Hồi ký “Phật sống” Lưu Công Danh

Nguyễn Thị Thanh Xuân ghi năm 2003
11:27' SA - Thứ ba, 28/07/2015

TẤM GƯƠNG CỤ LƯU CÔNG DANH (1900-2003)

Ở Kiên Giang có một con người mà cuộc đời luôn có những thăng trầm, biến đổi, từ đi tìm kế sinh nhai, qua nhiều nước, tới việc tu hành thành Phật, trở về, tham gia kháng chiến, đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là cụ Lưu Công Danh, được nhân dân gọi bằng cái tên trìu mến: “Ông Phật sống đi làm cách mạng”. Chuyện về ông như một huyền thoại nhưng rất thật, được người đời mến mộ.

Năm 2003 này, cụ Lưu Công Danh tròn 103 tuổi *). Cụ đã sống, lao động, phấn đấu hơn một thế kỷ. Cụ là người có tinh thần yêu nước thương dân nồng nàn, ghét cay ghét đắng mọi áp bức bất công. Hơn một thế kỷ qua, cụ đã đi qua nhiều nước trên thế giới, chịu biết bao gian khổ, trong đó phần lớn thời gian dành cho tu Phật, cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang và cho nghề Y cao quý.

Cuộc đời và tấm lòng của cụ Lưu Công Danh thật cao quý, đáng để cho mọi người học tập, noi theo. Vì thế, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên giang chủ trương viết và xuất bản quyển hồi ký ghi lại chuyện cuộc đời cụ. Đây có thể xem như một tác phẩm văn học bởi sức hấp dẫn của các sự kiện và bởi tính trung thực cao khi ghi chép lại cuộc đời cụ, một nhân vật có thật nhưng quá đặc biệt cả về cuộc sống, sự nghiệp lẫn tính cách.

Cuốn hồi ký “Phật sống” Lưu Công Danh có thể còn chưa thật đầy đủ do được thực hiện trong lúc tuổi của cụ Lưu Công Danh đã rất cao, sức khỏe đã giảm sút. Tuy nhiên, với tấm lòng trân trọng đối với một con người đã có nhiều cống hiến cho đời, cho sự nghiệp cách mạng, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang xin trân trọng giới thiệu với đồng chí, đồng bào trong ngoài tỉnh, với bạn đọc gần xa tập sách quý này!

Thị xã Rạch Giá, Kiên Giang, ngày 01-1-2003

Trương Quốc Tuấn

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh Ủy Kiên Giang

*) 19 giờ ngày 31-5-2003 Phật sống Lưu Công Danh từ trần, thọ 103 tuổi. Cuộc đời ly kỳ, làm phúc cứu đời, yêu nước sẵn sàng xả thân của ông để lại niềm thương tiếc lớn lao đối với người dân.


ĐÔI LỜI CÙNG BẠN ĐỌC

Tôi may mắn là người sống qua 2 thế kỷ: Thế kỷ 20 đầy biến cố, đau thương nhưng vô cùng anh dũng và vẻ vang của dân tộc. Thế kỷ 21, đất nước đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa với tương lai cất cánh hóa rồng. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết hồi ký về cuộc đời mình, mà lại viết ở tuổi Một trăm lẻ thì lại càng khó khăn, vì ở tuổi này người ta hay quên, nhớ bất thường. Thế nhưng, cuộc đời có những điều mình không nghĩ, rồi hoàn cảnh đặt mình ở một vị trí nào đó, mà vị trí ấy có liên quan đến lịch sử, đến cái chung, thì dù không muốn, cũng phải làm vì trách nhiệm.

Do đó, tôi viết hồi ký về cuộc đời tôi, không phải vì sự phô trương, nổi tiếng của mình, mà chính vì cái lớn lao là tôi từ một con người bình thường, do hoàn cảnh đất nước và hoàn cảnh lịch sử đã trở thành con người “nổi tiếng” như anh em quen biết trước đây và nhà văn Phạm Tường Hạnh – một nhà văn đã gần 90 tuổi – người đã viết lý lịch cho tôi 50 năm về trước và đã viết về tôi như huyền thoại của “vua Phật đi kháng chiến”. Còn tôi, ở cuốn hồi ký này, tôi chỉ muốn nhận về mình: một con người bình thường do lịch sử sinh ra và chính cách mạng và Đảng đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Nhờ Đảng và cách mạng, tôi đã trở thành một Lưu Công Danh có ích cho đời.

Hôm nay, ở tuổi 102, Đảng bộ và nhân dân Kiên Giang đã tạo điều kiện cho tôi có tập hồi ký này. Tôi lấy làm cảm kích và vô cùng biết ơn. Dù có nhiều điều đã quên do tuổi tác, nhưng có những điều hằn sâu trong tâm trí và đã khắc cốt, ghi xương, thì không thể nào quên…

Chương 1. QUÊ HƯƠNG VÀ THỜI NIÊN THIẾU

Tôi lớn lên, nghe ba tôi kể: Ông nội tôi là người Quảng Đông, tên Lưu Vàng, qua Việt Nam lúc còn nhỏ, sống ở Cần Thơ. Ông nội tôi gặp bà nội tôi là người Việt, tên Trần Thị Én, ở tổng Thới Bảo (xã Trường Thành, huyện Ô Môn, Cần Thơ) khoảng năm 1840. Ba tôi sinh ra tại đây, nhưng khi lớn lên, đi theo ông nội tôi ở dưới xáng múc(1). Ông nội tôi làm nghề nấu ăn cho các thợ xáng múc người Việt và người Pháp. Cuộc sống dưới xáng không ổn định một nơi nào, thường lênh đênh trên sông nước.

Ông nội tôi người hiền lành, nhưng rất nghiêm khắc. Ông đặt cho ba tôi tên Lưu Tấn Thành, với hy vọng con mình sẽ thành đạt trên đường đời. Ba tôi ảnh hưởng tính cách của ông nội tôi: chịu khó lao động, làm việc siêng năng, kỹ lưỡng. Thấy ba tôi chịu khó, ông nội tôi gởi ba tôi theo một chiếc xáng để làm các công việc lặt vặt và học nghề. Mấy người lớn thấy ba tôi chịu khó làm việc, họ cho ba tôi theo ruồng rừng, phóng kênh cho xáng múc ở Long Xuyên, Rạch Giá – kênh Hà Tiên. Cùng làm việc trên xáng với ba tôi, có một người thợ xáng học rất giỏi, nói được tiếng Pháp. Người này quê ở xứ làm gạch Năng Gù – Long Xuyên. Ông thấy ba tôi hiền lành, tận tình chỉ dạy nghề cho ba tôi và dạy ba tôi học. Có lẽ hiểu cuộc đời tha hương, tự lập của ông nội tôi, nên ba tôi đã quyết chí học tập cho thành nghề thợ xáng qua sự chỉ dạy của người bạn, để nuôi sống gia đình. Người bạn lấy làm cảm mến ba tôi, ông mai mối cho ba tôi làm quen với người em ruột của mình là Huỳnh Thị Hương. Duyên nợ đẩy đưa, hai người nên vợ nên chồng. Khi ba tôi cưới má tôi, ba tôi chính thức làm công coi máy dưới xáng, rồi sau đó làm thợ cả.

Vì là thợ cả, nên chủ xáng cho gia đình tôi đươc làm một phòng tạm trên xáng cho tiện sinh hoạt. Người anh cả của tôi Lưu Quang Nên, sinh năm 1898 trên xáng, hai năm sau, tôi cũng được sinh ra dưới xáng. Má tôi kể: Bà được ông nội và ba tôi truyền lại nghề nấu ăn các món Tàu, món Tây, bà nấu rất khéo. Do đó, khi chủ xáng cần các bữa tiệc cho người Tây hoặc cho khách, má tôi thủ vai một người thợ nấu ăn không thua đầu bếp có tiếng là ông nội tôi. Ở trên xáng ăn uống không thiếu thốn, nên khi mang thai tôi, má tôi thèm ăn món gì cũng dễ tìm, nên tôi đươc nuôi đầy đủ từ còn trong bụng mẹ. Bà nội tôi đỡ đẻ rất giỏi, má tôi được bà nội tôi và một người mụ vườn đỡ đẻ dưới xáng vào chiều 29 tháng chạp năm 1900. Má tôi kể: Tôi tôi sinh ra, nặng hơn bốn ký lô, ngực nở, tiếng khóc rất to. Bà mụ nói: “Thằng này phổi lớn, khóc khỏe, chân tay dài, dễ nuôi”. Ông nội tôi rất vui mừng vì có con trai và 2 cháu nội trai sẽ nối nghiệp nghề xáng. Nhưng khi xem tuổi của tôi và ba tôi, ông nội tôi nói: “Thằng nhỏ này khắc tuổi mày (tức ba tôi), nếu không dạy kỹ lưỡng, nó ngỗ nghịch lắm”. Bà nội tôi cự lại, vì tôi còn nhỏ mà bị ông xem tướng, xem tuổi, nói điều không hay ho gì cho lắm. Còn má tôi thì đượm buồn, có lẽ bà tin sách số của ông nội tôi?

Trong quá trình theo xáng từ Long Xuyên qua Rạch Giá, nhất là khi tham gia ruồng rừng, phóng kênh cho xáng đào, ba tôi để ý một vùng đất hoang vu là Mốp Giăng (xã Mỹ Lâm, thuộc tổng Kiên Hảo, quận Châu Thành, nay là xã Mỹ Hiệp Sơn – huyện Hòn Đất). Thế là ông đã quyết định đến đây khai khẩn đất hoang vào khoảng năm 1905-1907. Mặc dù đến đây khai khẩn đất hoang, nhưng ba tôi vẫn làm thợ cả cho xáng và tham gia đào kênh Rạch Giá – Hà Tiên và kênh Cái Sắn vào những năm 1920-1924. Do đó, tôi có một quê hương chính là nơi ba tôi đến khai khẩn đất hoang ở kênh Móp Giăng, xã Mỹ Lâm, để rồi tại nơi đây có một dòng họ Lưu duy nhất là gia đình tôi. Mộ tổ họ Lưu: ông bà nội tôi, ba, các cô, chú của tôi đều được an táng tại mảnh đất này. Ba tôi mất năm 1948, khi tròn 66 tuổi.

