Tiếng Việt có chính xác không?

04:17 CH @ Thứ Bảy - 22 Tháng Tám, 2009

>> Tham khảo:Ngô Tự Lập và "Hàn thử biểu tâm hồn"

Có một nhận định được lan truyền rộng rãi và hình nó cũng được nhiều người chấp nhận, cho rằng tiếng Việt không chính xác, hay nói đúng hơn, ngữ pháp tiếng Việt không chính xác bằng ngữ pháp tiếng Pháp, tiếng hoặc tiếng Nga..., tuỳ theo người đưa ra nhận định biết thứ tiếng nào. "Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam" - người ta luôn nhắc lại câu ấy để nói rằng ngữ pháp tiếng Việt rất khó, "chẳng biết đâu mà lần". Rất nhiều bằng chứng được đưa ra, những bằng chứng lẫn lộn với tin đồn nhưng nghe chừng cũng khá thuyết phục, nào là văn bản quốc tế đều phải có một bản bằng tiếng Pháp, bởi chỉ có tiếng Pháp mới đủ độ chính xác để diễn tả các khái niệm phức tạp giúp các bên đề phòng tranh chấp, nào là khi dịch từ các ngoại ngữ khác, bản tiếng Việt bao giờ cũng dài gấp rưỡi, do tiếng Việt không có khả năng diễn đạt súc tích... Điều đáng nói là những nhận định như thế không chỉ đến từ những kẻ "ngoại đạo", mà còn từ các nhà văn, các nhà giáo, kể cả những người dạy ngoại ngữ và đặc biệt là không ít nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Thêm nữa, đôi khi người ta còn coi việc đưa ra những nhận định ấy như thái độ "dũng cảm", "khách quan" hay "khoa học"..., đối lại thái độ tự tôn dân tộc mù quáng, chỉ biết có tiếng Việt là giàu và đẹp.

"Dũng cảm" thì có thể, nhưng "khách quan" và "khoa học" thì cần phải xem xét. Theo tôi, nhận định nói trên phản ánh một định kiến, hay thậm chí là mặc cảm tự ti, rất không nên có. Ngữ pháp tiếng Việt không chính xác hơn nhưng cũng không hề kém chính xác so với ngữ pháp tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Anh hay bất kỳ thứ tiếng nào khác trên thế giới. Bằng chứng là chúng ta vẫn dùng tiếng Việt để trao đổi, làm ăn, học tập, sáng tác văn học... mà chẳng hề gặp sự hiểu lầm nào về mặt ngữ pháp. Nếu bạn có thể đưa ra những ví dụ về sự mập mờ của tiếng Việt thì tôi cũng luôn luôn có thể đưa ra những ví dụ về sự mập mờ của các thứ tiếng khác. Đơn giản là vì sự mập mờ, "thiếu chính xác" như thế không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà còn rất cần thiết trong mọi thứ ngôn ngữ. Chính nhờ sự mập mờ như thế mà chúng ta có thể chơi chữ, có thể có chuyện cười, ngụ ngôn, có thể làm thơ và rất nhiều thứ khác nữa. Cuốn tiểu thuyết The Glound Beneath her Feet của Salman Rushdie chẳng hạn, khi dịch sang tiếng Pháp thành La Terre sous ses pieds thì người đọc không cách nào đoán được "ses pieds" là chân nàng hay chân chàng, trong khi điều đó hoàn toàn rõ ràng khi dịch sang tiếng Việt. Ví dụ khác. Trong tiếng Anh, khi nghe câu "We are Vietnamese" chúng ta hoàn toàn không thể biết "We" là "chúng ta" hay "chúng tôi", trong khi "Chúng tôi là người Việt""Chúng ta là người Việt" là hai câu hết sức khác nhau.

Tôi không phủ nhận rằng trong tiếng Việt có những hiện tượng ngữ pháp rất khó giải thích, và bản thân tôi cũng từng vấp phải rất nhiều khó khăn trong khi chuyển ngữ các loại văn bản khác nhau. Vậy vấn đề nằm ở chỗ nào?

Theo tôi, cái gốc của vấn đề là sự nhầm lẫn rất phổ thông giữa hai khái niệm ngữ pháp và ngữ pháp học. Ngữ pháp, nói một cách đơn giản, là các quy luật liên hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau, còn ngữ pháp học là môn khoa học nghiên cứu và mô tả các quy luật ấy.

Ngô Tự Lập sinh tại Hà Nội năm 1962. Ông là biên tập viên văn học nhà xuất bản Quân đội Nhân dân (1993 – 1998), và nhà xuất bản Hà Nội (1998-2000). Ông bảo vệ luận án Thạc sĩ (DEA) tại École Normale Supérieure de Fontenay/St. Cloud (Pháp), 1996 và Tiến sĩ (PhD) tại Illinois State University (Hoa Kỳ, 2006). Bắt đầu sáng tác năm 1989, ông làm thơ, viết truyện ngắn và tiểu luận, dịch tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Anh. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam và Hội nhà văn Hà Nội.

