Chi tiết về vụ xử Phan Bội Châu 86 năm trước

11:00 CH @ Thứ Năm - 26 Tháng Năm, 2011

Sau khi thoát khỏi nhà lao Quảng Đông của chính quyền quân phiệt Quảng Đông (năm 1917), nhà chí sỹ cách mạng Phan Bội Châu bắt tay vào cải tổ Việt Nam Quang phục Hội (thành lập 1912) thành Việt Nam Quốc dân Đảng, phỏng theo Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn, nhưng công việc đang dở dang thì bị mật thám Pháp bắt cóc tại Thượng Hải ngày 30-6-1925. Thực dân Pháp giải về nước và đưa ra xử ở toà Đề hình, phố Hàng Vôi, Hà Nội ngày 23-11-1925.

I- SƠ LƯỢC DIỄN BIẾN VÀ NỘI DUNG PHIÊN TOÀ

Ngay từ khi có tin Cụ bị bắt, báo chí Bắc Trung Nam đã sôi nổi đưa tin và kiến nghị. Còn không khí ngày xử án được Đặng Thai Mai ghi trong hồi ký[1] như sau: “Sinh viên các trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Thuốc, Trường Lục lộ đã trốn học để đi xem phiên toà”; “khi chúng tôi bước vào phòng toà án, thì người ta đã chật ních cái phòng dành cho người đến xem phiên toà”; “Cụ được hai tên lính sen đầm dẫn vào và ngồi trên ghế bị cáo. Cụ đã già rồi, năm ấy 60 tuổi”.

1. Buổi sáng Toà đọc bản cáo trạng, hỏi cung và cho cụ Phan tự bào chữa

Cáo trạng của Chánh án Bride gồm 8 điều:

1) Khi ở Xiêm và Trung Hoa có lấy tang vật, lấy lời hứa, lấy uy bức, và thủ mưu với tên Phạm Văn Tráng, liệng bom giết quan tuần phủ Nguyễn Duy Hàn, ngày 12-4-1913 ; 2) Cùng trong thời kỳ ấy, địa hạt ấy đã cấp hung khí tức trái bom cho tên Tráng làm việc ấy ; 3) Xui giục và thủ mưu với tên Nguyễn Khắc Cần, liệng bom ở hàng cơm Hà Nội Hôtel ngày 29 Avril (tháng 4) 1913, giết hai ông quan tư Tây là Mongrand và Chapuis ; 4) Cùng trong thời kỳ ấy, địa hạt ấy, cấp bom cho tên Cần làm việc ấy ; 5) Cùng thời kỳ ấy, địa hạt ấy, dự vào âm mưu xui giục nhân dân Bắc Kỳ và Trung Kỳ làm loạn để phá hoại chính phủ bảo hộ ; 6) Cùng thời kỳ ấy, địa hạt ấy, cấp khí giới cho nhân dân về âm mưu ấy ; 7) Cùng thời kỳ ấy, địa hạt ấy, có mưu những việc bạo động để cốt quấy rối sự trị an trong nước và sinh ra nhiều sự rối loạn về chính trị ; 8) Cùng thời kỳ ấy, địa hạt ấy có dự vào việc những hội đảng, mục đích là để làm hại sinh mạng, tài sản tư nhân.

Cụ Phan đã tự biện hộ như sau (tóm tắt):

Nước Nam là một nước chuyên chế, người dân Nam từ lâu rất khổ cực. Những tưởng mở mày mở mặt” khi người Pháp sang bảo hộ, ai ngờ từ đó đến giờ đã hai chục năm mà chính sách không hề thay đổi. Đó là lý do Cụ buộc phải chống lại chính quyền đô hộ Pháp. Cụ nói:

“Tôi là người nước Nam, tôi biết yêu nước Nam, muốn thức tỉnh dân tộc Việt Nam, thấy thế nên sinh ra cái tư tưởng phản đối chính trị. Nếu trong tay tôi có mấy vạn hải quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh, lương túc, súng đạn đủ nhiều thì có lẽ tôi hạ chiến thư, đường đường chính chính đánh lại chính phủ thật đấy. Thế nhưng tôi là một kẻ thư sinh, túi không có một đồng tiền, tay không có một tấc sắt, không lấy võ lực mà phản đối lại được, vậy tôi chỉ dùng văn hóa, nghĩa là trước thư lập ngôn để cổ động nhân dân, yêu cầu Chính phủ cải lương chính trị. Chẳng dè Chính phủ ngờ vực tôi, bắt tôi, tôi phải trốn ra ngoại quốc để hành động cho đạt mục đích của tôi”.

