Kết hợp ba cơ chế đối với trách nhiệm thực thi Công vụ

Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia
01:04 CH @ Thứ Tư - 31 Tháng Mười Hai, 2008

Những tiêu cực trong lĩnh vực quản lí kinh tế xã hội ở mức độ khác nhau xảy ra ở nước ta trong những năm gần đây cho thấy sự suy đồi về tinh thần thực thi công vụ, thoái hóa về nhân cách của nhiều Quan chức và Công chức có nguyên nhân nằm sâu trong cơ chế, thậm chí là thể chế quản lí xã hội, hơn là sai phạm của từng cá nhân riêng lẻ.

Tôi muốn đề cập đến ba cơ chế chủ yếu để giảm thiểu những sai phạm đó cũng như hậu quả của nó đối với xã hội – Khi xem cơ chế là một phương thức vận hành của một quá trình nào đó nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống. Những ý tưởng chủ yếu về ba cơ chế đó là:

1. Cơ chế giám sát

a. Quốc hội giám sát về luật

b. Thanh tra nhà nước giám sát về các chế độ quản lí

c. Các tổ chức phi chính phủ giám sát về trách nhiệm xã hội

d. Công luận với các phương tiện truyền thông giám sát về đạo đức và tính đại diện cho lợi ích toàn dân

2. Cơ chế định vị giá trị xã hội

a. Thang chuẩn mực về trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp

b. Chế độ xây dựng lòng tin giữa những người có trách nhiệm với cộng đồng

c. Khai phá những con đường sự nghiệp ngoài con đường quan chức

d. Truyền thông thay đổi tâm lí của cộng đồng, hình thành những phong trào ủng hộ những hành xử tích cực

3. Cơ chế từ nhiệm

a. Cá nhân phải chịu trách nhiệm toàn bộ về tác nghiệp

b. Thủ trưởng hay cơ quan cấp trên trực tiếp phải nhận về mình trách nhiệm cuối cùng

c. Cá nhân hay cơ quan đề cử chịu trách nhiệm gián tiếp khi người mà họ đề cử mắc sai phạm

d. Thiết định chế độ giải trình thường xuyên định kì về trách nhiệm của các cá nhân thực thi công vụ

e. Ưu tiên những hình thức tự xử của cá nhân mắc sai phạm theo nghĩa được ủng hộ và giảm nhẹ tình tiết khi truy cứu theo luật pháp

f. Thiết lập qui trình phản ứng nhanh giữa các cơ quan liên quan khi quyết định bãi nhiệm cá nhân sai phạm

Trong bài này, Tôi đi sâu kiến giải ý tưởng của mình về cơ chế định vị giá trị xã hội.

Thang chuẩn mực về trách nhiệm / nghĩa vụ xã hội và đạo đức nghề nghiệp:

a. Xác định rõ trách nhiệm: là những việc phải nhận thực thi theo chức trách và phải nhận sự đánh giá, giám sát, phán xét về kết quả, tiến độ, đúng sai theo luật pháp và qui phạm;

b. Xác định rõ nghĩa vụ là thực hiện những việc nhằm trao cho đối tác dịch vụ hỗ trợ, sự thuận lợi, theo cam kết. Và phải nhận sự đánh giá, giám sát, phán xét căn cứ theo qui chế của tổ chức, chế độ quản lí, thỏa thuận hiệp tác;

c. Xác định rõ quyền hạn là quyền được huy động, sử dụng, phân bổ các nguồn lực, tài nguyên khác nhau khi thực thi nhiệm vụ vì mục tiêu của tổ chức. Và được đánh giá, giám sát, phán xét căn cứ theo luật định, thể chế của tổ chức, sự uỷ quyền của cấp trên.

d. Những điều cốt yếu nêu trên phải được ghi rõ vào bản mô tả công việc của tất cả các chức danh, và mỗi cá nhân phải được biết rõ, phải được hướng dẫn thực thi nhiệm vụ.

e. Đạo đức nghề nghiệp bao hàm 3 ý nghĩa chính:

1. Say mê nghề nghiệp (và cơ chế phải làm cho người ta sống được với nghề, gắn bó với nghề và nơi người ta đang làm việc);

2. Vì đối tượng của nghề nghiệp (xây dựng cách thức, phong cách quản lí theo quan điểm “xuất phát từ khách hàng và định hướng khách hàng);

3. Tuân thủ các chuẩn mực xã hội và qui phạm chuyên môn của nghề (trên thực tế nhiều khi có những luật lệ và qui tắc, qui phạm kiểu đánh đố, cài bẫy, hay khiến người ta phải nói dối, “lách luật”). Thiết lập các chuẩn, qui phạm hướng vào tính chuyên nghiệp, khoa học, minh bạch.