Hiện ông đang công tác tại Khoa Quốc tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Ông dạy Lý luận và Phê bình Điện ảnh, Lý luận Văn học và Social and Business Communication (Tiếng Anh)

Ông là một trong những người đồng sáng lập Nhà xuất bản Tri Thức, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và trang Sachhay.com, cũng là một trong những trí thức khởi xướng phong trào dịch thuật và truyền bá tinh hoa trí tuệ nhân loại vào Việt Nam.

>> Trang tác giả: Ngô Tự Lập

Ngữ pháp là cái quan trọng nhất để phân biệt các thứ tiếng khác nhau, cũng như để phân loại các ngôn ngữ trên thế giới. Sự khác nhau rất lớn giữa ngữ pháp tiếng Việt ngữ pháp tiếng Hán không chỉ là một bằng chứng không thể chối cãi về tính độc lập của nền văn hoá Việt Nam, mà theo tôi còn là nhân tố quan trọng nhất khiến cho người Trung Hoa thất bại trong âm mưu đồng hoá của họ. Đó chính là lý do vì sao tôi viết trong một bài khác rằng "Bản sắc người Việt là tiếng Việt".

Xin trở lại với đề tài của chúng ta. Ngữ pháp của các thứ tiếng hình thành một cách tự nhiên và khả năng tiềm tàng của chúng là hoàn toàn như nhau, đơn giản là cuộc sống trên trái đất này nó là một, con người là một, trái đất là một - chúng ta thở chung một bầu khí quyển, sưởi chung một mặt trời và ngắm chung một mặt trăng… Mọi nhận thức của chúng ta xuất phát từ cùng một cơ sở hiện thực, chính vì thế không vì lý do gì mà một kỷ niệm trong một cộng đồng này lại không thể tồn tại ở cộng đồng kia. Đây là một tiền đề mang tính nền tảng và công việc dịch thuật: nó ngụ ý rằng việc dịch thuật là trong bất cứ trường hợp nào đều có thể, và câu nói "Dịch là Phản" chẳng qua là cách tự ru ngủ của những kẻ bất tài hoặc lười biếng mà thôi.

Tất nhiên, các khái niệm có thể xuất hiện sớm hay muộn, phụ thuộc vào trình độ phát triển của các cộng đồng, trong đó có khả năng khai thác những khả năng ngữ Pháp. Ở cấp độ từ, sự lệch pha có thể được giải quyết không mấy khó khăn bằng cách tạo ra từ mới hoặc vay mượn. Nhưng ở những cấp độ ngữ pháp phức tạp hơn, nó cần đến sự chín muồi tự nhiên của xã hội, trong đó có vai trò đột phá của tầng lớp tinh hoa. Trong nhiều trường hợp, các dịch giả đóng vai trò những người mở đường.

Ngữ pháp học, trái lại, không phải tự nhiên mà có. Ngữ pháp học là kết quả nghiên cứu của những người mà nay ta gọi là nhà ngữ pháp học, tức là những người nghiên cứu các mối liên hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ và khái quát hoá chúng thành các quy luật để người ta có thể chủ động trong việc sử dụng chúng. Mọi thứ tiếng đều có ngữ pháp, nhưng chỉ có một số không nhiều thứ ngôn ngữ có được khoa ngữ pháp học của riêng mình. Người Ấn Độ có lẽ đã nghiên cứu ngữ pháp sớm nhất, khoảng gần 3000 năm về trước. Tiếng Việt không có được may mắn ấy. Kể từ những cố gắng đầu tiên của những người như Trương Vĩnh Ký, chúng ta đã chẳng tiến được bao nhiêu trong việc nghiên cứu những đặc thù của ngữ pháp tiếng Việt. Thay vì việc đó, để mô tả ngữ pháp Việt Nam, chúng ta vay mượn những quy luật ngữ pháp của các tiếng khác. Với những thước đo khiên cưỡng như thế, ngữ pháp tiếng Việt trở nên lỏng lẻo là điều hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng chúng ta cứ thử hình dung, nếu chúng ta xây dựng được một ngành ngữ pháp học tiếng Việt phát triển, có khả năng mô tả chính xác những quy luật ngữ pháp tiếng Việt, và chúng ta dùng các quy luật ấy để mô tả tiếng Pháp, tiếng Anh. Chắc chắn khi ấy chúng ta sẽ thấy tiếng Pháp, tiếng Anh là không chính xác.