Tuy có một quê hương là Mỹ Hiệp Sơn, nhưng thời thơ ấu của tôi không được sống ở làng quê, mà chủ yếu sống trên những chiếc xáng cùng cha. Má tôi có tám con, sinh năm một, sau tôi còn đến sáu người em nữa. Kể tôi và anh cả tôi, thì tôi có 8 anh em. Lương thợ cả của ba tôi chỉ đủ gói ghém gia đình. Bà may cho mỗi người con hai bộ áo quần. Thời đó, nhiều gia đình phải mặc quần bao áo bố, gia đình tôi như vậy cũng gọi là tạm no đủ. Nhưng tính tôi hiếu động, hay nghịch phá, lội dưới sông như ráy cá, áo quần lúc nào cũng ướt, nên má tôi cho tôi ở truồng. Sau này má tôi kể: khi 7-8 tuổi, bắt mặc quần, tôi khóc, phải đánh đòn mới mặc. Má tôi rất thương tôi, còn ba tôi hay la rầy vì tôi nghịch ngợm. Tuy vậy, những gì ông làm dưới xáng, ông đều tập tành cho tôi từ khi tuổi thơ. Sau này lớn khôn, nối nghiệp cha và có nghị lực để vượt qua những thử thách gay go của cuộc đời, chính nhờ tôi có một tuổi thơ gian khó và đầy thử thách như vậy.

Chương 2. CHA TRUYỀN CON NỐI VÀ NHỮNG BIẾN CỐ TRONG GIA ĐÌNH

Khoảng năm 1921, phần đất ba tôi khai khẩn khoảng hơn 300 công tầm lớn2 ở Mốp Giăng đã hoàn chỉnh. Má tôi và người anh lớn cùng mấy em tôi cai quản phần đất này. Tôi và ba tôi vẫn theo xáng.

Dù là công nhân, nhưng ba tôi vốn là người học nho, nên rất trọng lễ nghĩa, còn tôi thì không tuân theo kỹ luật gia đình, hay cự cãi với ba tôi, vì tuổi trẻ hiếu thắng, lại có tính ngang bướng, nên ba tôi nói thế này, tôi làm thế khác theo ý tôi, cũng chung quanh việc làm thôi. Thấy hai cha con cứ lục đục mãi, mọi người càng tin theo sách số ông nội tôi coi trước đây. Tôi thì không tin gì hết. Ông nội tôi rất thương ba tôi và cũng rất thương cháu nội, nên ông khuyên ba tôi truyền nghề “cặp rằn” (coi xáng) cho tôi và gởi tôi theo một xáng khác. Lúc đó, Rạch Giá có mấy chiếc xáng-măng, xáng-oong, xáng-la. Ba tôi gởi tôi theo xáng-la để làm cặp rằn. Công việc của tôi là thổi tu huýt, chạy qua chạy lại định hướng cho xáng múc đổ đất lên bờ.

Bắt đầu cuộc sống độc lập, tôi mới có dịp ngẫm nghĩ lại mình và nhớ lại cuộc sống gia đình. Tôi bắt đầu ý thức được tình thương của mẹ của cha. Ba tôi thấy tôi làm việc chí thú, nên người, ông lấy làm mừng lắm. Dù không học nho như ba tôi, nhưng tôi cũng tìm thầy dạy để học chữ trên xáng. Có lúc không làm xáng, tôi theo bạn bè đi làm vó đặt cá, làm rọ, nò đặt tôm, tép. Lúc ấy rừng rậm, kênh rạch đầy tôm cá. Bạn tôi rất nhiều thành phần, đứa biết võ, đứa biết chữ, đứa nào biết gì, cũng dạy cho nhau. Tôi học được rất nhiều thứ nơi bạn bè. Ba tôi thường xuyên hỏi han, biết tôi sửa đổi tính nết, ông mừng lắm. Ông tìm qua chỗ tôi làm, cha con tâm sự, ông động viên tôi, ông hỏi tôi muốn cưới vợ không, ông sẽ lo cho để về quê quản lý ruộng đất với má tôi. Tôi ậm ờ, ba tôi không nhắc lại chuyện vợ con cho tôi, mà nói sang chuyện làm ăn ở nhà. Một đứa con mang tiếng là ương bướng, nhưng lòng tôi cũng mềm đi khi cảm nhận được tấm lòng của cha mẹ, nhất là ba tôi, từ một anh thợ quèn, nay là thợ cả, rồi có trong tay vài trăm công đất từ công sức lao động mà có, tôi càng thương ba tôi. Tôi hỏi ông:

– Ba còn từ con không?

Ông xoa đầu tôi, mắt chớp chớp:

– Tiên tổ mày, nếu không từ, mày đâu có nên người. Giờ thì còn từ gì nữa, ráng nên người để mà lo vợ con, 23 tuổi rồi chớ nhỏ nhít gì.

Sau này, cuộc sống có nhiều biến cố, nhiều lúc ôn lại quãng đời mình, đây là một trong những kỷ niệm với ba tôi làm tôi cảm động và nhớ nhất. Khi đất đai thành khoảnh ở Mỹ Lâm, ba tôi cho lập một đình thờ thờ Bà Chúa xứ và đình thờ Thần Hoàng, tại đầu kênh Mốp Giăng (hai đình nằm trên hai bờ kênh). Tôi nghe người lớn kể lại, ba tôi cho lập đình khoảng năm 1923-1927 gì đó. Riêng đình thờ Thần Hoàng, sau này ba tôi làm một lễ rước vong linh người anh hùng chống Pháp Nguyễn Trung Trực về thờ. Để che mắt thực dân Pháp, trong đình không có bài vị ông Nguyễn Trung Trực, mà chỉ thờ chung Thần Hoàng và vong linh các chí sĩ anh hùng yêu nước. Ba tôi hay kể về khí phách hiên ngang của ông Nguyễn Trung Trực mà ông đã nghe người lớn kể lại. Hiện nay, bà con ở Mỹ Hiệp Sơn vẫn gọi đình này là đình thần Nguyễn Trung Trực và vào các ngày rằm, 30 hàng tháng, các rằm lớn, đặc biệt là ngày giỗ Ông, bà con trong làng đến thắp hương, tưởng niệm.

Vì là một trong những người đến Mốp Giăng sớm nhất khai khẩn đất và có công lập đình, hơn nữa, dòng họ Lưu của tôi cũng có vị thế trong xã hội: ông nội tôi đi làm xáng, ba tôi cũng làm xáng, tham gia đào hai kênh xáng Hà Tiên và Cái Sắn, quen lớn rộng rãi nên ba tôi được dân làng cử làm Hương cả và bà con Mỹ Hiệp Sơn gọi ba tôi là cả Thành. Mỹ Hiệp Sơn thuở ấy đất rộng người thưa, đất mới khai khẩn thật mầu mỡ. Ruộng nhà tôi năm nào cũng trúng. Ba tôi cho làm nhà kho chứa lúa. Má tôi là một phụ nữ giỏi giang, chịu khó, bà đã lo cai quản toàn bộ công việc gia đình: từ lo việc ngày mùa, việc quản lý gia sản, nuôi dạy con cái và luôn luôn chu đáo nhà cửa. Má tôi rất có tay chăn nuôi. Phía sau kho lúa, ba tôi cho xây một chuồng heo rất rộng. Trong chuồng lúc nào cũng có từ ba, bốn chục con heo lớn. Còn gà vịt thì đếm không xuể.

Khi ba tôi làm hương cả, nhà thường xuyên có khách khứa. Cứ vài ngày là làm một con heo đãi khách. Má tôi làm việc nhà từ sớm tinh mơ đến chín, mười giờ đêm mới nghỉ ngơi. Khi tôi và ba tôi ở xáng về, mấy bà con ở xóm khoe: “Bà cả Thành làm việc cả ngày, tay không lúc nào khô”. Họ nể phục má tôi vì đức tính cần cù lao động và nhân từ. Có lẽ vì những năm tháng sống cùng ba tôi rày đây mai đó trên sông nước, bà nếm đủ vất vả, nhọc nhằn, nhất là những lần vượt cạn trên sông nước bềnh bồng, người đàn bà nào không khao khát một mái nhà. Cho nên, khi có nhà cửa, đất đai thẳng cánh cò bay, bà không bao giờ tỏ ra mình là bà chủ, bà cả, mà rất bình dân. Công việc nhà bận rộn, đăng đăng như vậy, nhưng khi trong làng có ai sinh nở, đến rước, má tôi bỏ dở công việc đi liền. Bà hay nói câu cửa miệng: “Đàn bà đi biển mồ côi một mình. Ráng giúp người ta để tạo phước cho con cái. Ngày xưa má sinh trên xáng, cũng có người sẵn lòng giúp, bây giờ, má trả lại”. Vì vậy, ở Mỹ Hiệp Sơn, có người gọi má tôi là bà Cả Thành, nhiều người gọi má tôi là mụ Hương.

Khoảng năm 1927, người anh lớn của tôi là Lưu Quang Nên bị giặc Pháp bắt vì bị tình nghi có dính líu đến tổ chức chính trị. Lúc bấy giờ, tôi đã được nghe tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, nghe tên tuổi các anh Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, nhưng tôi không có cách nào liên hệ được với tổ chức này. Lúc ấy đang có phong trào đòi xóa án tử hình cho cụ Phan Bội Châu và để tang cho cụ Phan Chu Trinh. Các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, trí thức tham gia rất sôi nổi. Ở Châu Đốc, Long Xuyên, nhiều nhóm thanh niên được giác ngộ cách mạng qua tổ chức thanh niên cách mạng đồng chí Hội, tham gia vào nhiều hoạt động yêu nước. Tôi theo họ và bắt đầu hiểu các khái niệm “đế quốc, thực dân”, “giải phóng dân tộc”. Tuy các khái niệm còn mơ hồ và chưa có một tổ chức nào trực tiếp hướng dẫn, lãnh đạo, nhưng ý thức của thanh niên, lòng căm ghét chế độ thực dân đã hình thành trong tôi. Các bạn tôi cũng tỏ rõ thái độ này. Lúc bấy giờ, mật thám Pháp dày đặc, chúng lùng sục khắp nơi, tìm bắt bớ những người yêu nước và cách mạng. Ba tôi không ngăn cản tôi và anh tôi tham gia các phong trào của thanh niên, mà ông còn kể chuyện Bác Tôn Đức Thắng kéo cờ trên chiến hạm tham gia phản chiến của các thủy thủ phản đối Chính phủ Pháp, lòng căm ghét thực dân ức hiếp dân mình; ông còn biết cả truyện con Rồng tre của Nguyễn Ái Quốc. Tôi biết chính ba tôi đã hướng tôi đến một con đường sống có lý tưởng; ông gieo vào lòng tôi một tình cảm mới mẻ và ông cũng biết anh trai tôi đã đến con đường đó – tổ chức cách mạng. Sau đó, giặc Pháp giết chết anh Lưu Quang Nên của tôi và người em trai kế tôi là Lưu Văn Muôn cũng hy sinh.