Chế độ xây dựng lòng tin giữa người có trách nhiệm và cộng đồng:

a. Lòng tin có được từ sự trung thực, phản tỉnh, cầu thị về những việc mình làm hơn là sự nói quá lên ngay cả những việc tốt mình đã làm được;

b. Các cơ quản quản lí nhà nước cần xác định sứ mệnh và tầm nhìn của mình, có ý nghĩa như là “mục tiêu phát biểu”, sợi chỉ đỏ xuyên suốt các quá trình, các hoạt động hướng tới đóng góp cho xã hội. Sứ mệnh và tầm nhìn cần được khắc chữ trên bia đá, bảng đồng bên cạnh logo của cơ quan ngay bên lối vào chính. Những điều đó tạo nên sự tôn nghiêm, chính thống, niềm tự hào về cơ quan, nhắc nhở về đạo đức nghề nghiệp;

c. Xây dựng uy tín, thương hiệu của các cơ quan quản lí nhà nước bắt đầu từ thiết lập những qui tắc về chuẩn mực ứng xử, các hình thức giao dịch qua những kênh và hình thức truyền thông khác nhau. Công khai đưa ra các mục tiêu chất lượng về cung cấp dịnh vụ cho nhân dân và đối tác;

d. Thiết lập chế độ trả lời công khai, phản ứng nhanh với các thắc mắc của nhân dân, khách hàng và đối tác, bên cạnh đó có chế độ đền bù những thiệt hại mà cơ quan mình đã gây ra cho nhân dân, khách hàng.

Khai phá những con đường sự nghiệp ngoài “con đường quan chức”:

a. Nhìn trong lịch sử Việt Nam và cho đến hôm nay, tâm lí học để làm quan và “làm quan cả họ được nhờ” là rất nặng nề. Vấn đề không nằm trong giáo dục nhận thức nữa mà là trách nhiệm to lớn đặt lên vai chính phủ, phải xã hội hóa tất cả những hoạt động kinh tế, sự nghiệp, hỗ trợ, tôn vinh tất cả những con đường, những hình thức lao động chân chính;

b. Chế độ sử dụng người còn quan trọng hơn cả việc đãi ngộ họ như thế nào. Do đó cần thiết định những chính sách sử dụng hiệu quả các nhân tố tích cực của con người. Chính phủ cần thừa nhận và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, thu hút lao động ở tất cả các khu vực công–tư, trong–ngoài;

c. Chống lại tất cả những hình thức phân biệt đối xử vốn đã thâm nhập vào tiềm thức của cán bộ công chức cho đến người dân, do đã quá lâu chúng ta duy trì những quan điểm, chính sách kiểu “xin- cho”, “quan liêu–hành chính”, “biên chế-ngoài biên chế”…, vô tình không ít cán bộ nhà nước đã trở thành những “tên đầy tớ lưu manh, bất trị”, còn dân lại muốn đổ xô vào các cơ quan nhà nước cho nhàn thân, yên phận và “dễ kiếm chác”;

d. Các danh hiệu cao quí của nhà nước phải được dành trao tặng cho tất cả những ai có đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển của quốc gia, bất kể đó là ai, ở đâu, miễn là người Việt Nam. Chấm dứt cái gọi là “nhà văn/ nhà giáo/ nghệ sĩ/ doanh nghiệp… quốc doanh”. Đương nhiên hội đồng khen thưởng quốc gia cũng phải mở cửa để xã hội hóa. Chấm dứt quan niệm/ suy nghĩ/ hành xử kiểu “thành phần” hay kiểu “mặt trận”, do “chỉ đạo từ trên”.