Về phương pháp, Cụ chỉ nhận mình hoạt động tuyên truyền, không nhận mình chủ trương bạo động. Cụ nói: “Tôi có chiêu tập các bạn đồng chí, gom tiền, gom sức, phái người đi du học, và làm sách làm vở gửi về cho nhân dân. Việc làm của tôi là dùng cái lưỡi và ngọn bút, mục đích của tôi là cải lương chính trị, sở chí của tôi là thương dân yêu nước, cử động của tôi là chính đại quang minh. Nếu tôi là người có tội, thì tôi chỉ có bốn tội sau này:

1. Chính phủ sang bảo hộ nước Nam, không ai phản đối mà một mình tôi phản đối, lại muốn cho nước Nam độc lập.

2. Nước Nam xưa nay là chính phủ chuyên chế, mà tôi muốn cho nước Nam thành ra là một dân quốc.

3. Nhà nước cấm không cho người đi du học ngoại quốc, mà tôi trốn đi và rủ người đi ngoại quốc.

4. Tôi trước thư lập ngôn để cổ động dân Nam thức dậy, yêu cầu Chính phủ cải lương chính trị, làm hết cái thiên chức khai hóa của mình”.

Ông Chánh án lại vặn hỏi:

− Cụ phản đối chính trị của Chính phủ bảo hộ, hay là chính trị nước Nam?

“Tôi muốn phản đối chính trị của Chính phủ bảo hộ, còn như nước Nam có nước đâu mà có chính trị cho tôi phản đối”.

“Ấy, tội tôi chỉ có thế, Chính phủ chiếu luật gia hình, bắt tội tôi thế nào, tôi cũng xin chịu, còn những điều trong cáo trạng buộc tội tôi thì tôi không nhận điều nào cả”.

Cụ nói tiếp: “Tôi đâu có làm những việc ám muội như toà đã tố cáo. Tôi ở Trung Kỳ ra đây năm 1905, rồi bỏ đi ngoại quốc, tôi chưa từng về nước lần nào”.

“Thấy đồng bào ngủ say, tôi rung chuông cho đồng bào thức dậy, nhưng vì dậy vội quá, thần hồn nát thần tính, làm những việc bạo động, thì cái đó không phải lỗi ở tôi”

“Tôi cổ động là cổ động cho đồng bào biết hợp quần, biết ái quốc, biết yêu cầu cải lương chính trị, chớ có cổ động nhân dân làm loạn đâu? Vả lại nếu là kẻ có ý muốn làm loạn thì tôi cứ ở ngay trong nước theo Đề Thám cũng có thể làm được, có cần gì phải bỏ vợ bỏ con, bỏ nhà bỏ cửa mà trốn đi ngoại quốc làm gì? Năm 1913 tôi nghe tin buộc tội tôi vào tội tử hình thì tôi vẫn đi lại ở ThượngHải, có sợ gì đâu, vì tôi biết là tôi vô tội”.

Ông chánh án nói:

− Hội đồng Đề hình chỉ xét lại cái án năm 1913 xử vắng mặt Cụ vào tử hình mà thôi, còn việc từ năm 1913 về sau thì không cần nói đến; vậy những tội kia Cụ có nhận hay không thì nói.

Cụ đáp:

− Tôi chỉ nhận có bốn tội như tôi đã nói, ngoài ra tôi không có tội gì khác.

2. Buổi chiều là cuộc tranh luận.

Chánh án Bride tiếp tục phân tích tội trạng của Phan Bội Châu. Ta thấy chính quyền thuộc địa Pháp nắm rất rõ từng hoạt động của Cụ Phan, kể từ khi chiêu tập bạn đồng môn định khởi nghĩa ở Nghệ An lúc còn là anh học trò nghèo vô danh, đến việc viết Lưu Cầu huyết lệ tân thư cổ động danh sỹ và nhân dân đánh Pháp, ra Bắc vào căn cứ Hoàng Hoa Thám, rồi vận động Cường Để và thanh niên xuất dương (phong trào Đông du), rồi qua lại với Tôn Thất Thuyết, với Lưu Vĩnh Phúc ở Quảng Đông, việc cầu cứu Xiêm, Đức như thế nào,… Điều đáng chú là: Trong các chứng cứ kết tội, Chánh án Bride chỉ lướt qua hoạt động thuộc về tuyên truyềntrong một nửa câu: “Bao nhiêu sách cụ viết ra toàn truyền bá cái tư tưởng cừu thù người Pháp…”. Các tội của Cụ là theo cáo trạng cũng như trong phân tích của Bride là nằm ở những hành động sai người đánh bom và kêu gọi làm loạn.