Lúc bấy giờ tôi không nghĩ gia đình mình đã trở thành gia đình cách mạng, nhưng hai người thân trong gia đình đã chết vì nghĩa lớn, đó là điều vinh dự. Má tôi đau vật vã. Không ai bỏ má tôi cô đơn trong nỗi đau mất hai núm ruột của mình. Sau khi theo các bạn tham gia vào các phong trào ở Long Xuyên, Châu Đốc, nhiều bạn bè đã bị bắt, tôi chạy về Mỹ Lâm. Ở đây cũng không yên ổn gì. Các tên địa chủ thân Tây bắt đầu nổi lên hống hách, ức hiếp và đe dọa cướp đất của dân. Đầu sỏ là tên địa chủ Trần Kiều và Cả Hổ. Địa chủ Kiều là một tên đầu đảng khét tiếng. Y đã cướp ruộng dân ở vùng Cái Sắn, rồi sang Mỹ Lâm. Đợt đầu hắn cướp 8.000-9.000 công (1 công + 1.000 mét vuông) đợt sau 11.000-12.000 công. Hắn luôn tỏ ra trịch thượng và đắc ý. Ba má tôi phấp phỏng với mấy trăm công đất mồ hôi công sức của mình. Tôi nói với ba má:

– Tính con ngay thẳng, ngang ngược, không sợ ai từ nhỏ. Con còn có sức khỏe nhất nhà, bọn nào hống hách vào làng này ăn cướp, để con tính cho.

Má tôi sợ tôi đánh lộn, không đủ sức chống chọi với mấy băng đảng kia, rồi bị chúng giết chết, bà khóc lóc, khuyên can. Không khí sợ sệt bọn cướp lúa, giựt đất bao trùm lên khắp làng xóm. Một số nông dân và thanh niên ở Mốp Giăng, Mỹ Lâm đã ngấm ngầm chuẩn bị một kế hoạch đánh cướp. Một hôm, má tôi kêu tôi lại, bà rầu rĩ nói:

– Con cưới vợ người ở làng mình đi, để trụ hình làm ăn. Đi phiêu bồng hoài biết chừng nào yên bề gia thất?

Tiếng thổn thức của người mẹ đã làm mềm lòng tôi. Lúc này tôi đã xấp xỉ 30 tuổi và từng có một mối tình. Nhưng vì đi theo xáng lênh đênh sông nước, không ổn định nơi nào, nên dù yêu, tôi cũng không bảo bọc được người mình yêu. Hơn nữa, người con gái tôi yêu gia đình thuộc loại khá giả ở Thốt Nốt, người ta có ác cảm với công nhân xáng “lu bu”, chỉ yêu con người ta qua đường. Người con gái tôi yêu bị sự kháng cự, cấm đoán của gia đình, nàng cũng thấy tình yêu thật mong manh. Khi tôi theo xáng đi đào kênh Sóc Xoài, rồi chạy theo các bạn tham gia phong trào thanh niên ở Châu Đốc, Long Xuyên, cô ấy khóc hết nước mắt. Đó là năm 1927. Đây là mối tình đầu của tôi. Nghe má tôi nói cưới vợ, lòng tôi ray rứt, xốn xang, nhớ đến người con gái hiền lành yêu mình tha thiết, dù bị gia đình ngăn cấm, cũng vượt qua, tự nguyện chung sống với tôi. Tôi không có ý bỏ nàng, mà quyết một ngày trở lại tìm cho được. Tôi im lặng một lúc, rồi nói với má tôi:

– Con đã sống với một cô gái khi con còn làm xáng ở Thốt Nốt. Cô này con nhà tử tế, người ta tin cậy con, con phải có trách nhiệm với người ta. Cổ đã có thai với con rồi!

Tôi chống chế và nói đại nói càng là cô ấy đã có con với tôi, để má tôi ngưng chuyện hỏi vợ ở quê cho tôi. Nhưng vì quá bất ngờ, má tôi hoảng hốt, bà kêu lên: “Con làm lỡ hết chuyện rồi con ơi. Ở nhà đã coi mắt con Ngân con bác Phòng ở Mỹ Lâm. Nhà đó so với gia đình mình là môn đăng hộ đối. Con làm vậy còn mặt mũi nào nhìn ai”! Rồi bà khóc. Tôi thương má tôi luôn hy sinh vì con cái. Tuy gia đình đã khá giả, nhưng bà luôn vất vả, làm lụng suốt ngày. Chuyện bà mong có nàng dâu trong nhà là rất hợp lý. Tôi an ủi má:

– Má để con đi Thốt Nốt, con nói phải quấy với gia đình người ta rồi con về nhà hãy tính chuyện này sau. Con thấy mình có lỗi…

Má tôi đồng ý cho tôi đi. Rồi chừng như không an lòng, bà theo năn nỉ: “Gia đình mình đã có người bị Pháp bắt. Đi đâu giờ cũng có người rình rập, con đi không khéo, có bề gì làm sao má chịu nổi”. Tôi không sợ mình đi bị ai bắt bớ, mà sợ thêm một lần làm tổn thương trái tim người mẹ. Còn người yêu tôi, không biết giờ này ở đâu. Điều tôi biết chắc, vì yêu tôi, có thể cô bị gia đình đánh đập, hoặc tệ hơn là “cạo đầu bôi vôi”. Nghĩ vậy, tôi quyết định không đi tìm cô ấy, để cho mọi chuyện rồi sẽ qua đi. Cô ấy sẽ quên tôi và chấp nhận sự định đoạt của gia đình. Tôi thầm mong cho cô ấy được hạnh phúc và tôi chấp nhận quyết định của gia đình.

Thế là sau mối tình đầu đậm đà ấy, tôi chính thức lập gia đình cuối năm 1931. Người vợ do gia đình cưới hỏi tên là Lê Thị Ngân, nhỏ hơn tôi 6 tuổi. Gia đình bên vợ cũng thuộc hàng phú nông. Vợ tôi thuộc làu bài học nữ công gia chánh, nết na thùy mị, càng làm má tôi hài lòng. Bà mừng vì đã “cột chân” được tôi. Hơn một năm sau, dòng họ Lưu của tôi vui mừng có cháu đích tôn – con trai đầu lòng của tôi ra đời. Cháu được đặt tên Lưu Khỏe. Vợ tôi sinh năm một, liên tiếp hai năm sau đó, tôi có thêm một đứa con trai tên Lưu Kiếm và một con gái tên Lưu Thị Hằng. Cuộc sống gia đình đang yên vui. Bỗng có một biến cố xảy ra, làm đảo lộn mọi dự tính tương lai của tôi và cả các con tôi.

Đó là vào những năm 1932-1933, kênh Mốp Giăng, dân cư mỗi ngày một đông đúc hơn. Thực ra khi các chiếc xáng-măng, xáng-oong, xáng-la đã đào xong toàn bộ hệ thống kênh đào Ba Thê, Tri Tôn, Tám Ngàn, thì người Pháp xem như đã hoàn tất một chương trình thủy nông, phục vụ cho việc khai thác thuộc địa của thực dân ở tỉnh Rạch Giá. Hệ thống thủy lợi mới này, tạo nên một vùng đồng ruộng mới của vùng Châu Thành thật màu mỡ. Dân cư đông dần lên cũng là lẽ tự nhiên. Tôi không còn theo xáng nữa, mà toàn bộ gia đình tôi tập trung vào nghề nông trên phần đất hơn 300 công của mình. Có sống với xóm làng, đồng ruộng tôi mới nhận ra một điều: người nông dân khai hoang lập nghiệp vô cùng vất vả. Mồ hôi, nước mắt và cả máu của họ trộn lẫn trong bùn lầy, mưa nắng mới có những cánh đồng phì nhiêu. Còn bọn “chúa đất”, bọn địa chủ người Tây, người Tàu, người Việt thân Pháp, thì lại chăm bẵm, thèm thuồng những cánh đồng màu mỡ của nông dân. Chúng luôn rắp tâm và tìm mọi thủ đoạn để cướp giật.

Thủ đoạn cướp đất của chúng là: Chúng đến phần ruộng nào ưng ý là đo ranh, cắm cột (cọc), rồi tuyên bố đất của chúng. Với thủ đoạn này, những tên địa chủ như Trịnh Xuân Nghĩa (thời đó, có người cho rằng tên này còn là mật thám quốc tế) đã cướp được trên 12.000 công đất của nông dân ở vùng Ba Thê; còn tên Trần Kiều thì cướp hết ruộng của dân ở vùng Cái Sắn, y sang Mỹ Lâm, cướp đợt đầu cả chục ngàn công, đợt sau cũng hơn một ngàn công. Nhiều nông dân Mỹ Lâm mất ruộng đất là vậy.

Tức nước vỡ bờ. Những nông dân đã mất ruộng cùng nông dân ở Móp Giăng, trong đó có tôi bày ra kế hoạch đánh cướp. Nhưng rất tiếc, trận đánh cướp quyết liệt xảy ra ở Mốp Giăng lần đầu tiên vào mùa khô năm 1933, tên địa chủ Trần Kiều, Cả Hổ, không có mặt để bị ăn no những trận đòn bằng sào đo ruộng, bằng dao, rựa, chỉ có bọn cướp “đàn em” của chúng. Một tên bỏ mạng tại đây. Khi tên cướp bị dân Mốp Giăng đánh chết, tôi biết dân ở đây thế nào cũng bị trả thù và chắc chắn rồi sẽ còn những cuộc đấu tranh, đánh trả bọn cướp đất khốc liệt hơn. Tôi nói với bà con ở xóm để tôi nhận tội này. Ngày hôm sau, tin con ông Cả thành đánh chết tên cướp được đồn ra nhanh. Gia đình lập tức đưa tôi trốn khỏi Mỹ Lâm, rồi chuyện gì nữa, sau đó mới tính tiếp.

