Nâng đỡ cái nôi văn hóa

11:37 SA @ Thứ Năm - 14 Tháng Mười, 2021

Hỏi: Nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập báo Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi muốn có một cuộc trò chuyện với ông về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, về hướng phát triển cũng như vai trò của truyền thông đối với ngành nông nghiệp?

Nguyễn Trần Bạt: Cám ơn các bạn về buổi phỏng vấn này. Khi nghĩ về một đất nước thì phải hiểu cấu trúc cơ bản của đất nước ấy. Trong cấu trúc cơ bản của đất nước ta, nông thôn là lịch sử, là nền tảng văn hóa, là nguồn nguyên liệu khổng lồ để tạo ra xã hội. Đôi khi người ta cường điệu quá khía cạnh đô thị mà quên mất nếu không còn nông thôn nữa thì thực chất, không có cấu trúc cuộc sống. Nghiên cứu kỹ sẽ thấy nỗi khổ của người đô thị chính là không có quê, như Vũ Thành An trong một bài hát có một câu mà tôi thường nhắc: “đời con gái cũng cần dĩ vãng”. Con người cần dĩ vãng mà nông thôn chính là dĩ vãng. Mở đầu câu chuyện, tôi muốn nói rằng nông thôn là dĩ vãng của tất cả chúng ta, nếu không có nó, chúng ta rất khó để trở thành con người hoàn chỉnh.

Hỏi: Là một nhà nghiên cứu, ông đánh giá thế nào về vai trò của nông nghiệp trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước hiện nay?

Trả lời: Có rất nhiều người đánh giá thấp nông nghiệp, coi đó là phần góp của xã hội nông thôn vào nền kinh tế, đấy là một nhận thức sai. Nhiệm vụ của chúng ta là đưa nông thôn trở thành một vùng có địa vị kinh tế vững chắc chứ không phải đánh giá nó như một vùng có tỷ trọng kinh tế thấp. Lịch sử phát triển của một quốc gia chính là sự phát triển của nông thôn. Phát triển nông thôn trở thành một đối tượng có tỷ trọng đóng góp cao trong xã hội là một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển. Nếu chúng ta đem “cân” nông thôn lên theo giá thị trường thì đấy là một quan điểm sai từ gốc rễ. Vì nông dân chiếm đến 70-80% dân số nên nâng tỷ trọng kinh tế của khu vực nông thôn lên chính là nâng cao mức sống cho một lực lượng chủ yếu của xã hội.

Không thể cân nông nghiệp và nông thôn như một thành tố lép vế góp vào nồi kinh tế chung. Với những nước mới phát triển như chúng ta, trong phát triển kinh tế phải chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn, bởi đó là phát triển đời sống, mức sống và cấu trúc sống của lực lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dân số. Còn với những nước đã phát triển, nông thôn phản ánh một sự cân bằng khác, đó là sự cân bằng có chất lượng sinh thái, chất lượng kinh tế, chất lượng chính trị, và đặc biệt là chất lượng văn hóa. Tôi từng đến Pháp dự một hội nghị và được ở trong một lâu đài của vua Pháp có tên là Mon Royal. Lâu đài ấy nằm giữa những cánh đồng ngô và trai gái nông dân Pháp múa hát rất tươi trong cánh đồng ấy. Đấy là văn hóa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt trả lời phỏng vấn Báo Nông nghiệp Việt Nam, ngày 03-4-2015

Hỏi: Mấy năm gần đây xuất hiện khái niệm nông nghiệp là bệ đỡ của nền kinh tế. Cả biển người nghèo khổ như thế đỡ cả nền kinh tế thì ông thấy thế nào?

Trả lời: Bệ đỡ không phải là khái niệm, mà là một từ được sử dụng ngẫu hứng của một số nhà điều hành nào đó có sự hiểu biết vu vơ về nông thôn. Nông thôn là bệ đỡ cho cái gì? Bệ đỡ cho sự nghèo đói, sự tụt hậu, bởi vì nếu lùi thì phải lùi về nông thôn? Theo quan điểm của tôi, nông thôn là cái nôi của nền văn hóa của mỗi dân tộc, nếu chúng ta suy nghĩ và hành động với tư cách là một cộng đồng người thì chúng ta phải nâng đỡ cái nôi ấy.

Hỏi: Theo ông, phải nâng đỡ thế nào đối với nông thôn?