Cuối cùng, để kết thúc, tôi muốn đề cập đến một khía cạnh khác. Chúng ta thường nghe nói rằng tiếp Việt chúng ta rất giàu và đẹp. Theo tôi, chúng ta quyền tự hào về vẻ đẹp của tiếng Việt, nhưng sẽ hết sức sai lầm, thậm chí lố bịch, nếu nói rằng tiếng Việt đã hơn những thứ tiếng khác. Chúng ta tự hào về tiếng Việt như thế nào thì người Pháp cũng tự hào về tiếng Pháp như thế. Điều đó cũng giống như việc chúng ta ai cũng yêu mẹ mình. Vậy còn vế thứ hai, tiếng Việt có giàu không? Theo tôi, tiếng Việt đã khá phong phú, như chưa thể nói là giàu. Trong một bài thơ, tôi viết về điều đó: "Tiếng Việt nghèo nhưng đẹp như một dòng suối nhỏ". Tiếng Việt còn nghèo bởi vì hiện thực của chúng ta còn nghèo, đời sống vật chất và tinh thần của chúng còn lạc hậu, và quan trọng nhất là kho tàng trí tuệ của chúng ta - số lượng các công trình văn học, triết học, sử học... của chúng còn quá ít ỏi. Tuy nhiên, giàu nghèo chỉ là chuyện nhất thời. Nghèo có thể trở thành giàu. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tiếng Việt đã phát triển vượt bậc nhờ nỗ lực quyết liệt của những học giả như là Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh... và hàng loạt nhà văn xuất sắc. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của trí thức hiện nay là tiếp tục làm giàu cho tiếng Việt, đồng thời xây dựng một ngành ngữ pháp học tiếng Việt có khả năng mô tả chính xác các quy luật ngữ pháp của nó. Chỉ có như vậy, tiếng Việt mới có thể thực sự phát huy hết tiềm năng của nó.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Bồ Đào Nha và công trình sáng chế chữ Quốc ngữ

    20/04/2016Roland JacquesLàm sao quên được công trình vĩ đại mà các vị tiên phong của công cuộc truyền giáo tại Việt Namđã thực hiện? Những điều mà các vị truyền giáo dòng Tên đến từ Bồ Đào Nha, do Bồ Đào Nha gửi đi, đã thực hiện trong phạm vị ngữ học kỳ cùng là những công trình có tính cách quyết định cho tương lai văn hóa Việt Nam...
  • Lộn xộn tiếng Việt thời giao lưu văn hóa

    10/10/2015Vương Trí NhànVới một niềm tin dai dẳng, các phương tiện thông tin đại chúng ở ta thường không mệt mỏi trong việc nhắc nhở mọi người là phải giữ gìn bản sắc dân tộc, hoặc trong ngôn ngữ thì nhắc nhau là phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Vậy mà mọi chuyện cứ diễn ra theo hướng ngược lại, tại sao lạ vậy?
  • Về một số thuật ngữ triết học, chính trị - xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài

    27/08/2013Nguyễn Tấn HùngTrao đổi về một số thuật ngữ triết học, chính trị - xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài, trong bài viết này, tác giả đã khẳng định cách phiên âm tên địa phương và tên người ra tiếng Việt tuy đã có nhiều đổi mới, nhưng vẫn còn chưa thống nhất; việc phiên dịch các thuật ngữ thì một số thiếu chính xác, một số sai cơ bản, một số khác tuy không sai nhưng cũng cần phải tìm hiểu mới có thể sử dụng đúng được.
  • Dịch giả Cao Xuân Hạo: Giới trẻ đang học cái thứ gần 100%... không phải là tiếng Việt

    04/11/2012Chỉ thương cho những người Việt nhỏ tuổi sẽ bắt chước kiểu nói ngô ngọng giống mấy ông Tây học tiếng Việt 3 tuần mà quên dần những phương tiện diễn đạt trau chuốt, chính xác và tinh tế của tiếng mẹ đẻ, cho đến khi đọc Kiều hay thơ Xuân Diệu không còn chút khả năng rung đùi nào nữa - nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo đã phải thốt lên như vậy trước bi kịch ngôn ngữ Việt Nam hiện đại...
  • Sách dạy tiếng Việt và tiếng Việt thật

    05/08/2009GS. Cao Xuân HạoĐến bao giờ sách giáo khoa tiếng Việt mới dạy thứ tiếng Việt mà hơn 70 triệu người Việt đang nói hàng ngày, chứ không phải thứ “tiếng Việt” giả tạo sao chép một cách máy móc từ sách cũ dùng để dạy tiếng Pháp cho dân thuộc địa?
  • Tiếng Việt - Những công lao bị quên lãng

    08/07/2009Cao Xuân HạoTrong lịch sử của ngành Việt ngữ học, ông là một trong những tác giả ít bị những định kiến "dĩ Âu vi trung" chi phối hơn cả, nhất là khi đem so với sách học tiếng Việt ngày nay. Kể cho đến bây giờ, ít có cuốn sách nào cung cấp cho ta nhiều thông tin về ngữ pháp tiếng Việt như mấy cuốn sách không lấy gì làm dày của ông. Trong mấy cuốn này không thiếu những phát hiện quan trọng mà ngày nay chẳng mấy ai nhắc đến, trong khi lẽ ra nó phải được những người đi sau tiếp thu và khai triển, đào sâu hơn nữa.
  • Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

    14/05/2009Hoàng CúcSinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn chú trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục nhân dân phải làm cho tiếng nói, chữ viết ngày càng thêm đẹp, thêm phong phú, hiện đại…
  • Phản biện PGS. Hà Quang Năng

    10/01/2009Trần Quang ĐạiTrước hiện tượng những từ “lạ” xuất hiện ngày một nhiều, PGS Hà Quang Năng cho rằng đó là sự “sáng tạo” làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, là một hiện tượng bình thường, “dễ thương” và không nên “từ chối”.
  • xem toàn bộ

Nội dung khác