Gia đình thì tính vậy, nhưng riêng tôi, nghĩ đến chuyến đi này tôi sẽ làm được một việc gì đó có ý nghĩa đại để như tham gia vào việc chống địa chủ cướp đất, được sự tổ chức, lãnh đạo của ai đó, chứ không phải là chuyện chạy trốn để thoát thân.

Và điều ấy đã đến!

Chương 3. BƯỚC NGOẶT CUỘC ĐỜI

Biết tôi sẽ đi, má tôi thổn thức, rỉ vào tai tôi:

– Con tính đi đâu và đi như thế nào?

Tôi biết má tôi rất thương và lo lắng cho tôi. Bây giờ mọi quyết định của tôi không phải chỉ riêng cho bản thân tôi mà còn liên quan đến cha mẹ, vợ con tôi. Tôi đã từng có tiền án trong các vụ tham gia phong trào với thanh niên ở Long Xuyên, giờ đây còn nhận đánh chết tên cướp, tôi không thể sống yên ổn được trong làng, mà sẽ còn liên lụy đến gia đình. Tôi an ủi má:

– Con sẽ trốn đi nơi khác một thời gian. Hiện nay bọn băng đảng đang tìm người đánh chết đồng bọn chúng để trả thù. Khi con trốn khỏi làng, mọi người cứ đổ hết cho con.

Nói thì đơn giản như vậy, nhưng khi phải rứt gia đình: cha mẹ già, một vợ và 3 con nhỏ để đi một nơi nào mà mình chưa biết được điều gì sẽ xảy ra, ruột gan tôi rối bời. Tôi vắt tay lên trán suy tư mãi, rồi buột miệng nói với vợ tôi.

– Mình ở nhà gánh các chuyện gia đình và nuôi cha mẹ, dạy dỗ con cái cho nên người. Tôi phải đi trốn thôi, tôi đã bàn với má. Nếu tôi ở lại chúng cũng tìm giết và sẽ liên lụy đến gia đình và xóm làng. Tôi trốn, chúng sẽ tìm một mình tôi thôi.

Quá đột ngột, vợ tôi kêu lên một tiếng thất thanh “Trời ơi!” rồi thổn thức, ngất lịm. Tôi to nhỏ dỗ dành. Thương các con tôi nhỏ dại. Đứa lớn 5 tuổi, đứa nhỏ 2 tuổi. Giấc ngủ của chúng thật vô tư, lòng tôi bịn rịn, xốn xang lắm. Má tôi lúc đầu không cho tôi đi, nhưng tôi giải thích lợi hại, bà đã đồng ý.

Lúc bấy giờ, mật thám Pháp được tung ra khắp các địa phương ở Rạch Giá, Châu Đốc, Long Xuyên… những nơi tôi dự định đến. Long Xuyên là quê của bà nội tôi, Ô Môn, Cần Thơ là quê ngoại tôi. Tôi quyết định đến Ô Môn trước, ở đó có đồn điền Cờ Đỏ, trước đó tôi đã nghe có các phong trào hoạt động của tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, nghe đến tên tuổi anh Ung Văn Khiêm, anh Hà Huy Giáp. Nhưng tôi không thể liên lạc được với một cá nhân và tổ chức nào, mà đến đâu cũng nhìn thấy bọn lính mã tà… Tôi vòng qua Long Xuyên, nơi tôi đã theo các bạn thanh niên tham gia phong trào đấu tranh đòi hoãn thuế, phản đối bắt phu… (trước đó phong trào này nổ ra mạnh ở Chợ mới, Châu Đốc và quận Châu Thành), với hy vọng tìm được hướng đi cho cuộc đời mình. Đi mãi, tiền túi cạn dần. Tôi theo đám con nít đánh giầy, bán báo để biết tin tức, rồi theo đám võ Sơn Đông… Một hôm tôi nghe người ta nói: “dân Ba Thê dậy giặc”. Vì mang tội “đánh chết cướp”, tôi cũng giật mình, hỏi phăng đến, mới biết ra dân Mốp Giăng, Ba thê đã vùng lên đánh lại bọn cướp đất của dân để bán cho địa chủ do tên Đốc phủ sứ Trần Văn Phước cầm đầu. “Vùng Ba Thê dậy giặc” là báo cáo của tỉnh trưởng Rạch Giá cho thống đốc xứ Nam kỳ lúc đó. Lòng tôi mở cờ. Thế là người dân xứ Móp Giăng, Mỹ Lâm, Ba Thê quê tôi đã đứng lên bảo vệ mình. Tôi định quay về xứ, vì nghĩ biết đâu trong cuộc đấu tranh đó, có người đứng ra lãnh đạo, tổ chức. Từ Châu Đốc, tôi xuống tới Long Xuyên, lại thấy lính, thấy người bị bắt, bị đánh. Sẵn mang cùng một “tội” “dân Ba Thê dậy giặc”, tôi nghĩ trên đường trở về chưa tới nhà tôi rất có thể bị bắt. Tôi vào nhà một người quen, giả người Khmer đi buôn vải, để tìm đường qua Nam Vang.

Từ sau cao trào 1930-1931 giặc Pháp đàn áp nhân dân ta và những người yêu nước, cách mạng càng dã man tàn bạo. Tôi đã chứng kiến những ngôi nhà ở làng Mỹ Luông, Chợ mới bị đốt cháy thành than, xác dân lành chết phơi trên đồng do bọn lính lê dương giết. Tôi qua Nam Vang bằng đường bộ từ biên giới Châu Đốc – Campuchia. Đây là lần đầu tiên tôi xa xứ sở. Cuộc đời công nhân xáng, lênh đênh trên sông nước nay đây mai đó, nhưng tôi chưa từng nếm trải nỗi buồn xa đất nước, mà lại đi xa trong hoàn cảnh đất nước đầy đau thương. Lòng tôi sục sôi căm giận. Tôi xót xa nghĩ đến cha mẹ già, nghĩ đến vợ và các con thơ… Tôi linh cảm mơ hồ cho chuyến đi viễn xứ lần này có thể đầy bất trắc xảy ra với tôi.

Khi ở Châu Đốc, theo những người buôn vải, tôi qua làng dệt vải của người Chăm ở Châu Giang, tôi quen và kết bạn với một người Khmer chuyên buôn vải tên Trầm Khul. Anh dạy tôi tiếng Khmer, tôi dạy anh tiếng Việt. Ở làng Chăm, tôi cũng quen với một người bạn người Chà (địa phương hay gọi là Chà Và). Người bạn này rất tốt. Anh cho tôi một số vải để vận xà rông như người Khmer. Anh tên Xa-ri-man, nhưng tôi gọi anh là Nam, phần để dễ gọi, phần khi đi xa tôi sẽ nhớ tôi có những người bạn tốt như anh ở xứ nhà.

Chương 4. TÌM VIỆC LÀM TRÊN ĐẤT KHÁCH


Tôi đến Nam Vang đúng vào dịp người dân Campuchia làm lễ chịu tuổi (khoảng tháng 3 âm lịch năm 1933). Các chùa chiền trang hoàng đẹp lộng lẫy. Nhạc ngũ âm vang lên suốt đêm ngày. Tôi biết nhiều tiếng Campuchia, quen dần cách chào hỏi với hai bàn tay chắp trước ngực. Nhiều người tin tôi là dân Campuchia. Tôi tập cho thích nghi phong tục, tập quán địa phương để dễ tìm việc làm. Tôi đã trải qua cái Tết xa nhà đầu tiên. Buồn não nuột. Nhưng giống như người đã phóng lao thì theo lao. Bây giờ, tôi chỉ mong có việc gì để làm nuôi sống được bản thân trên đất khách và dành dụm được tiền trở về xứ.

Lẫn trong dòng người đi làm mướn, đi buôn bán, tôi đã đến được Bat-đom-boong. Đây là vựa lúa gạo lớn nhất Campuchia lúc đó. Hàng ngày có nhiều ghe chài chuyển lúa về Phnôm Pênh, Sài Gòn. Tôi mừng thầm trong bụng và dò ra bến cảng. Thấy tôi to, cao, người chắc nịch, một người dân địa phương hỏi:

– Anh làm được phu khuân vác không?

Tôi gật đầu, mừng quá nói như líu lưỡi:

– Tôi làm được, hãy cho tôi làm!

Thế là tôi nhập trong đội phu khuân vác lúa, gạo từ kho xuống các ghe chài. Ngày đầu tiên, chủ rất ngạc nhiên khi thấy tôi vác nhanh và vác khỏe hơn những người phu khác. Đến cuối ngày, những người phu khác được trả từ một đến một hào rưỡi, thì tôi được trả hai hào. Anh em làm chung không ghen tị, mà còn nể tôi làm khỏe được trả công như vậy là xứng đáng. Tôi có sức khỏe và chịu cực giỏi là nhờ những năm tháng theo cha đi làm xáng. Cho nên công việc khuân vác nặng nhọc vất vả cũng như khi tôi làm xáng thôi. Tiền ở đây có giá trị, một bữa cơm thật ngon cũng chỉ có 3 xu, tôi còn dành dụm được.

Tôi làm việc cần mẫn, nhanh nhẹn trong đội phu khuân vác tại bến cảng, nên dần dần ai cũng biết. Một hôm, có một người Ấn Độ đi tìm người biết tiếng Việt Nam để mướn làm phiên dịch. Ông này từ Ấn Độ sang Campuchia làm ăn và đến Bát-đom-boong xin phép mở cúp khai thác gỗ. Rừng Campuchia bạt ngàn, nhiều gỗ quý. Gỗ quý được dùng vào việc cất chùa chiền và nhà cửa cho giới quý tộc và nhà giàu. Vì thế gỗ quý bán rất có giá. Nhưng muốn vào rừng khai thác gỗ, phải giao dịch với Sở Kiểm lâm. Ông chủ người Ấn Độ đang lúng túng, vì số người ở Kiểm lâm đều là người Việt. Được người ta giới thiệu, ông chủ tìm đến tôi. Tôi bỏ nghề khuân vác, theo ông chủ Ấn Độ làm phiên dịch.