Trả lời: Luôn luôn phải nâng đỡ nông thôn. Ví dụ, nhà báo các bạn không nhất thiết lúc nào cũng mô tả nông thôn như một sự kêu ca về nghèo đói, mà nên cảnh báo về nguy cơ nông thôn có những vẻ đẹp đang bị tiêu diệt. Phải kêu cứu về hiện tượng vẻ đẹp có chất lượng nguồn gốc của dân tộc đang bị tiêu diệt. Phải phát hiện tất cả các khuyết tật của chính sách áp dụng đối với nông thôn. Tôi lấy ví dụ, gần đây có phong trào các đại gia đầu tư vào nông nghiệp. Chúng ta đều biết rằng các đại gia cũng đã từng đầu tư vào công nghiệp và làm cho giá cả sản phẩm công nghiệp vống lên, điển hình là bất động sản, làm cho triển vọng có nhà ở của con người ngày càng xa dần. Trước đây, bán cái xe máy là có thể mua được một căn hộ ở Vĩnh Hồ, ở Thành Công, ở Giảng Võ. Thế nhưng bây giờ, nếu chỉ có lương không thì không thể mơ đến chuyện mua nhà. Chính sự tham gia của các đại gia, kể cả nhà nước lẫn tư nhân, vào khu vực công nghiệp làm cho giá cả các sản phẩm công nghiệp tăng lên, làm cho những thứ như vậy tuột ra khỏi khả năng mua của đại bộ phận dân chúng đô thị. Bây giờ liệu các đại gia nhảy vào nông thôn có dẫn đến tình trạng như thế không? Báo chí phải phát hiện ra những nguy cơ ấy.

Gần đây, dư luận tỏ ra phấn khởi khi thấy có những dự án lấy mấy nghìn hecta đất làm nông nghiệp. Các dự án nông nghiệp ấy liệu có xem xét đến việc đầu tư để huấn luyện người nông dân hiện đại hóa khả năng sản xuất của họ? Bằng tiềm lực được huy động một cách rộng lớn với các quy mô ưu thế, các tập đoàn kinh tế rất có thể sẽ trở thành kẻ cạnh tranh với người lao động đơn lẻ ở nông thôn. Vậy chính sách nào để khắc phục rủi ro ấy? 

Khoảng cách giàu nghèo giữa đô thị và nông thôn vốn là vấn đề chính trị toàn cầu. Bây giờ, khoảng cách giàu nghèo ngay trong chính nông thôn có trở thành một vấn đề chính trị toàn quốc hay không? Ai có nghĩa vụ phải trả lời câu hỏi ấy? Ai có nghĩa vụ phát hiện tất cả các triển vọng hoặc các thảm họa? Phải tỉnh táo, nếu không, rất có thể chúng ta sẽ chào đón “quân xâm lược” đối với nông thôn.

Hỏi: Cũng có ý kiến cho rằng trong công cuộc tái cơ cấu đất nước nói chung và tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói riêng, vai trò của các doanh nghiệp là hết sức quan trọng, nó sẽ làm chuyên nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp. Họ đưa máy móc công nghiệp vào, đầu tư sản xuất lớn thì mới có hàng hóa, còn nếu để người dân làm thì manh mún, nhỏ lẻ. Quan điểm của ông có gì khác biệt không?

Trả lời: Tôi không có quan điểm gì khác biệt. Thế nào rồi cũng phải có các doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp nào, doanh nghiệp ấy hoạt động trong hệ thống chính sách nào, hệ thống mục tiêu chính trị nào? Hiện nay truyền thông đang tranh luận sôi nổi về chuyện có nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa không. Nông thôn là một vùng đất thể hiện đầy đủ định hướng Xã hội chủ nghĩa. Ở chỗ nào năng lực con người không được trang bị đầy đủ thì những yếu tố Xã hội chủ nghĩa là cực kỳ quan trọng đối với thân phận con người. Cần phải đặt ra câu hỏi: Bên cạnh những trang trại, những nhà máy khổng lồ của các tập đoàn, người nông dân sẽ sống với thân phận nào?

Tôi cho rằng hệ thống chính sách và các công cụ để triển khai hệ thống chính sách đó chính là phần cơ bản để cấu tạo ra khái niệm định hướng Xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế. Nông thôn sẽ là nơi thể hiện đầy đủ toàn bộ vấn đề này. Hiện nay, người ta chế giễu khái niệm ấy nhưng tôi không thấy có gì đáng cười cả. Tôi nghĩ cần phải bàn bạc để giải quyết việc đưa nước Việt Nam với nông dân và nông thôn nghèo khổ này trở thành một đất nước phát triển với tốc độ đồng đều, để cho khoảng cách giữa đô thị và nông thôn không xa quá. Muốn làm cho mức sống của con người ở vùng đô thị và vùng nông thôn không chênh lệch nhau quá thì buộc phải có chính sách, phải có công cụ lớn bé khác nhau tùy thuộc vào tình trạng phát triển. Ví dụ trong giai đoạn hiện nay, chúng ta có thể cần các doanh nghiệp nhà nước. Ai bảo không cần doanh nghiệp nhà nước là người đó không thực tế. Nó là công cụ để điều chỉnh chính sách. Các khái niệm về sở hữu cũng phải được điều chỉnh phù hợp với mức độ phát triển, với hiện trạng phát triển.