Cụ Phan tiếp tục tự bào chữa. Cụ thừa nhận tất cả các hoạt động tuyên truyền của mình và kết luận: “Trước sau tôi vẫn chủ trương chỉ dùng văn hoá mà phản đối chính trị, văn hoá không xong thì tôi mới dùng đến võ lực. Chính trị còn một ngày bất lương, tôi còn một ngày phản đối”. Còn các cuộc bạo động, cụ coi mình chỉ trách nhiệm “phân nửa”, nghĩa là xét riêng về mặt luân lý thôi, như anh không biết dạy em, để em phạm tội, bố không biết dạy con, để con phạm tội, chứ về mặt pháp luật, không thể là tội của anh, của bố.

Hai trạng sư người Pháp (do chính Toà cử) không những bênh vực cụ Phan mà còn tố cáo thực dân Pháp và công khai bày tỏ lòng cảm mến cụ Phan.

Trạng sư Larre nói: “Cái lịch sử của cụ Phan là cái lịch sử chính sách thuộc địa của nước Pháp ở Đông Dương trong 25 năm gần đây. Cụ là một người theo chủ nghĩa đảng cách mạng, động lòng trắc ẩn, nặng tình yêu nước thương nòi. Lại bị kích thích bởi những điều hà ngược của một triều đình chuyên chế, những điều nhũng lạm của phường tham quan ô lại; việc học thì chậm chạp, hình pháp lại dã man, nhân dân trong nước biết bao nỗi ê chề, đau đớn”. Trạng sư kết luận: “Cụ là người thuần khiết trong những người thuần khiết”, “Cụ vĩ đại hơn hết thảy những người trong dân tộc Việt Nam”.

Trạng sư Bona còn mãnh liệt hơn. Mở đầu đã là những lời ca ngợi nhiệt thành:

“Tôi cảm ơn Hội đồng đã cho tôi tám ngày để xem xét 300 bản hồ sơ. Công việc của tôi là rất khó, rất lấy làm nặng nề, nhưng tôi cũng rất là thoả mãn vì đã được cãi hộ một người mà tôi hâm mộ”.

“Cụ Phan là người quả không hổ là kẻ ái quốc chân chính. Dẫu tôi là người Pháp, đối với cụ Phan, tôi cũng phải hâm mộ. Tôi hâm mộ là hâm mộ cái thân thế quang minh, cái tính tình cao thượng, cái nghị lực bất di, bất khuất, đã từng tỏ ra trong các việc làm của đời Cụ”.

Trạng sư Bona lược lại cuộc đời cách mạng đầy hăng hái và đúng đắn của cụ Phan. Với các hành động mà ngày nay gọi là “quá khích”, Trạng sư cho rằng: “Ở Tàu, Cụ có những bạn đồng chí, hơn Cụ về lòng nhiệt thành, nghĩa là hơn Cụ về sự cuồng dại, và người ta đã buộc cho Cụ những tội của các tay đồng chí ấy. Người ta lấy những giấy thông tư của các toà lãnh sự, những toà sứ thần ra làm bằng chứng, trong những thông tư ấy lại đầy những tin tức của các tay do thám, nghĩa là những tay chỉ biết hám tiền, tìm đủ mọi phương sách buộc tội người để ních cho chặt túi”.

Với những hành động mà ngày nay ta gọi là “đánh bom liều chết” hay “khủng bố” có liên quan đến cụ Phan, Trạng sư Bona bác bỏ với lý do:

“Bảo rằng có những lời cung khai của những kẻ can phạm trong năm 1913 ư? Bao nhiêu trách nhiệm đều muốn đổ cho một người vắng mặt, vì người đó không thể chống cãi được, cái đó là thói thường của thiên hạ… Bảo rằng Cụ đã gây ra những sự nhiễu loạn về chính trị ư? Cụ chỉ là một kẻ đã gieo hạt giống mà thôi. Những hạt giống ấy gặp gió đưa đi, thì Cụ biết đâu được sự sinh mầm kết quả”.