Trên đất khách quê người, đây là một dịp may hiếm có đối với tôi. Ông chủ người Ấn Độ hiền lành, phúc hậu. Ông tìm hiểu tôi qua người chủ trước đây và số anh em phu khuân vác, biết tôi hiền lành, chăm chỉ, thật thà, hay giúp đỡ và thương người. Ông hài lòng và cử tôi làm phiên dịch đại diện cho ông khi giao dịch với Kiểm lâm. Mỗi tháng, ông chủ Ấn Độ đến phát lương một lần cho những người thợ xẻ gỗ, đốn cây và đóng thuế cho Kiểm lâm. Sau khi xong các công việc ấy, đến phần tôi, bao giờ ông chủ cũng dành nhiều ưu ái. Khi thì ông thưởng cho tôi bộ quần áo, khi thì năm ba đồng, kèm theo lời khen và chúc sức khỏe. Tôi học nói tiếng Ấn Độ và nghe được tiếng, nên giữa tôi và ông chủ Ấn Độ có mối quan hệ gần gũi, thân tình hơn.

Một hôm, như mọi khi, ông chủ Ấn Độ từ Phnôm-Pênh đi Bat-đom-boong phát lương cho thợ. Vì vội vàng, ông ra xe trở về Phnôm-Pênh, bỏ quên lại chiếc vali. Đến tối, sau khi ăn cơm xong, tôi dọn dẹp nhà cửa mới thấy chiếc vali ấy. Không biết vali gì, tôi mở ra xem thử, thì ra đó là vali tiền, giấy còn thẳng băng, mới cứng. Có nhiều tờ bạc 100 đồng của Ngân hàng Pháp.

Sống tha phương, làm thuê kiếm từng đồng nuôi sống mình và dành dụm để một ngày về xứ đoàn tụ với gia đình, giờ đây, đứng trước một đống bạc mà làm đến cả đời chắc gì đã có được; tôi bâng khuâng suy nghĩ mông lung trong đêm và không chợp mắt nổi: Có nên lấy vali tiền này rồi trốn đi không? Nếu trốn thì trốn đi đâu, có thoát được không? Nếu trở về quê thì đưa đầu cho người ta bắt vì tội nhận giết chết tên cướp. Đã sợ cảnh tù đày mới bỏ xứ ra đi. Nay ở tù vì tội ăn cắp tiền ông chủ thì nỗi nhục làm sao rửa được? Bao nhiêu câu hỏi xoáy trong đầu. Tôi nghĩ đến gương mặt phúc hậu của ông chủ và lòng tốt của ông đối với tôi. Bộ quần áo tôi đang mặc trong người là của ông cho. Mới tháng trước, ông đã thưởng cho tôi 5 đồng, ngoài tiền lương của tôi. Tôi quyết định không mó đến một đồng nào trong vali của ông chủ mà ôm giữ cẩn thận cho ông.

Gần sáng, tôi nghe tiếng xe hơi thắng lại dưới sân nhà sàn. Tôi biết đó là xe ông chủ, tôi nhổm dậy, bước ra cửa. Ông chủ chạy vội lên cầu thang. Tôi cất tiếng trước để trấn an ông chủ:

– Vali ông để quên lại, còn đây.

Ông chủ như định thần lại, nét mặt ông hết căng thẳng, ông nhìn tôi chăm chăm. Tôi lôi chiếc vali từ mùng ra, đặt trước mặt ông và từ tốn nói:

– Ông chủ đếm lại đi!

Ông chủ Ấn Độ nhận chiếc vali từ tay tôi, chiếc vali không khóa từ trước. Nét mặt ông vui và có vẻ như xúc động khi thấy chiếc vali vẫn y nguyên. Ông rút trong vali một xấp tiền đưa cho tôi trước khi từ giã tôi để trở lại Phnôm-Pênh. Tôi đỡ tay ông và nói:

– Ông chủ về mạnh giỏi, đi đường cẩn thận. Lần khác ông chủ cho, tôi sẽ nhận, lần này thì không thể nhận được.

Tôi bước theo ông chủ ra tận xe dưới nhà sàn. Ông vẫn nắm bàn tay tôi một cách tin cậy và trìu mến. Tôi cảm nhận được bao điều thân thiết trong cách nắm tay ấy. Khi xe nổ máy, ông quay một vòng tay lái quanh sân, rồi giơ tay vẫy từ giã tôi. Tôi cũng vẫy tay lại và thấy lòng mình thanh thản.

Đến kỳ phát lương tháng sau, ông chủ người Ấn Độ trở lại Bat-đom-boong. Như mọi lần, ông đỗ xe dưới nhà sàn, tôi chạy ra cửa đón ông. Vừa thấy tôi, ông tươi cười, nụ cười tôi cảm nhận được không phải giữa chủ và người làm công, mà nụ cười thân tình như người chú, người cha trong gia đình với con cái. Ông đưa tay về phía tôi và nói:

– Anh theo tôi về Phnôm-Pênh. Việc trên này có người khác thay!

Tôi giật thót người. Nụ cười vừa nở vụt tắt. Tôi suy nghĩ: lẽ nào tiền trong cặp ông có bị mất, ông đưa tôi về Phnôm-Pênh để hỏi tội. Mới phút trước, thái độ ông thân tình lắm mà. Thấy tôi suy tư, ông vòng tay qua vai tôi và nói:

– Anh về Phnôm-Pênh làm việc với tôi, mỗi tháng anh làm công việc của tôi, trở lại Bat-đom-boong phát lương cho thợ, đóng thuế cho Kiểm lâm.

Niềm vui đến thật bất ngờ và trong hoàn cảnh của tôi lúc này nó lớn lao như một cuộc đổi đời. Mới mấy tháng trước là một phu khuân vác, rồi làm phiên dịch, trông coi thợ cho ông chủ đã là công việc khá “sang” rồi, nay lại về sống ở thủ đô cùng ông chủ, đến tháng thay ông chủ đi phát lương… Tôi thật sự được người chủ tin dùng. Tôi nhủ thầm trong bụng: ở hiền gặp lành!

Về Phnôm-Pênh, tôi mới có dịp tìm hiểu thêm người chủ Ấn Độ của mình. Ông tên I-bra-him, một nhà doanh nghiệp lớn ở Phnôm-Pênh. Ngoài việc mở cúp gỗ ở Bat-đom-boong, ở Phnôm-Pênh, ông có hai cửa tiệm bán vải rất lớn, phải thuê hơn 20 người Ấn Độ bán hàng và giúp việc. Ông và vợ coi hai cửa tiệm này, nhưng chủ yếu vẫn là ông, bà cùng cô con gái chỉ ở trong nhà trông coi nhà cửa và người làm trong gia đình.

Thật tình, tuy tôi cũng là con trong một gia đình có cha làm thợ cả và có chức sắc trong làng, nhưng nói điều hành, quản lý một cơ sở làm ăn thì tôi chưa từng làm. Do vậy, khi ông I-bra-him đưa tôi về Phnôm-Pênh rồi giao hẳn cho tôi quản lý một tiệm vải, tôi thật ngỡ ngàng. Nhưng lúc này, giữa tôi và ông chủ trở nên gần gũi như người nhà, bởi tính trung thực, thật thà, hiền lành của tôi và tấm lòng nhân hậu, thương người của ông I-bra-him đã gặp nhau. Tôi làm việc cho ông hết lòng và cũng học ở ông nhiều đức tính tốt đẹp. Tôi đã có một vốn tiếng Campuchia kha khá để giao tiếp với bên ngoài, đồng thời nhanh chóng học tiếng Hin-đi để giao tiếp với những người làm trong tiệm vải và những người trong gia đình ông I-bra-him.

Qua cách nói chuyện hàng ngày giữa hai ông bà I-bra-him với tôi, tôi biết gia đình này đã dành cho tôi một tình cảm, sự ưu ái đặc biệt. Một hôm, ở cửa hàng vải, khi thấy bớt công việc, ông I-bra-him gọi riêng tôi vào phòng ông và nói:

– Anh làm việc tôi rất hài lòng. Bản tính anh là người tốt, thật thà. Giữa cuộc sống này, tìm một người tốt như anh hiếm lắm. Anh biết gia đình tôi có cô con gái đã đến tuổi lập gia đình. Tôi muốn anh làm rể tôi, anh có đồng ý không?

Từ khi tôi gặp ông I-bra-him đến nay, đã có ba lần thay đổi, địa vị như là ba bước ngoặt trong cuộc đời tôi: thứ nhất, từ người phu khuân vác, sang làm phiên dịch; từ người phiên dịch, thay ông chủ phát lương cho thợ rừng, cho ông nhân; rồi quản lý một cửa tiệm độc lập lại thành phố Phnôm-Pênh. Mỗi lần là một bất ngờ với tôi. Nay thêm một bất ngờ lớn: được ông nhận làm con rể. Nếu hấp tấp, tôi sẽ trở thành người hồ đồ, lợi dụng lòng tốt của người ta. Tôi thật sự lúng túng, chưa trả lời ông ngay được, tôi xin ông để tôi suy nghĩ vài ngày mới quyết định. Suốt mấy đêm liền tôi suy nghĩ đến gia đình, vợ con ở Việt Nam, đến quê hương… Tôi mang chút mặc cảm của một người nghèo, sống tha hương, không người thân thích. Còn gia đình ông I-bra-him là ông chủ lớn, liệu con gái ông có yêu tôi không, hay rồi tôi chỉ nhận được sự rẻ khinh? Ông an ủi và cho tôi biết thêm phong tục của người Ấn Độ. Ông giảng giải:

– Phong tục của người Ấn, khi gả chồng cho con gái, gia đình sẽ tặng của hồi môn. Đây là của riêng hai vợ chồng, không ai có quyền xâm phạm vào đó.

Tôi đã có nhiều đêm thức trắng. Tôi chưa có tình yêu với cô con gái ông I-bra-him, nhưng tấm chân tình của ông tôi đã nặng mang, ơn nghĩa của ông tôi đã nhận là quá lớn: nợ áo cơm, nợ ân tình!