Tôi nói như vậy để các bạn thấy rằng cần phải làm rõ các khái niệm cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Hơn ai hết, người nông dân Việt Nam cần yếu tố ấy. Nếu không làm rõ được, coi chừng phần thiệt thòi rơi vào người nông dân!

Hỏi: Thời gian qua có một số tập đoàn lớn như Vingroup, Hoàng Anh Gia Lai, Hòa Phát đầu tư vào nông nghiệp. Theo ông, đâu là tín hiệu vui cho phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung?

Trả lời: Như vậy là những lực lượng thông minh trong giới làm ăn đã nhận ra vai trò của nông nghiệp và nông thôn. Các doanh nghiệp lớn đã chú ý đến nông nghiệp tức là cách nhìn của họ đã bắt đầu cân đối. Tuy nhiên, cần phải phân biệt rất kỹ giữa việc họ nương theo một thẩm mỹ chính trị nào đó với việc họ phát hiện ra vai trò của kinh tế nông nghiệp. Nếu họ nương theo chính trị mà chú ý vào nông nghiệp thì sự chú ý ấy không căn bản. Khi họ lấy đất làm nông nghiệp với sự chú ý không căn bản thì việc đó có thể trở thành thảm họa cho nông dân và nông thôn.

Hỏi: Nếu họ thực sự coi đấy là một hướng làm ăn thì theo ông, họ đã nhìn thấy cơ hội gì trong nông nghiệp?

Trả lời: Chúng ta biết rõ sự phát triển như vũ bão của nông nghiệp Trung Quốc, họ sử dụng tất cả các hóa chất có thể làm hại con người để sản xuất sản phẩm nông nghiệp. Bây giờ, nông nghiệp khu vực này bị mất uy tín và cần phải tái cấu trúc thành một nền nông nghiệp mà chúng ta hay gọi là nông nghiệp sạch. Hiện nay, trên các nóc nhà ở thành thị, rất nhiều gia đình tự trồng rau để ăn. Người nghèo không có nhà để trồng rau, không có tiền để mua rau sạch thì đành phải ăn rau bẩn. Sự chú ý như vậy bắt đầu từ sự tự giác về tính bế tắc của một giai đoạn phát triển phi đạo đức của nông nghiệp. Những người chủ của các doanh nghiệp lớn nhìn thấy cần phải cấu trúc lại nền nông nghiệp và họ có đủ điều kiện để tham gia vào việc đó. Điều ấy là tốt.

Các sản phẩm nông nghiệp thường có chi phí bảo quản và vận chuyển cao, do đó, thường có tỷ lệ lợi nhuận thấp. Nhưng vì nó là sản phẩm rất cần cho sức khỏe con người nên người ta vẫn làm và người ta tìm cách khắc phục. Nói cách khác, các tập đoàn kinh tế lớn là người có đủ kinh nghiệm để kết hợp các mặt vào trong một sản phẩm. Đấy là những doanh nghiệp có kinh nghiệm về vận chuyển, về các thị trường, họ tham gia vào nông nghiệp sẽ có những đóng góp trí tuệ rất lớn. Tuy nhiên, tất cả mọi thứ đều có mặt tiêu cực của nó. Vấn đề đặt ra là xây dựng chính sách như thế nào để kiểm soát các mặt tiêu cực tương lai của một khu vực kinh tế phát triển trên cơ sở đã được đại gia hóa hay đại công ty hóa.

Hỏi: Ông vừa nói đến khả năng xảy ra nguy cơ xâm lăng nông thôn, ông có thể nói rõ hơn về vấn đề này?

Trả lời: Nếu chúng ta không đầu tư vào các chương trình giáo dục cho nông dân một cách hợp lý, không nhìn người nông dân như là con người thật, tức là chúng ta xâm lược nông thôn và trở thành kẻ chiếm đóng. Ngày xưa, nông dân tiến hành đủ các loại khởi nghĩa vì bị thực dân chiếm đóng. Bây giờ, trí tuệ của nông dân đầy đủ điều kiện để có thể nhìn ra nhanh hơn các khía cạnh chiếm đóng trong sự xuất hiện của các tập đoàn ở nông thôn. Nếu có vấn đề gì xảy ra, lập tức nó sẽ biến thành vấn đề chính trị.