Kết luận, Trạng sư nói: “Cái lý tưởng của cụ Phan, nói tóm lại, là muốn đem đến một tinh thần mới mà sửa đổi lại chính trị ở nước mình”. Theo Trạng sư, tinh thần ấy hoàn toàn phù hợp với lời của Toàn quyền Varenne (vừa được bổ nhiệm) đọc tại Auvergne: “Nếu cái chính sách của ta ở Đông Dương không kịp đem đến một tinh thần mới là cái tinh thần hoà bình, công chính, cải lương mà sửa đổi lại, thì chỉ nay mai là gặp những biến động chẳng khác gì ở Maroc. Xem một câu ấy thì biết được ông Toàn quyền Varrenne với cụ Phan Bội Châu, nếu có ngày gặp tất tâm hợp ý đầu”.

Cụ han đứng lên nói thêm:

Tôi cảm ơn Hội đồng đã đem tôi ra trước mặt công chúng xét xử, lại cử hai trạng sư biện hộ. Giá với chính thể Nam triều (triều đình Huế – HH) thì nguyên một tội phản đối cũng đủ đáng chết còn làm gì có trạng sư cãi hộ, và cũng còn đầu đâu để ra trước Hội đồng”.

3. Kết thúc, Toà tuyên phạt cụ Phan

Kết thúc, Toà tuyên phạt cụ Phan trong tám tội có một tội đáng tử hình, các tội còn lại đáng khổ sai chung thân, nhưng Toà lượng thứ, kết phạt “khổ sai chung thân”. Cụ Phan vẫn nhất định không nhận và chống án. Toà chấp thuận và đưa vụ án lên Hội đồng Bảo hộ. (Vụ án kết thúc lúc 9 giờ tối).

II- HẬU PHIÊN TOÀ VÀ MẤY NHẬN XÉT

Ngày 5-12-1925, Varenne chính thức sang nhậm chức tại Đông Dương. Hàng loạt kiến nghị được gửi đến đòi thả cụ Phan Bội Châu. Ngày Varenne đến Hà Nội được mô tả: “Trên con đường đi từ các phố lớn đến Phủ Toàn quyền, giữa một đoàn hộ tống kéo dài của bọn quan Tây, quan Nam (…), học sinh, sinh viên, thương gia, người lao động đứng đen nghịt trên các vệ đường giăng ngang những băng vải to với hai dòng chữ: “Chào mừng nhà chính trị xã hội chủ nghĩa Varenne. Ân xá cho Phan Bội Châu! Đả đảo chủ nghĩa thực dân tàn bạo!” (Đặng Thai Mai, Sđd). Mấy hôm sau, Varenne đến nói chuyện với sinh viên các trường cao đẳng. Sinh viên đã biến cuộc giao lưu này thành cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ cho Đông Dương. Nguyễn Khánh Toàn (về sau là Chủ nhiệm Uỷ ban KHXH Việt Nam) thay mặt sinh viên đọc một bài “diễn văn nảy lửa, diễn văn đốt nhà” (chữ của Đặng Thai Mai). Ngày 11-12-1925, Hội đồng Bảo hộ xem xét lại vụ án và Varenne đã ký lệnh ân xá cho cụ Phan Bội Châu và quan Trung Kỳ cho xe đến đón Cụ về Kinh (Huế).

Qua vụ án, ta thấy có mấy điều đáng chú ý:

1. Chính quyền thực dân chỉ kết tội hoạt động chống đối bằng vũ trang, không kết tội các hoạt động tuyên truyền. Ngay cả vấn đề vũ trang, chủ trương phải gắn với hành động (chủ trương đã thành hiện thực), thì mới thành tội (xem lại cáo trạng). Những người do ảnh hưởng văn chương tuyên truyền của Cụ mà bạo động thì đó cũng không phải là tội của Cụ. (Xem lại lời tự bào chữa của Cụ và của các trạng sư)

2. Một phiên toà của chính quyền thực dân xử một nhà cách mạng “đầu sỏ” của một dân tộc thuộc địa, một người mang tư tưởng giải phóng dân tộc rất mạnh, nghĩa là nguy hiểm bậc nhất cho nhà cầm quyền, thế mà đã diễn ra rất nghiêm túc, rất đúng luật. Đặc biệt, các bên tôn trọng lẫn nhau, ngoài lý cũng rất có tình, do phía Pháp kính trọng một người Việt Nam yêu nước. Chính cụ Phan cũng chỉ phản đối một số chứng cứ kết tội (thực tình thì Cụ cũng có liên quan các vụ bạo động chống Pháp nhưng xét bằng chứng thì chưa đủ), chứ còn tinh thần của vụ án, Cụ cũng “tâm phục khẩu phục” lắm (xem lời cảm ơn ở trên). Sau khi Varenne ký lệnh ân xá, Cụ còn có lời Tuyên cáo mà nội dung chủ yếu là cảm kích trước tinh thần khoan dung của chính quyền Bảo hộ và tấm lòng quý mến của nhân dân dành cho Cụ. Ví dụ:

“Ngày nay là ngày thứ nhất tôi được tái kiến quốc dân đồng bào ta, mà lại là ngày thứ nhất tôi đã chết đi mà lại sống lại”

“Tiếng oan đã vạch trời kêu thấu, sống thừa may còn đất trùng lai, thuộc về hai phương diện: Chính phủ vẫn có cái đặc ân nhân từ, khoan đại, nhưng mà lòng tinh thành ái quần, ái chủng của anh chị em ta, thật là thần quỷ cũng kinh, đá vàng cũng vỡ, vì thế cho nên tôi đối với hai phương diện đều lấy làm cảm kích lắm lắm”.

Và từ đây Cụ đổi hẳn chủ trương bạo động sang ôn hoà: “Tôi muốn đổi phương châm, chú lực vào cái phương diện sao cho quốc dân ngày thêm tiến bộ, nhưng nghĩ rằng nếu muốn cho trình độ quốc dân ngày thêm tiến bộ, thì phải bắt tay lo đường giáo dục mới được, mà muốn cải lương giáo dục, nếu không có thợ hay thầy giỏi thì cậy ai chỉ vẽ. Người Pháp chính là những bậc thầy, thợ tình cờ gặp gỡ trời đưa sang cho ta đấy”.

3. Khi xét xử cũng như sau khi xét xử, chính quyền còn căn cứ vào ý nguyện của nhân dân chứ không cứng nhắc vào các điều luật. Từ tử hình, giảm còn chung thân, rồi cuối cùng tha bổng là cả một sự thay đổi lớn. Có thể suy nghĩ một hướng khác là chính quyền mỵ dân, nhưng nếu chỉ vì mỵ dân mà giảm án thì họ phải lo sợ sự chống đối sẽ “được đà” chứ? Tuy nhiên, họ đã nghĩ xa hơn: yên dân thì mới cai trị được lâu dài, chứ không thì “già néo đứt dây”, càng đàn áp, càng gặp sự chống đối mạnh hơn.

Và như vậy thì được cho họ nhiều hơn là cho người có tội.

Và còn rất nhiều điều nữa, xin độc giả tự rút ra.

———

Ghi chú: Các trích dẫn và tư liệu trên ngoài phần đã chú đều lấy từ Phan Bội Châu toàn tập, tập 7, Chương Thâu sưu tầm, san định, NXB Thuận Hoá, 2000 ; Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918), NXB Giáo dục, 2003 ; Dương Trung Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919 – 1945), NXB Giáo dục, 2005.

[1]Đặng Thai Mai, Hồi ký, NXB Tác phẩm mới, 1985

FacebookTwitterLinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong chế định về xét xử

    27/08/2019Th.s Đinh Thế HưngNgay từ thời La mã cổ đại người ta đã khẳng định trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định, những tư tưởng này chỉ được các quan toà áp dụng trong tố tụng dân sự. Đây được coi là cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội...
  • Bài học quyền con người, quyền công dân

    29/07/2011Bùi Quang MinhHiểu biết về quyền con người là nền tảng để mỗi người phát triển đầy đủ nhân cách, năng lực của mình và cũng là nền tảng của sự phát triển và tiến bộ của một xã hội. Thế nhưng, "Hàng triệu người sinh ra, rồi chết đi mà không hề biết rằng mình là chủ nhân của các quyền con người..." (Wolfgang Benedek). Kiến thức về quyền con người, quyền công dân quan trọng như vậy cho nên mục tiêu của giáo dục con người phải nhằm "... thúc đẩy sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người..." ...
  • Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông năm 1931

    24/06/2011Bùi Quang Minh (tổng hợp)Câu chuyện lịch sử năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hồng Kông, định dẫn độ cho nhà cầm quyền Pháp để lấy tiền, nhưng sau đó đã bị thất bại thảm hại trước sự giúp đỡ vô tư đầy lòng nhân ái của bạn bè quốc tế. Xin đăng tải một số thông tin về việc bắt giữ, việc xét xử và bào chữa cho Nguyễn Ái Quốc để thấy được công lao của gia đình vị ân nhân - luật sư Loseby, cộng sự của ông đối với một người nước ngoài không quen biết, không tiền để trả thù lao và việc xét xử tại tòa của thực dân Anh 80 năm trước...