Chương 5. NHẬP QUỐC TỊCH ẤN ĐỘ

Tôi hoàn toàn mù mịt về tin tức quê nhà. Một cuộc ra đi như là nhắm mắt đưa chân, tôi đã mất phương hướng. Bây giờ trên đất khách quê người, tôi muốn giữ cho mình còn mạng sống, để một ngày trở lại quê hương. Mà người giữ mạng sống cho tôi, người tôi mãi mãi chịu ơn là ông I-bra-him và gia đình ông. Tôi không còn con đường nào khác để chọn lựa. Tôi xót xa nghĩ đến cảnh nước mất nhà tan…

Ông I-bra-him vô cùng mừng rỡ khi tôi đồng ý làm thành viên trong gia đình ông. Ông đặt tên Ấn Độ cho tôi là Hăc-xa-cốp Chan-dra và xin cho tôi được nhập quốc tịch Ấn Độ. Đám cưới của tôi được tổ chức tại Phnôm-Pênh theo nghi thức, phong tục của người Ấn Độ. Tôi được nhận của hồi môn là một cửa tiệm tôi đang quản lý trông nom, cha mẹ vợ mua thêm một căn nhà để vợ chồng tôi ra riêng. Hôm làm lễ cưới trên chùa, tôi mới nhìn rõ mặt An-na Ma-ri – vợ tôi. Từ trước đến nay, nàng ở nhà với mẹ, tôi chỉ nhìn loáng thoáng những lúc đến cửa tiệm ông bà I-bra-him quản lý, chứ chưa từng nói chuyện, chưa từng giáp mặt. Giờ đây, nàng trở thành vợ tôi. Nàng có thân hình cao ráo, cân đối với một gương mặt đẹp, phúc hậu. Tôi choáng váng trước vẻ đẹp thanh thoát này, nhưng lòng se lại vì tội nghiệp cho nàng chẳng quen biết tôi, có biết chăng chỉ nghe tên anh chàng làm công như mấy chục người làm công cho gia đình nàng.

Đám cưới xong, tiễn khách khứa ra về hết, cha mẹ vợ dặn dò hai vợ chồng đôi câu rồi về tiệm vải. Tôi và An-na Ma-ri ở lại căn nhà riêng của cha mẹ vợ tặng. Nàng không biểu lộ cảm xúc gì, gương mặt nhẹ nhàng, bình thản. Còn tôi lại trào dâng một tình cảm tội nghiệp xen lẫn sự quí trọng người con gái, lẽ ra với địa vị và nhan sắc của nàng, nàng có thể lấy một người chồng giàu có, gia đình môn đăng hộ đối với gia đình nàng. Nhưng vì lời hứa của cha mẹ, nàng bằng lòng đám cưới với anh chàng làm công tứ cố vô thân như tôi. Thật tội cho nàng. Tôi đang bâng khuâng nghĩ ngợi, thì nàng vào phòng riêng khóa trái cửa lại, không nói một lời nào với tôi.

Tôi ngồi lặng lẽ nơi phòng khách, lấy chai rượu Martell nhấm nháp mà thấy lòng nặng trĩu. Mùa cưới ở xứ mình vào tháng Một, tháng Chạp âm lịch(1). Đám cưới của tôi giữa mùa thu. Đó là một ngày nắng ráo, đẹp trời ở Phnôm-Pênh. Đêm ấy trời không lạnh, mà tôi cảm giác như mình đang trầm trong nước. Bốn bề vắng lặng như tờ. Tôi bước lại cửa phòng An-na Ma-ri gõ nhẹ nhàng từng tiếng một. Mấy lần gõ, phòng vẫn khép chặt. Tôi vào phòng mình. Tôi biết nàng sẽ luôn luôn giữ một khoảng cách với tôi.

Sáng hôm sau, tôi đến cửa hàng vải, mở cửa buôn bán bình thường. Khách càng đông hơn. Tôi bây giờ là con rể một người có tiếng tăm ở Phnôm-Pênh. Vị thế khác hơn, mối quan hệ rộng hơn. An-na Ma-ri ở nhà trông coi người giúp việc. Khi tôi trở về nhà, cơm nước có sẵn, nhưng nàng chưa bao giờ ngồi ăn cơm chung với tôi. Tháng ngày trôi qua, công việc buôn bán ở tiệm vải luôn bận rộn, tôi như quên nỗi buồn riêng này. Hơn nữa, cuộc đời tôi từng nếm trải bao đắng cay vất vả, cũng đã trải qua những đắng cay trong tình cảm riêng tư, tôi sẽ vượt qua được thử thách này. Tôi nhớ lời ông I-bra-him:

– Tôi sẽ bảo ban được con gái tôi. Miễn sao anh luôn giữ được đức tính thật thà, hiền lành. Sau này vợ chồng tôi già, sẽ nương tựa vào vợ chồng anh.

Ông I-bra-him đã đặt trọn niềm tin nơi tôi. Nhưng giờ đây tôi chưa thuyết phục được An-na Ma-ri. Tôi thấy mình phải có trách nhiệm cho nàng hiểu tôi không phải là kẻ lợi dụng nàng và gia đình nàng. Tôi là người chịu ơn gia đình nàng và phải có trách nhiệm với nàng. Thật khó cho tôi là An-na Ma-ri luôn tìm cách lánh mặt tôi. Phòng riêng của nàng luôn khóa chặt. Tôi cắn răng không nói cho cha mẹ vợ biết chuyện gia đình vợ chồng tôi. Ông bà cứ tưởng chúng tôi sống đầm ấm lắm. Bà mẹ vợ lâu lâu lại thúc chúng tôi mau cho ông bà bế cháu, vì chúng tôi cưới cả năm rồi.

Một năm trôi qua, cuộc sống của tôi không có gì thay đổi. Đôi lúc tha thẩn từ tiệm vải về nhà riêng, tôi thấy lòng trống trải, tôi lặng lẽ đến nhà hàng uống vài ly cô-nhắc, rồi về nhà nằm một mình trên chiếc giường rộng thênh thang. Sau đó, lại vùi đầu vào công việc để không còn thời giờ nghĩ vẩn vơ.

Buổi trưa, tiệm vải vắng khách, ông I-bra-him đến bên tôi và nói:

– Gia đình chúng ta sẽ về Ấn Độ, ba muốn đưa hai con về thăm quê hương và làm lễ cầu trời phật ban phước lành cho hai con.

Tôi “dạ”, nhưng không biểu lộ trên gương mặt niềm vui hay nỗi băn khoăn nào nên ba vợ tôi đinh đinh là tôi mong đợi ngày đó. Chính ba vợ tôi tự tay hóa trang cho tôi bằng cách châm cứu hóa chất làm cho nét mặt tôi giống người Ấn Độ, sẵn nước da tôi ngăm đen nên khi hóa trang và nói tiếng Hin-đi, trình hộ chiếu Ấn Độ, không ai phát hiện ra tôi là người Việt Nam.

Chuyến tàu khách của hãng Messagerie Maritime từ bến cảng Nhà Rồng đưa cả gia đình vợ tôi và tôi đi Ấn Độ. Vừa đặt chân đến Sài Gòn và đến cảng Nhà Rồng để xuống tàu đi Ấn Độ, tôi ứa nước mắt và thấy lòng đau nhói khi nhìn quanh ở đâu cũng có lính Pháp. Tôi muốn ở lại, nhưng giờ đây tôi đang mang quốc tịch Ấn Độ, tôi đã có vợ… Sau những ngày lênh đênh trên biển cả, gia đình tôi đã về đến Niu Đê-li. Ở đây, họ hàng bên vợ tôi có mấy ngôi biệt thự. Họ hàng dành một ngôi đẹp nhất cho gia đình tôi ở. Sau khi giới thiệu tôi với họ hàng, cha mẹ vợ đưa vợ chồng tôi đi du ngoạn một số nơi ở Ấn Độ, rồi làm mấy cuộc lễ để xin thần phật ban phước lành cho vợ chồng tôi. Tôi ngồi cạnh An-na Ma-ri, chắp tay, quì nghe mấy vị cao tăng đọc kinh và liếc nhìn nàng, vẫn gương mặt lạnh như tiền. Tôi hiểu, nàng chỉ làm cho cha mẹ vui, chứ trong lòng nàng không có niềm tin và chẳng có tình yêu với tôi. Tôi nuốt đắng cay đang trào dâng lên cổ và tự trách mình vì sao lúc ở bến Nhà Rồng, đã có một phút do dự mà không quyết định ở lại. Giờ đây thêm bao nhiêu dặm đường xa. nơi xứ sở cách đất nước mình vời vợi, biết làm sao để khỏi mang nỗi tủi nhục bị một người con gái khinh thường như thế này?

Chương 6. QUYẾT ĐỊNH ĐI TU

Ở Niu Đê-li vài tháng, tôi nghe người ta tuyển người đi Tây Phương tu Phật. Đã tuyển được hai người, chỉ cần thêm một người nữa là làm lễ tiễn đi. Tôi quyết định được đi tu. Vì ở nhà sống cảnh chồng vợ như thế này mà phải ngậm đắng nuốt cay, không hé răng cho gia đình vợ biết, thì có khác nào tôi tự tra tấn mình. Thôi thì, thà đi tu nghe đọc kinh kệ, hướng về cõi phật còn hơn. Đây là cách giải thoát cho mình lúc bế tắc này. Tôi đã nói với một vị sãi cả là tôi xin đi Tây Phương.

Chuyện tưởng như giản đơn là đi tu để giải thoát cho mình, không ngờ chuyển sang một tình thế khác. Một hồi chiêng trống được cất lên tưởng chừng như không dứt để báo tin vui cho phật tử khắp vùng biết có người sẽ đi tu Phật. Mọi người ùa đến, vây kín lấy tôi và kính cẩn cúi chào, nét mặt ai cũng hân hoan, rạng rỡ. Có người quì xuống chân tôi và cúi hôn. Tôi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Tôi nhìn lên, thấy cha vợ tôi dắt tay An-na Ma-ri, lách đám đông, tiến thẳng về phía tôi một cách khó khăn. Ma-ri tới, nàng chắp tay xá tôi như xá một người đắc đạo. Gương mặt ngày thường lạnh tanh của nàng biến đâu mất, mà quì trước tôi là một An-na Ma-ri ngoan ngoãn, thành kính với nét mặt đầy xúc động. Mặt tôi nóng bừng, trào dâng niềm cảm xúc mới mẻ.

Theo tục lệ dành cho người đi tu, tôi phải ở lại chùa bảy ngày để làm lễ và xông hương, sau đó trở lại từ giã gia đình. Khi vào chùa để làm các công việc này, tôi được thay ngay bộ đồ cà sa, ngồi thiền định trước bàn thờ phật tổ. Suốt một tuần đó, ngày nào cha mẹ vợ và vợ tôi cũng đến chùa quì sau lưng tôi, khi về, họ cúi xuống trước mặt tôi, xá rồi ra về. Còn tôi, bảy ngày bảy đêm ngồi thiền định như vậy không nhúc nhích, không nói, không nhìn ai, ngủ cũng trong tư thế đó.