Hỏi: Làm thế nào để người nông dân và các đại gia sống hòa hợp với nhau, thưa ông?

Trả lời: Rất nhiều người đi tìm thiện chí ở những đại gia ấy, tôi không nghĩ như thế. Mặc dù đấy cũng là một việc phải làm, nhưng nó không phải là việc có thể giải quyết được chuyện này. Nâng cao trình độ người nông dân để họ đối phó với tất cả các thủ đoạn nếu có của việc công ty hóa nông thôn là cách tốt nhất. Sự liên minh của chính quyền cơ sở với các đại gia là nguy cơ lớn nhất của người nông dân. Ở đâu trên thế giới cũng thế, càng phát triển, dân chủ bao nhiêu thì nguy cơ ấy càng giảm bớt đi. Vậy phải làm thế nào để Chính phủ thấy được các nguy cơ và có hệ thống chế tài kiểm soát rủi ro cho người dân? Đây chính là vấn đề rất căn bản liên quan đến nhân quyền.

Nhà nước sinh ra để kiểm soát tất cả các yếu tố làm cho nhân quyền không được tôn trọng. Xã hội đôi khi chỉ mải đấu tranh về sự thiếu tôn trọng nhân quyền của Nhà nước, mà quên mất rằng mọi lực lượng xã hội có ưu thế đều có thể vi phạm nhân quyền. Cho nên phải xây dựng một hệ thống luật pháp, hệ thống chính sách để hạn chế sự vi phạm nhân quyền của tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình điều khiển kinh tế và xã hội chứ không phải chỉ có Nhà nước. Chúng ta thường chỉ nhìn thấy nguy cơ vi phạm nhân quyền ở trong bộ máy Nhà nước, mà không nhìn thấy nó ẩn nấp trong tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình vận hành xã hội. Ở chỗ nào nhân dân thiếu hiểu biết thì sự vi phạm nhân quyền phát triển phổ biến, chỗ nào mà đầy người ngốc thì chỗ ấy tiềm ẩn các cuộc cách mạng, bởi vì người ngốc dễ nổi khùng.

Hỏi: Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư vào nông nghiệp ở Việt Nam, thậm chí đã thâu tóm những công ty nông nghiệp của Việt Nam. Là người đã từng tư vấn cho nhiều công ty lớn trên thế giới, ông có thể đưa ra đánh giá về mặt tích cực, tiêu cực và làm thế nào để hạn chế những tiêu cực nếu có?

Trả lời: Trật tự kinh tế xã hội luôn luôn dễ hơn khi Chính phủ đối mặt với số lượng ít các đầu mối phát triển. Hay nói cách khác, số lượng đầu mối phát triển càng ít bao nhiêu thì Chính phủ càng dễ kiểm soát vĩ mô bấy nhiêu. Cho nên việc xuất hiện các tập đoàn lớn, kể cả của nước ngoài vào Việt Nam tạo điều kiện để Chính phủ chúng ta hiện đại hóa hoạt động quản lý đối với từng loại ngành nghề. Nông nghiệp cũng tương tự như vậy. Tôi không hề phản đối sự có mặt của các tập đoàn nước ngoài ở Việt Nam. Không phải vì tôi làm nghề tư vấn đầu tư nước ngoài, mà vì đạo lý phát triển dễ dàng của nền kinh tế, tôi ủng hộ chuyện đấy. 

Còn sự cạnh tranh giữa những nhà kinh doanh Việt Nam với các nhà kinh doanh nước ngoài là không thể tránh. Khi đã thừa nhận kinh tế thị trường thì chúng ta phải hiểu rằng cạnh tranh là động lực. Động lực của nền kinh tế thị trường chính là cạnh tranh bình đẳng và tự do. Cạnh tranh càng tự do thì tính động lực của nền kinh tế càng lớn. Cái gì làm cho tự do cạnh tranh không tự nhiên thì cái đó hạn chế động lực của nền kinh tế.

Vậy tập đoàn nước ngoài giữ vai trò gì? Nó giữ vai trò đưa các tiến bộ công nghệ vào, xác lập địa vị của công nghệ trong cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp. Chưa đến giai đoạn cần phải hạn chế các tập đoàn nước ngoài. Trên thực tế, chúng ta cũng chỉ có các tập đoàn nông nghiệp bắt chước các tập đoàn nước ngoài chứ chưa có các lực lượng tiên phong trong việc sáng tạo ra công nghệ. Chưa có tập đoàn kinh tế nông nghiệp nào của chúng ta có một Viện nghiên cứu hoặc hợp tác một cách hiệu quả với các Viện nghiên cứu của Nhà nước để phát triển công nghệ nông nghiệp một cách phổ biến. Chúng ta mới có dấu hiệu ban đầu là hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài và sử dụng công nghệ của họ.