Truyền thông thay đổi tâm lí cộng đồng và hình thành những phong trào ủng hộ những hành xử tích cực:

a. Việc chỉ một người vượt đèn đỏ có vẻ như không nguy hiểm so với việc cả đám đông đang dừng trước vạch lằn ranh nhưng thờ ơ, vô cảm với việc đèn đỏ của người kia. Nguy hiểm hơn nữa là những người hiện đang dừng lại trước vạch lằn ranh là do có công an đứng đó hoặc họ có thể vượt bất cứ lúc nào ngẫu nhiên vì một lí do bất chợt nào đó của họ. Do đó điều cần thiết là phải hình thành nên tính tự giác cao của cộng đồng, đó là xây dựng dân trí.

b. Cách thức truyền thông như loa phường hiện nay chỉ làm người dân bực mình hơn chứ chưa thể nói đến khả năng xây dựng dân trí, vì thiếu tôn trọng người dân, và chất lượng thấp của truyền thông kiểu đó. Các cơ quan quản lí nhà nước cần tổ chức những diễn đàn, lễ hội, PR,… phù hợp với ngành và mục tiêu quản lí của mình hơn là tổ chức những phong trào mà thực ra không gây được cảm xúc văn hóa trong công chúng.

c. Những người có trách nhiệm của các cơ quan nhà nước phải phản ứng trước nhất và tích cực trên các phương tiện truyền thông ngay sau khi thấy mình có vấn đề hoặc công luận phát hiện vấn đề. Thời gian vừa qua hầu hết các vụ tiêu cực đều do báo chí, nhân dân phát hiện, ngay sau đó gần như không thấy cơ quan nhà nước phản ứng ngay và tích cực, ngoài việc đưa ra đủ thứ lí do bao biện hay đổ lỗi. Lâu dần tạo nên tâm lí trong cộng đồng là các cơ quan nhà nước “cố thủ”, thiếu cầu thị và tư lợi.

>> Xem tiếp các Suy ngẫm...

LinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay, mâu thuẫn và phương pháp giải quyết

    09/08/2019Nguyễn Tấn HùngThực hiện công bằng xã hội đòi hỏi phải nhận thức và giải quyết đúng đắn, hài hoà các mối quan hệ lợi ích. Song, ở đây lại thường nảy sinh những mâu thuẫn đòi hỏi phải được nghiên cứa và giải quyết. Đó là các vấn đề: 1) Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, 2) Mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Nhà nước, 3) Mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động, 4) Mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
  • Hiện đại hóa xã hội nhìn từ góc độ tính hợp lý

    31/03/2015Nguyễn Kim LaiNiềm tin của con người vào lý tính của mình đã dẫn đến tư tưởng về tiến bộ. Tiến bộ là phát triển, còn phát triển trong lĩnh vực xã hội đối với các xã hội truyền thống là chuyển lên xã hội hiện đại. Do vậy, lý luận hiện đại hóa là lý luận phát triển dành cho các nước kém phát triển. Cũng do vậy, vấn đề hiện đại hóa có liên quan tới vấn đề tính hợp lý mà khoa học là đại diện chủ yếu với tư cách là nội dung và tiền đề của hiện đại hóa.
  • "Phát triển bền vững" nhìn từ góc độ xã hội và văn hóa

    25/09/2014Trần Hữu DũngTừ giữa thập niên 80 đến nay, "phát triển bền vững" đã trở thành một ý niệm thời thượng. Nó là khẩu hiệu của hàng trăm tổ chức quốc tế, đề tài của mấy cuộc hội nghị, hội thảo toàn cầu, và một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết mọi nước...
  • Phản biện xã hội

    12/07/2014Nguyễn Trần BạtQuan sát cuộc sống chúng ta có thể thấy phản biện là một hoạt động diễn ra hàng ngày. Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các quyết định, các hành vi của mình. Trong đời sống xã hội phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ...
  • Phản biện xã hội - nhân tố quan trọng của phát triển

    28/11/2013Kiên ĐịnhPhản biện là hành vi thể hiện tính khoa học của con người trước khi chuẩn bị hành động. Phản biện xã hội được coi là hành vi có chất lượng khoa học của xã hội đối với hệ thống chính trị. Một xã hội được tổ chức phản biện tốt sẽ góp phần tạo ra sự đồng thuận cho phát triển, giảm được tối đa sự phản kháng không cần thiết của dân chúng...
  • Vai trò của nhà nước và vấn đề trách nhiệm xã hội