Hết ngày thứ bẩy ngồi thiền ở chùa, chiều hôm đó, cả họ hàng bên vợ tề tựu trước cổng chùa để rước tôi về gia đình. Tòa biệt thự đẹp nhất nơi gia đình chúng tôi ở chật ních người. Tôi được đặt giữa đại sảnh và tất cả mọi người vây xung quanh. Đây là phước lớn của dòng họ vì có người đi tu phật, nên niềm vui mừng khôn xiết đối với họ. Tất cả mọi người đều lặng lẽ, thành kính, hương trầm tỏa ngát. Tôi ngồi thiền định một tay duỗi thẳng trước ngực, một tay đặt trên tấm áo cà sa vàng bằng lụa.

Đến khuya, mọi người tản ra dần và đi nghỉ hết. An-na Ma-ri vẫn quì trước mặt tôi, hai tay thành kính chắp trước ngực, đầu cúi, mắt khép hờ như chờ đợi tôi có điều gì sai bảo. Tôi đứng lên lặng lẽ đi về phòng. Mấy ngày ngồi thiền, tôi chưa quen nên thấm mệt. Tôi nằm đăm đăm nghĩ ngợi về cuộc đời mình lại bước sang một bước ngoặt mới như là số phận được an bài. Bỗng An-na Ma-ri khẽ đẩy cửa, bước vào phòng tôi. Sau hơn một năm thành chồng vợ, đây là lần đầu tiên nàng chủ động bước vào phòng tôi. Nàng đến bên giường quì xuống, hai tay chắp trước ngực, đầu hơi cúi. Tôi nằm im. Nàng vẫn ngồi lặng thinh. Tôi ngồi dậy. Cả hai cùng im lặng một lúc lâu, tôi đưa tay nâng nàng đứng dậy và đưa tay choàng qua hông nàng. An-na Ma-ri cúi đầu và đi giật lùi ra ngoài. Lát sau nàng quay trở lại, trên người mặc một tấm áo ngủ vải voan mỏng may kiểu Châu âu, chứ không quấn chặt xà rông nhiều lớp kín mít như mọi ngày. An-na Ma-ri đến với tôi bằng tất cả sự nồng cháy, yêu thương của một người vợ, một người yêu. Nét lạnh lùng ngày thường biến mất. Bên tôi, một An-na Ma-ri kiều diễm, quí phái, dịu dàng, nàng đã cho và được nhận một tình yêu đích thực. Nhưng hạnh phúc và cuộc sống chồng vợ của tôi và Ma-ri thật ngắn ngủi, tôi đã phải đi tu phật.

Suốt một tháng trời được phép về gia đình, lúc nào An-na Ma-ri cũng ở bên tôi. Đến ngày phải lên đường, cả gia đình tiễn tôi đến chùa. Cờ phướn rực rỡ. Những người đi tu phật được đi trên những chiếc kiệu. Vợ tôi quì bên đường, đọc kinh tiễn tôi.

Một tháng bên nhau nồng mặn yêu thương, An-na Ma-ri đã mang giọt máu của tôi. Trong khi tôi đang len lỏi đi trong rừng già Ấn Độ, đói khát, hiểm nguy rình rập dọc đường, thì Ma-ri sinh hạ cho tôi một đứa con trai, đặt tên là Xô-Chim. Đó là mùa xuân năm 1935, tôi đã được làm cha mà tôi không biết.

Hai người bạn đi tu Phật cùng tôi, đã rẽ mỗi người một hướng. Tất cả đều đi chân trần. Một tháng đầu tôi đi trên những con đường mòn, không gặp nhà cửa, không có người, nhưng lâu lâu lại thấy có một cái am nhỏ, có trái cây và nhang đèn. Tôi thắp nhang vái tạ và lấy hết trái cây cho vào túi để ăn dần. Mấy bài kinh học được tôi luôn đọc lẩm nhẩm dọc đường. Nhờ vậy quên được phần nào những vất vả gian truân. Nhiều cơn đói làm tôi hoa mắt. Tôi phải tập ăn các thứ lá, các loại trái mà chim ăn (không độc). Đêm thì trèo lên cây ngủ để tránh rắn, thú rừng ăn thịt. Trước khi tiễn những người lên đường đi tu Phật, người ta dạy cho mỗi người phân biệt những loại lá cây để chữa bệnh: rắn cắn, đau răng, gãy chân tay… tôi thuộc lòng để tự vệ và chữa trị cho mình khi cô độc giữa rừng.

Trong những tháng ngày đi thăm thẳm trong rừng, tôi chỉ biết dùng nghị lực để chiến thắng hiểm nguy gian khổ để đi đến đích chứ chưa hình dung được đi tu đắc đạo, thành Phật rồi làm gì? Nhưng với ý chí và nghị lực tôi tin mình sẽ thành công. Đi hơn nửa năm trời như vậy, tôi mới tới một cảnh chùa. Tôi mừng như muốn reo lên. Ở đây, tôi tiếp tục được chỉ dạy cách đi trong rừng, cách dùng lá cây xoa lên người để sống chung với các loại rắn độc. Chính tôi đã tận mắt thấy người ta nằm trong cảnh chùa nhung nhúc rắn, rắn bò vào cả áo cà sa người đi tu. Đi tu phật gian khổ hơn tu thường. Nếu đã đi tu Phật là phải tu cho đắc đạo. Nếu vì gian khổ mà quay trở về, không phải chỉ có bị phỉ nhổ vào mặt mà có khi còn bị giết, vì người ta nghi mình là qủi dữ, bị đuổi về. Cho nên, những người đi tu phật đã tình nguyện đi là họ không quay về, không bỏ trốn, nếu họ chết trên đường đi cũng được coi là đắc đạo. Đó chính là những vị bồ tát tử vì đạo.

Đi qua mỗi cảnh chùa, phải học hàng chục bài kinh, phải thật thuộc mới được đi tiếp. Mỗi cảnh chùa, phải học hàng năm mới thuộc hết kinh. Tôi học thuộc kinh nhanh hơn người khác là vì tôi biết chữ. Khi người đi tu Phật thuộc các bài rồi phải ngồi thiền và phải đọc lại cho thật nhuần nhuyễn mới được tiễn đi tiếp. Ai chưa thuộc thì ở lại học tiếp.

Tây phương không phải là Tây Trúc mà thầy trò Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Tây phương thuộc vùng đất phía Bắc của Ấn Độ, phía Tây của Tây Tạng. Những người đi tu đến đây đều phải đi bằng chân đất, men theo những ngọn núi của rặng Hy-ma-lay-a thăm thẳm rừng già, cheo leo vách núi, thác đổ ầm ào, dây rừng chằng chịt, có khi đi hàng tháng trời cứ lạc loanh quanh trong rừng lại trở về chùa cũ đã đi qua. Tất cả người đi tu Phật trong rừng đều phải học lấy tiếng trong rừng – hay là tiếng rừng – để biết đường đi, để tìm được miếng ăn. Ví dụ: nghe tiếng thác đổ là biết có vực phía trước mà tránh. Vì vực thẳm, té xuống là rũ xương luôn tại đó. Lắng nghe tiếng chim hót, chim vỗ cánh để biết nơi nào có trái ăn – chim ăn là người ăn được. Người đi tu phật trong rừng chỉ có ăn lá và trái rừng để sống. Mọi thứ bệnh trong rừng cũng được chữa trị bằng lá cây.

Những ngôi chùa trên đường đi trong rừng đủ kiểu. Trong mười cảnh chùa tôi đi qua, chỉ có ba chùa nằm trong rừng, trong hang núi, cũng có cái lớn, các bệ thờ là những bệ đá được gọt đẽo tạo thành. Còn các cảnh chùa khác, đều do con người tạo nên, mỗi người góp vào một chút. Có người trên đường đi, biết mình không đi được nữa, tìm cách đắp thêm cho cảnh chùa; có người muốn sau này có người thờ mình, tự tạo nên cái am ngay bên cạnh rồi tu tại đó, sau khi viên tịch, người tại chỗ hỏa táng cho rồi tạo một nơi cắm hương hoa, đọc kinh siêu thoát và thắp nhang hàng ngày như các bồ tát khác viên tịch.

Cảnh chùa Tây Phương là chùa cuối cùng của mười chùa tôi đã đi qua. Khi thuộc làu hết kinh trong chùa, vị sư trụ trì trong chùa nói đã hết kinh dạy cho tôi. Tôi học kinh như vậy là đủ và chặng đường đi kéo dài gần mười năm để qua mười cảnh chùa trong rừng hoang vắng như vậy coi như tôi đã đắc đạo thành Phật rồi. Tại chùa Tây Phương, tôi cần có thời gian để ngồi thiền và đọc lại tất cả các bài kinh tôi đã học qua mười cảnh chùa. Tôi đã đọc đến mấy tháng trời (không nhìn sách). Một hôm trong khi tôi đang đọc, vị sư trụ trì vào nói tôi thôi không đọc nữa mà hãy trở về giúp ích cho đời – tôi đã trở thành Phật sống!

Nghe vị sư nói thế, tôi nghĩ ngợi: giúp ích cho đời là sao? Chắc thời gian đi trong rừng sáu, bảy năm trời gian khổ và được học nhiều bài thuốc trị bệnh từ các loại lá rừng, nên bây giờ trở lại dùng chúng giúp ích cho đời chăng? Nếu như thế cũng chẳng uổng phí công hàng chục năm tôi đi trong rừng nhịn đói, khát, sống chung với rắn độc, thú rừng và tin mình không bị chúng cắn chết vì đã có một kho thuốc quí giữa rừng. Tôi rất vui.

Vị trụ trì chuẩn bị cho tôi trở về với đời bằng hai viên ngọc, bọc kỹ trong hai cái túi. Ông không hề giải thích gì, chỉ nói hai viên ngọc này giúp tôi thoát mọi tai ương. Tôi cảm động đeo hai viên ngọc vào cổ rồi tới quì trước mặt từng người đọc hết một bài kinh chúc phước để từ biệt rồi lặng lẽ ra đi. Các vị sư vẫn ngồi thiền và đọc kinh, không ai đứng lên tiễn tôi, lúc ấy trời vừa sẩm tối. Những năm tháng đi trong rừng, tôi đã tập được thói quen ngồi thiền đọc kinh và khi ngồi cũng ngủ được, đi đường cũng ngủ được, miễn sao tránh được không rơi xuống vực thì tôi cứ đi cả đêm lẫn ngày, mệt quá thì ngả lưng nghỉ ngơi.