Tôi chưa thấy cần phải báo động về việc xuất hiện các tập đoàn nước ngoài ở Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng cần phải tăng cường năng lực quản lý của Chính phủ về lĩnh vực này, ví dụ quản lý giống, quản lý thiết bị. Trước đây, tôi có hợp tác với tập đoàn Steyr của Áo để đưa máy kéo của họ vào Việt Nam. Công ty chế biến thức ăn gia súc C.P của người Thái cũng là khách hàng của của công ty chúng tôi. Chưa có nguy cơ thật sự trong cuộc cạnh tranh giữa người Việt và các tập đoàn như vậy. Họ vẫn còn tiếp tục tiên tiến xét về phương diện kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hoặc sản xuất sản phẩm nông nghiệp. Nếu chúng ta có một bộ luật hoặc một hệ thống chính sách kiểm soát và động viên các doanh nghiệp nước ngoài thỏa đáng, tôi nghĩ nó vẫn còn tiếp tục có đóng góp tích cực.

Hỏi: Trở lại vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế, theo ông, đâu là những điểm còn hạn chế trong sự phát triển nông nghiệp của chúng ta hiện nay?

Trả lời: Phát triển nông nghiệp của chúng ta đầy rẫy hạn chế. 

Thứ nhất là không có chính sách đồng bộ và ổn định. Luôn luôn có sự xung đột giữa chính sách nông nghiệp với các chính sách phi nông nghiệp khác, ví dụ như sân golf. Cho nên cần phải xác lập được một hệ thống chính sách đồng bộ dành cho khu vực nông nghiệp.

Thứ hai, chúng ta phải nghiên cứu một khía cạnh cực kỳ quan trọng, có tính động lực, đó chính là chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu đất đai mà chúng ta đang có theo hiến pháp mới nhất vẫn là sở hữu toàn dân. Sở hữu toàn dân là một việc bắt buộc. Nhà nước ta cũng nhận thấy tính lạc hậu của định nghĩa sở hữu này nhưng không thể có những thay đổi mang tính chất cấp tiến ngay được, bởi lịch sử chính trị của đất nước chúng ta phức tạp. Giải pháp tốt nhất hiện nay là xây dựng một hệ thống chính sách về quyền sử dụng đất đai chi tiết hơn. Chúng ta đều biết chỉ cần chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở sẽ làm giá của một mảnh đất tăng lên 10 - 20 lần. Đảng ta cần phải nghiên cứu một chế độ sở hữu phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, đồng thời phù hợp với năng lực quản lý cả trên phương diện kinh tế và chính trị.

Hỏi: Vấn đề đất đai hình như cũng có những bàn bạc nhưng xem chừng rất khó?

Trả lời: Rất khó bởi phương pháp luận của chúng ta không ổn. Tư duy của chúng ta dựa trên quan niệm chân lý chỉ có một, do đó, chúng ta luôn luôn lấy đúng - sai làm mục đích mà không biết cách cân đong đo đếm lợi ích và không phân tích các phạm trù trên cơ sở lợi - hại. Tất nhiên, chúng ta không thực dụng đến mức chỉ lấy lợi ích là mục tiêu, nhưng vẫn phải chiếu cố đến khía cạnh lợi ích. Có lẽ cùng với thời gian, cặp phạm trù đúng - sai sẽ được rút bớt về một mức độ nào đó phù hợp, để cặp phạm trù lợi - hại có địa vị trong mọi sự cân nhắc chính trị.

Hỏi: Thưa ông, trong một bài viết trên báo Nông nghiệp Việt Nam số Tết, ông Alan Phan - một doanh nhân Việt kiều nhận định có hai cơ hội ở Việt Nam có thể phát triển được là nông nghiệp và công nghệ thông tin. Ông có đồng tình với quan điểm này không?

Trả lời: Tôi biết anh Alan Phan, anh ấy cũng là một nhà kinh doanh có học vấn, những ý kiến của anh ấy đúng, nhưng là một sự đúng đắn dễ xác nhận. Một nước ít đầu tư cho phát triển giáo dục, trình độ của người lao động thấp thì nông nghiệp là cơ hội vì dễ kiếm nhân công. Khi trả lời phỏng vấn Đài truyền hình Phần Lan, tôi nói sở dĩ có hiện tượng đô thị hóa ồ ạt là do kinh tế xây dựng dễ phát triển vì nó dễ kiếm nhân công, đào tạo vài tuần là người nông dân có thể trở thành thợ xây.

