) là XHCN, nhưng chúng ta còn phải phấn đấu rất lâu mới có nó (bạn dovannguyen gọi là quặng, chưa phải là vàng, nhưng chúng ta cứ "tạm coi"... qụăng là vàng), dẫu sao, trí thức thế hệ cha ông nước ta cũng phải có quyền hành xử ít nhất như ở chế độ tư bản cách đây một thế kỷ chứ? Kính xin các cụ trí thức hồi đó nói thêm cho con cháu hiểu về thời của các cụ trước đây.
Vài ý kiến nhỏ
dovannguyen  - Email:  dovannguyen@gmail.com   (14/07/2009 08:24:24 AM)
1) Nếu độc giả được độc lập phát biểu ý kiến riêng, thì Toà Soạn không nên cắt bỏ ý kiến của bạn Hiên Viên (email: cuclacgiao@yahoo.com) là người nhanh nhảu nhất đã phát biểu đầu tiên (Tôi rất tôn trọng quyền phát biểu của bạn này, trừ khi chính bạn đề nghị Toà Soạn xoá bỏ ý kiến của mình).

2) Mỗi nền văn minh là biểu hiện tổng hợp các thành tựu nỗ lực toàn diện của nhân loại trong cả một thời kỳ hàng ngàn năm. Do vậy, một chế độ chính trị phải phù hợp với tổng thể đó. Tôi đồng ý rằng phát hiện của Mác (hết sức xuất sắc ở thời đại Ông) nay chỉ là một khía cạnh của phát hiện mới (về các nền Văn Minh).

3) Về cơ bản, nước VN chúng ta kể từ 1945 tới nay vẫn chỉ là một xã hội nông nghiệp với tỷ lệ nông dân từ 95% mà sau 70 năm đến nay vẫn là trên 70%. Có lẽ chúng ta gọi Tổ quốc ta là XHCN thì hơi bị sớm. Theo tôi, nước ta vẫn là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà yêu quý và thiêng liêng, như hồi tôi học tiểu học thôi. Chúng ta muốn luyện quặng thành vàng, nhưng chưa ra vàng (vẫn còn là quặng) mà chúng ta đã gọi đó là "vàng" thì có là sớm và có quá mạnh bạo hay không?

4) Khi học về tấm gương của các bậc tiền nhân, tôi cứ tưởng ý chí toàn dân, toàn đảng đã quyết thì sự nghiệp nào mà chả băng băng. Nay thấy rằng phải theo quy luật. Làm sớm quá (đốt cháy giai đoạn), hay làm muộn quá (lỡ cơ hội, gây đau khổ cho dân) đều là sai lầm "chết người".

Xin cảm ơn Chungta.com về nhiều bài giá trị.
Newton & Einstein
danvietnam  - Email:  danvietnam1945@yahoo.com   (12/07/2009 02:50:21 PM)
Mác phát hiện rằng sức sản xuất của xã hội cứ tăng tiến theo thời gian, còn quan hệ sản xuất (thể hiện bằng chế độ xã hôi) giống như cái nôi sẽ tới lúc nó trở nên chật chội với sự lớn mạnh không ngừng của sức sản xuất. Cái nôi sẽ bị vỡ để thay bằng cái nôi khác rộng rãi hơn. Đó là nguyên nhân khiến các chế độ CS nguyên thuỷ, Nô lệ, Phong kiến, Tư bản lần lượt ra đời và thay thế nhau. Mác dự đoán chế độ Tư Bản sẽ được thay bằng chế độ CS Văn Minh.

Một cách tiếp cận khác về sự tiến hoá xã hội là dựa vào trình độ văn minh. Khái niệm "Văn Minh" rộng hơn và bao trùm lên khái niệm "Sức Sản Xuất" của Mác. Văn Minh bào gồm cả "Sức Sản Xuất" và mọi thứ khác mà con người tạo ra được, như Văn Hoá, Khoa Học, Tri Thức...

Tôi nghĩ rằng Mác giống như Newton phát hiện quy luật vật lý cố điển, còn tác giả phát hiện Văn Minh giống như Einstein phát hiện Thuyết Tương Đối, bao trùm lên phát hiện của Einstein.
Cảm ơn
Văn Viết  - Email:  nguyenvanviet1979@gmail.com   (07/07/2009 08:35:30 PM)
Chúng ta có nên mất thì giờ quý báu mà bàn về ý kiến của bác Hiên Viên (email: cuclacgiao@yahoo.com) hay không? Mặc dù bác bức xúc với bài viết đến mức nhanh nhảu mà "nổ súng" sớm nhất?

Riêng tôi, từ nay tôi đã biết sợ cái Chủ nghĩa Cộng Sản nguyên thuỷ. Chớ trước kia, tôi vẫn tưởng đó là cuộc sống tốt đẹp như thời Nghiêu Thuấn bên Trung Quốc mà sách vở đã mô tả. Còn chế độ Cọng Sản Văn Minh mà cụ Mác mô tả thì chúng ta còn phải phấn đấu đến đời chắt, chút, chít. Từ khi có Tuyên Ngôn CS đến nay đã trên 150 năm, tức là đã qua 4 hoặc 5 thế hệ.

Người có học vấn cao (so với mặt bằng dân trí của xãc hội) thì chế độ nào cũng có. Họ có những tên gọi riêng. Nhưng năm 1906 mới ra đời danh từ "trí thức"; hẳn là người trí thức phải có phẩm chất gì khác người có học vấn cao nói chung.

Nhiều vị đã viết bài nói rằng: Đó là dám phản biện (GS Chu Hảo, GS Nguyễn Huệ Chi).

Ông nội tôi bảo: Trước Đổi Mới 1986 thì không có chuyện trí thwcs nước nhà dám phản biện; họ đều là công chức nhà nước (tức là chỉ có con đường làm quan). Sau Đổi Mới, giai cấp tư sản được phục hồi, rồi đảng viên cũng đước kinh doanh không hạn chế... trí thức nước nhà mới có thế cống hiến ngoài biên chế, mới ít nhiều dám phản biện.
Re:
Danlaogia  - Email:  nclamvn@gmail.com   (07/07/2009 10:32:33 AM)
Chỉ dám góp ý riêng với Hiên Viên rằng: "Chỉ cần học lại logic hình thức một chút và có thêm ít kiến thức nữa về xã hội đương đại, cộng với việc bỏ thói khoe kiến thức tràn lan thì bài viết này sẽ tốt hơn..." câu này làm tôi không rõ chân trị của nó là gì tựa như khi được nghe câu "tôi đang nói dối" hay hài hước hơn "Tôi vừa rút điện thoại nạm kim cương, hơn trăm triệu nện vào mồm một thằng thích sĩ diện, khoe khoang"!
Trang:  1/2Trang sau 
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Xin một chữ thôi
13/03/2010 03:21' PM
Tâm linh... mấy hột
06/03/2010 11:05' AM
Phật tại tâm
02/03/2010 11:04' AM
Tinh thần hiếu học
01/03/2010 04:50' PM
Bài khác:
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