    16/10/2008Nguyễn Văn ThứcBài viết góp phần làm rõ thêm những nội dung cơ bản của khái niệm trách nhiệm xã hội và vai trò của nhà nước trong việc tổ chức và thực thi trách nhiệm xã hội. Theo tác giả, vai trò đó của Nhà nước thể hiện tập trung ở những điểm: 1) Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động của đời sống xã hội, 2) Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội, 3) Quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...
  • Trách nhiệm

    18/06/2008Nguyễn Đức SơnChưa có bao giờ chữ ‘trách nhiệm’ được nhắc nhiều như bây giờ và cũng chưa bao giờ xã hội cần đến tinh thần đó như hiện nay. Tưởng như là nghịch lý, nhưng chỉ cần lướt qua những vụ việc xảy ra hàng ngày và chỉ trên phương tiện thông báo chí thôi, ai cũng có thể thấy được điều đó...
  • Truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại

    30/05/2008Trần Hữu QuangKhông gian công cộng đóng vai trò trung gian giữa xã hội công dân và Nhà nước, buộc Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước xã hội do “tính công cộng” của nó. Không gian công cộng tự nó mang tính chất phê phán bởi lẽ nó giả định rằng phải có những thông tin về các hoạt động của Nhà nước để công luận có thể xem xét và phê phán các loại hoạt động này...
  • Liên minh Xã hội Mở

    13/11/2007SorosTiến từ cái đặc thù sang cái chung, bây giờ tôi muốn tạo dựng sự biện hộ cho một xã hội mở toàn cầu. Tôi đã kiến nghị một liên minh của các nước dân chủ với mục tiêu kép: cổ vũ sự phát triển của xã hội mở trên khắp thế giới, và thiết lập một số qui tắc nền tảng để chi phối hành vi của các quốc gia đối với công dân của chúng và giữa chúng với nhau. Liên minh Xã hội Mở sẽ phải được các nền dân chủ phát triển lãnh đạo...
  • Giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta

    17/06/2006Nguyễn Tấn HùngVấn đề kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là vấn đề vô cùng phức tạp, đòi hỏi không chỉ cần nắm vững mối quan hệ qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, mà còn cần phải nhận thức và giải quyết tốt những mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ giữa chúng...
  • Trách nhiệm mơ hồ(?!)

    28/12/2005Tô Phán8 vị nguyên là lãnh đạo hoặc là lãnh đạo đương nhiệm ở các cơ quan nhà nước đã giải trình về trách nhiệm trong vụ Nguyễn Đức Chi lừa đảo. Thật trùng hợp, các bản giải trình đều có chung ít nhất 4 điểm cơ bản...
  • Kinh Tế thị trường và Xã hội Công dân như một Hệ thống: Trường hợp Việt Nam

    22/11/2005Vũ Quang Việt, Ph.d. kinh tế, New York UniversityBài viết này thử nhìn kinh tế thị trường và xã hội công dân như một hệ thống và điểm lại tình hình Việt Nam qua một số kết quả nghiên cứu của tác giả về kinh tế Việt Nam đã xuất bản hoặc mới chỉ phổ biến hạn hẹp trong vòng bạn bè...
  • Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự

    11/11/2005GS. Tương LaiKhát vọng về dân chủ và công bằng vốn nung nấu từ lâu trong lịch sử loài người. Có dân chủ mới thực hiện được công bằng, đồng thời công bằng là thước đo của dân chủ và tiến bộ xã hội. Điểm quy chiếu để kiểm nhận về công bằng và dân chủ mà một xã hội đạt được thường tìm thấy dễ dàng trong pháp luật...
  • Thông tin xã hội và vai trò của nó trong quản lý xã hội

    24/08/2005Nguyễn Hữu Đễ (*)Thông tin xã hội có nội dung rất đa dạng và phức tạp. Đối với quản lý xã hội, vai trò quan trọng của nó được thể hiện ở chỗ; Thứ nhất, thông tin xã hội là cơ sở, điều kiện cần thiết để tiến hành quản lý xã hội: thứ hai, tùy theo chất lượng, nó có thể đẩy nhanh hoặc làm chậm tốc độ phát triển của hệ thống xã hội và cuối cùng, quyết định sự thành công hay thất bại của cả quá trình quản lý xã hội.
  • xem toàn bộ

Nội dung khác