Còn công nghệ thông tin thì nhiều người đã từng nghiên cứu. Một số anh em làm về công nghệ thông tin cách đây chục năm đã nói với tôi rằng thực ra số lượng người có thể làm được phần mềm không nhiều lắm. Cho đến nay, công nghệ phần mềm mà FPT làm cũng chỉ ở mức thí điểm, và đó cũng không phải lực lượng kinh doanh chủ yếu của họ. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta buông chuyện ấy. Bây giờ, phải cảm ơn FPT và Trương Gia Bình vì mặc dù phần mềm không phải là thứ có lợi nhất, nhưng họ vẫn kiên trì với chuyện ấy, đấy là thiện chí của họ đối với sự phát triển công nghệ. Tôi nghĩ cần phải có sự tập hợp khác nữa và có một đầu tư tốt hơn nữa thì công nghệ thông tin mới có thể trở thành tiềm năng được.

Hỏi: Đi thực tế ở nhiều địa phương mới thấy đời sống nông dân hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Nước ta có nông nghiệp là thế mạnh mà ở nhiều vùng nông thôn vẫn còn phải cứu đói. Theo ông thì vì sao?

Trả lời: Trước hết, lập luận chúng ta là một nước nông nghiệp mà lại phải cứu đói là không đúng. Đói kém thường diễn ra ở các nước nông nghiệp. Các nước phát triển công nghiệp không phải chịu đói kém. Họ không ăn các sản phẩm nông nghiệp một cách trực tiếp. Hơn nữa, khi họ sử dụng các sản phẩm nông nghiệp gián tiếp thì nó khích lệ ngành công nghiệp chế biến và làm cho giá của sản phẩm nông nghiệp tăng lên.

Bây giờ làm thế nào để không đói là cả một vấn đề. Thứ nhất, Đảng và Chính phủ phải có hệ thống đường lối chính sách ổn định về nông nghiệp và nông thôn. Hiện nay, chúng ta xây dựng các chính sách nông nghiệp và nông thôn dựa trên tính từ thiện chính trị chứ chưa phân tích lợi ích, cho nên không ổn định. Hơn nữa, những chính sách dành cho các khu vực khác mang lại tỷ lệ lợi nhuận cao hơn luôn luôn xâm phạm một cách không thương tiếc đối với nông nghiệp và nông thôn. Tóm lại, động cơ của chính sách đối với nông thôn là từ thiện và vận động chính trị nhiều hơn là nghĩ đến nông thôn như một cộng đồng con người. 
Cho nên tôi nghĩ: đầu tiên, Đảng và Chính phủ phải có chính sách nông nghiệp ổn định dựa trên sự phân tích các điều kiện sống cơ bản của người nông dân. Nếu không thống nhất được chuyện ấy và không làm rõ thì không ai tin vào chính sách. Không tin vào chính sách thì người ta không đầu tư vào nông nghiệp và do đó, nông dân và nông thôn muôn năm vẫn thế.

Thứ hai là hiện đại hóa nông thôn. Hôm vừa rồi, phát biểu trong một cuộc hội thảo về nguồn nhân lực tại Nghệ An, tôi nói rằng: Bây giờ, tính ra tất cả các học giả quan trọng của đất nước này thì người Nghệ An và người Hà Tĩnh chiếm 30 - 40%, nhưng không ai trong số họ về quê sống. Cần phải hiện đại hóa nông thôn để làm cho khả năng có thể cư trú được ở nông thôn tăng lên. Ở Anh, có nhiều nơi nông thôn sang hơn thành thị. Nhiều người giàu không ở đô thị mà ở nông thôn, bởi nông thôn của họ đẹp như thiên đường. Chúng ta không có vùng nông thôn nào như thế. Đường xá không tốt, nước sạch không được cung cấp đủ, quyền được có điện ở nông thôn cũng chưa có đầy đủ.

Thứ ba là phải ưu tiên đầu tư vào hệ thống giáo dục nông thôn. Muốn tạo tự do cho nông thôn, phải nâng cao giáo dục. Ở đâu giáo dục phát triển tốt thì ở đấy, dân trí cao. Dân trí cao thì quan lại bớt tham nhũng, mà quan lại bớt tham nhũng thì xã hội lành mạnh. Hiện nay nông thôn vẫn đang là cái thùng rác của các khuyết tật của xã hội chúng ta.

Trước mắt làm những việc như thế đã. Phải xây dựng ngay chính sách để các tập đoàn lớn quay sự chú ý vào nông nghiệp. Không để họ hình thành các thói quen kinh doanh bản năng sai ở nông thôn. Những thói quen ấy rất dễ trở thành thói quen bóc lột người nông dân. Khi bóc lột người nông dân trở thành một nguồn lợi ích, nó sẽ tích tụ những nguy cơ xảy ra bạo loạn.

Hỏi: Trong thời gian qua, hệ thống chính trị cũng có nhiều chính sách cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ví dụ vừa rồi là mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Hay gần đây, sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào Biển Đông, chúng ta cũng đầu tư cho ngư dân giữ biển và rất nhiều chính sách khác. Theo ông, những chính sách đó đã đủ chưa? Nếu đã có đủ, vì sao nông thôn chưa bừng sáng như mong đợi của tất cả chúng ta?

Trả lời: Có lẽ, nếu không có giàn khoan xuất hiện, chúng ta cũng không đầu tư cho ngư dân. Tức là chúng ta chưa đầu tư thật cho họ mà đã khoác lên vai họ một gánh nặng. Như thế là không yêu con người. Tôi cho rằng khi nào chúng ta không phi chính trị hóa sự chú ý vào nông thôn thì không bao giờ có một nông thôn tốt và an toàn.

Hỏi: Theo ông, vai trò của truyền thông đối với nông nghiệp như thế nào? Nếu có một gợi mở cho sự phát triển của báo Nông nghiệp, ông có thể giúp một vài ý kiến?

Trả lời: Báo Nông nghiệp là tiếng nói của một cộng đồng đông nhất ở Việt Nam. Nếu các bạn phát triển đến mức tất cả các viên chức của chính quyền địa phương từ cấp xã trở lên đều đọc báo Nông nghiệp, với những bài báo có định hướng về mặt trí tuệ quản lý xã hội thì tôi nghĩ là tích cực. Cho nên vấn đề đặt ra là các bạn đưa nội dung gì vào tờ báo để nó trở thành công cụ tốt trong việc huấn luyện xã hội nông thôn.

Một số người dị ứng với việc báo chí tuyên truyền đường lối của Đảng và chính sách của Chính phủ, nhưng tôi thì không. Tôi cho rằng cần phải tuyên truyền mạnh mẽ hơn nữa, bởi đã thành chính sách, thành luật pháp, thành đường lối thì không ai dám ghi những điều tiêu cực vào văn bản. Một văn bản không ghi những điều tiêu cực thì bản thân nó đã là tích cực, chỉ có tiêu cực duy nhất là nó không đến được đối tượng cần quan tâm. Cho nên đưa các tuyên truyền về chính sách, chế độ, luật pháp và đường lối của Đảng, Chính phủ vào nông thôn càng sâu càng tốt. Đôi khi, những người nông dân chỉ cần biết giá một chiếc tivi khoảng 10 triệu chứ không phải 12 triệu thì họ đã xem là tích cực rồi. Họ không biết rằng còn bao nhiêu vấn đề về thuốc trừ sâu, về hóa chất độc hại, về ô nhiễm nguồn nước...

Các chính quyền địa phương trong hoạt động đôi lúc có thể gây ảnh hưởng tiêu cực. Lúc là gây ảnh hưởng môi trường như trường hợp lấp sông Đồng Nai. Lúc là vấn đề buôn bán sức lao động ra nước ngoài. Dịch vụ xuất khẩu lao động đối với nhà nước là một loại kinh doanh, nhưng đối với địa phương là một loại kinh doanh khác, đối với phường xóm lại là một loại kinh doanh khác nữa. Nhìn trong một hiện tượng như vậy, chúng ta sẽ thấy có nhiều tầng kinh doanh chồng chất. Nếu như chúng ta truyền bá luật lao động, các quyền cơ bản, thông tin về tín dụng mà các ngân hàng cung cấp cho người nông dân thì không có câu chuyện buôn bán sức lao động một cách vô nguyên tắc, vô luật pháp và vô đạo đức như hiện nay ở nông thôn.

Trong khi ở đô thị, báo giấy đã bắt đầu lạc hậu thì nông thôn vẫn là thị trường khổng lồ của báo giấy. Tại sao báo Nông nghiệp không phát triển theo hướng ấy? Các bạn hoàn toàn không những có địa vị mà còn có cả tiềm năng để có thể tác động một cách tích cực vào sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Xã hội càng phát triển với tốc độ nhanh bao nhiêu, báo Nông nghiệp càng quan trọng bấy nhiêu. Nếu như các tờ báo đô thị khác chỉ chạy 100km/h là đủ để kịp thời cuộc thì báo Nông nghiệp phải chạy 200km/h, bởi vì các bạn phải giải quyết số lượng vấn đề nhiều gấp ba lần so với đô thị, cho nên các bạn càng nhiều việc phải làm.

Nguồn:
LinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Nhân danh công nghiệp hóa!

    10/07/2019Nguyên TấnCác chuyên gia cảnh báo rằng việc lạm dụng hoặc lợi dụng công nghiệp hóa để ồ ạt mở khu công nghiệp là bước đi sai lầm và có thể dẫn đến những hậu quả tai hại cả về mặt kinh tế lẫn xã hội. Cần phải nhanh chóng chỉnh đốn lại tình trạng này và hoạch định việc phát triển khu công nghiệp theo một hướng khác, hiệu quả hơn.
  • Tính chất tiểu nông

    02/03/2016Lý LanViệt Nam gia nhập WTO rồi mà sức cạnh tranh kém là do kinh tế nước mình còn mang tính chất “tiểu nông”; xã hội Việt Nam nhếch nhác vì còn nhiều “dư lượng” của văn hóa tiểu nông; thủ đô lụt lội, bừa bộn hàng rong, hoa kiểng bị bẻ phá, đường xá rác rưởi… là do đầu óc quản lý “tiểu nông”, thói quen làng xã “tiểu nông”; đến văn học thiếu tác phẩm “lớn” cũng vì nền văn học “tiểu nông”. Đó là những nhận định, phán xét thường thấy trên các phương tiện truyền thông.
  • Lố nhố một đám đông lộn xộn

    23/02/2016Nhà văn Vương Trí NhànNông thôn, làng quê, người nông dân… nghĩ tới xã hội Việt Nam là phải nói ngay tới cái bộ phận thiết yếu đó. Có lẽ bởi vậy mà trong truyện dài “Thiếu quê hương” ( in lần đầu năm 1940, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản năm 2006), mặc dù lấy đô thị hiện đại là địa bàn chủ yếu của các nhân vật, song cuối truyện nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải một lần đưa họ về làng quê.
  • Hãy giữ tổ chim vì tương lai của giọng hót

    27/01/2015Dương Đình TườngNhững ý kiến của ông Nguyễn Trần Bạt có thể sẽ gây ra những cuộc tranh luận nhưng không thể phủ nhận người sáng lập InvestConsult Group trăn trở rất nhiều cho nông thôn Việt....
  • Thư của một nông dân

    14/05/2014Phan Cẩm ThượngTôi thuộc về một nền văn hoá khác, lạc lõng trước dòng chảy hào nhoáng của cuộc sống công nghiệp. Một nền văn hoá đang tàn lụi, đang trở lại với ông bà, không có cách gì ngăn được. Có lẽ không còn lâu nữa chuyện về người nông dân Bắc bộ chỉ còn giống như trong chuyện cổ tích và truyền thuyết...
  • Đất đai, nông dân và nông thôn Việt Nam

    04/03/2012Đoan Trang dịchĐây là một phần Chương II, Selling the Fields (“Bán ruộng”) trong cuốn sách “Vietnam – Rising Dragon” (Việt Nam – con rồng trỗi dậy) của Bill Hayton, nguyên phóng viên BBC tại Hà Nội. Trong bối cảnh vụ Tiên Lãng báo hiệu nhiều xáo trộn, tôi nghĩ sẽ là một việc có ích, ít nhất cũng là điều thú vị, nếu chúng ta tham khảo những gì một nhà báo phương Tây từng viết về nông thôn Việt Nam cách đây vài năm.
  • 7 nỗi khổ của người nông dân

    12/03/2009Giáo sư – Viện sĩ Đào Thế TuấnNông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với việc phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững, vẫn còn có thể tái nghèo. Giáo sư Amartya Sen, người Mỹ gốc Ấn Độ, được giải Nobel chỉ ra rằng cái người nghèo cần không phải giúp họ tiền mà là các điều kiện để phát triển kinh tế (đất đai, công cụ, trâu bò và kỹ năng) và quyền được hoạt động để thoát khỏi cảnh nghèo, tức là cần “cần câu” chứ không phải “con cá”.
  • Chuyện hỉ, nộ, ái, ố về kiến trúc nông thôn

    16/01/2009KTS Phạm Thanh TùngChuyện về kiến trúc nông thôn trong thời kỳ mới là câu chuyện dài, nó có đủ cả hỉ, nộ, ái, ố như đời người vậy. Đi tìm một mô hình kiến trúc nông thôn mới đòi hỏi không chỉ tài năng, mà hơn cả là cái tâm, lòng yêu quê hương của các nhà quản lý, quy hoạch, kiến trúc sư, cùng sự tham gia, sẻ chia của toàn xã hội.
  • Sự biến đổi tâm lý của người nông dân trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta hiện nay

    07/12/2005Ngọc LanCông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là cuộc cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để về mọi mặt, nhất là trong đời sống tâm lý của người nông dân. Bài viết này góp phần tìm hiểu sự biến đổi tâm lý của người nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • xem toàn bộ