Tôi mất mấy tháng đi đường rừng, mấy tháng men theo sườn núi mới tới những con đường xẻ xuôi xuống đồng bằng. Xóm làng ẩn hiện ở những phía rừng xa. Tôi không ghé lại, vì không cần thiết. Đói, đã có lá cây, trái rừng; khát, có nước suối như lúc tôi đi. Cứ đi mãi theo những tấm biển chỉ đường bằng chữ Phạn tôi học được ở các nhà chùa đã đi qua. Đi mãi như thế, một hôm tôi gặp một tốp người, ăn mặc như kiểu các dân tộc miền núi. Mặt mày vẽ xanh vẽ đỏ. Họ reo hò, xông tới vây quanh và lăm lăm lưỡi mác như sẵn sàng đâm vào tôi. Không biết ứng phó ra sao, tôi đành lần tràng hạt, ngồi xuống đọc kinh mặc cho họ muốn làm gì thì làm. Xế một buổi như vậy, họ bỏ đi. Tôi mệt lử và lăn ra ngủ. Khi tỉnh dậy, tôi thấy bên cạnh có sẵn một mâm trái cây, một bình rượu. Đó là những trái đào rất to và ngọt, rượu có mùi nhân sâm như khi ở chùa người đi tu vẫn làm để uống cho khỏe. Biết họ dành cho mình, tôi ăn no và còn để hết vào bọc đi đường ăn dần.

Tưởng thế là hết nguy nan. Lần khác còn gay go hơn. Một đám người có cả đàn bà đàn ông, xông vào trói tôi lại, đưa lên giàn hỏa, đặt tôi nằm trên đó trong khi họ đọc kinh và nổi lửa đốt. Lần này tôi sợ thật. Tôi nghĩ nếu viên tịch tại đây, tôi có trở thành bồ tát không? Nhưng lửa chỉ cháy nóng lưng rồi tắt. Một lát, họ khiêng tôi xuống và mở trói. Tôi lại ngồi xuống lần tràng hạt và đọc kinh. Tất cả họ quì xuống chung quanh tôi vừa lạy vừa xá và cũng đọc kinh theo tiếng của họ. Trời vừa nhá nhem, họ đội đến mấy mâm trái cây. Tôi ra hiệu chỉ nhận một mâm đủ dùng, còn lại phân phát cho tất cả mọi người. Họ cúi đầu xá tôi rồi ra về. Với thái độ của họ, tôi hiểu rằng họ thử thách để xem tôi có phải là chân tu hay không. Tôi liều mạng để qua khỏi, chứ không nghĩ phép nhiệm màu của hai hạt ngọc vị sư trụ trì ở chùa Tây Phương đã cứu tôi.

Tôi lầm lũi đi và vượt qua gian nguy như vậy mà không để ý là tiếng đồn về ông Phật sống được dân chúng lan truyền suốt dọc đường tôi đi. Cho nên, khi tôi đến Tân Cương, có những người dọc theo đường mang cờ phướn đi theo tôi, không phải họ rước tôi, mà chắc họ theo để được chút phước của ông “vua Phật”. Ở Tân Cương được mấy ngày thì sứ quán vương quốc Anh đưa xe đến đón và đưa thẳng về Thượng Hải, lúc này là tô giới của Vương quốc Anh. Tôi không mấy lúng túng vì có chút ít tiếng Anh, nhờ học được lúc làm rể ở Phnôm-Pênh và Ấn Độ trong gia đình I-bra-him. Họ đón tôi thật trịnh trọng, đoàn xe ba chiếc, tôi ngồi chiếc giữa một mình. Vì xa gia đình người vợ Ấn Độ quá lâu (tròn trèm chục năm chứ ít sao) và hoàn toàn bặt tin tức. Nhưng khi đó tôi có suy nghĩ chắc nhờ uy tín của gia đình cha vợ mà họ đối đãi với tôi như vậy chăng? Tôi cũng không tìm hiểu mà cứ đi theo họ.

Đến Thượng Hải, họ cho thầy thuốc Ăng-lê đến khám bệnh cho tôi. Tôi cảm ơn họ và nói: “Những năm tôi đi tu đơn độc trong rừng, khi bệnh tật tôi tự chữa lấy bằng lá cây”. Tôi không ăn uống các thức họ mang tới, chỉ ăn trái cây và uống nước suối. Sứ quán vương quốc Anh cho mang mấy bộ áo cà sa vàng rực rỡ như loại áo cà sa của thầy Đường Tăng, và xin lại những vật dùng như giỏ, mũ và bộ áo cà sa bằng lá cây của tôi (mũ, giỏ cũng bằng lá cây) để đưa vào viện bảo tàng. Tôi không nhận các bộ cà sa mới mà chỉ mặc một loại áo cà sa lá cây thôi. Khi tôi sắp rời gia đình đi tu Phật, vợ tôi có may cho tôi vài bộ cà sa. Tôi vừa mặc vừa tặng các bạn tu ở các cảnh chùa. Mấy chiếc áo đã rách hết trên đường đi, nên tôi phải tạo ra loại áo lá cây để mặc như tất cả các vị sư. Vì vậy, chiếc áo lá cây là vật kỷ niệm đặc biệt trong những năm tháng đi tu Phật của tôi. Loại áo cà sa này làm cũng giống như vải, phải chắp cho đủ bẩy mươi hai miếng. Ngoài việc mặc choàng che nắng che mưa, loại áo lá còn tác dụng chữa bệnh khi thời tiết thay đổi, tránh được khí độc nhiễm vào người (rừng thiêng, nước độc). Áo cà sa có 72 lá khác nhau. Mỗi một loại lá có công dụng khác nhau và che chở cho cơ thể một cách hữu hiệu. Mũ đội, túi mang bằng lá cũng thế.

Sau một tuần ở Thượng Hải, Đại sứ Vương quốc Anh đưa tôi qua Hồng Công, để tiếp tục đi Luân Đôn. Tôi không hiểu vì sao họ lại đưa tôi đi Luân Đôn. Nhưng tôi nghĩ có lẽ vì tôi là một “vị vua tinh thần” của đạo phật – một đạo có nhiều tín đồ không những ở Ấn Độ, mà còn trên cả thế giới. Lúc đó, Ấn Độ còn thuộc địa của Vương quốc Anh, nên việc họ có ý đồ riêng gì trong việc “độc quyền” tôi cũng dễ hiểu thôi. Từ đây họ tôn tôi là “vua Phật”, “Phật sống”, chắc có lẽ họ cho rằng tôi đã diệt được dục vọng, không ăn uống gì những thứ của phàm trần, chỉ ăn hoa quả, uống nước lạnh mà vẫn sống được nhiều năm trong rừng. Khi họ đem đến những món ngon vật lạ, tôi cũng không dùng, khước từ cả những chiếc áo cà sa kiểu Đường Tăng. Suốt ngày đêm không nói năng gì với ai, chỉ ngồi thiền và đọc kinh. Theo họ, tôi đã thành Tiên, Phật rồi.

Khi đến Luân Đôn, tôi được đưa vào một ngôi chùa nhỏ, nhưng rất sang trọng. Tôi cũng không yêu cầu bất cứ điều gì và không tiếp xúc với ai. Suốt ngày đêm vẫn ngồi trước tam bảo lặng lẽ và bất động. Với người Tây, điều này càng lạ lùng. Các bà, ông Tây đổ xô tới chùa mỗi ngày một đông, họ đi lễ chùa thì ít mà đi xem “Phật sống” thì nhiều. Họ nói xí xô xí xào quanh tôi. Tôi vẫn ngồi bất động. Có vài người xin tôi ban phước, tôi từ chối vì mình là khách, hãy để việc đó cho vị sư trụ trì chùa này.

Gia đình bên vợ đã được tin tôi tu đắc đạo, được Đại sứ Vương quốc Anh đưa đi nhiều nơi và hiện đang ở Luân Đôn, nên cha vợ tôi, ông I-bra-him, gởi đơn cho Toàn quyền Ấn Độ xin cho tôi được về gần gia đình. Trong đơn nói rõ tôi đã có vợ có con. Lúc đó, gia đình vợ tôi vẫn kinh doanh lớn ở Phnôm-Pênh như khi tôi còn ở nhà. Đơn xin cho tôi về thẳng Campuchia. Lúc ấy, ông Nêru là một chính khách nổi tiếng và có uy tín của Ấn Độ. Ông đang phất cao ngọn cờ cùng nhân dân đòi độc lập cho đất nước Ấn Độ. Vợ tôi gọi ông là dượng rể (vợ tôi và cố Thủ tướng I-đi-ra Gan-đi là chị em bạn dì), có lẽ vì mối quan hệ này mà Toàn quyền Ấn Độ chấp thuận đơn của cha vợ tôi, để tôi được trở về Phnôm-Pênh sum họp gia đình.

Được tin tôi sẽ trở về Phnôm-Pênh, cha vợ tôi tiến hành cho xây dựng ngay một ngôi chùa riêng cho tôi trở về tu hành tại đó. Campuchia cũng là một đất nước theo đạo Phật, được mệnh danh là xứ sở Chùa Tháp nên khi nghe cha vợ tôi sẽ bỏ tiền ra xây chùa, thì đích thân nhà vua Campuchia đứng ra bảo trợ cho việc xây dựng này. Hoàng gia Campuchia cử người đứng ra trông coi việc xây cất theo đúng nghi lễ và kiểu dáng cảnh chùa theo mẫu chung của đất nước chùa tháp. Cha vợ tôi đóng góp một khoản tiền khá lớn, còn lại là Hoàng gia Campuchia và nhân dân cúng dường. Cảnh chùa trở nên nguy nga và đẹp không thua gì cảnh chùa Phnom ở Phnôm-Pênh. Nhân dân Campuchia tâm niệm: một đất nước theo đạo Phật, mà có ông “Phật sống” để thờ thì vinh dự lắm!

Khi tôi từ Luân Đôn trở về Phnôm-Pênh qua đường thủy ở bến Nhà Rồng, thì Hoàng gia Campuchia đã cho một đoàn xe đón tôi về thẳng chùa Prệp Pra, nằm phía dưới Phnôm-Pênh, đường về Châu Đốc. Bấy giờ khoảng tháng chạp năm 1941. Khi ở bến Nhà Rồng, tôi bắt đầu có một số thông tin về đất nước mình. Người ta đã bí mật kể về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ của ta bị thất bại, nhiều cán bộ cách mạng bị bắn, bị bắt và giết dã man. Tôi nhớ đến anh hai Lưu Quang Nên của tôi bị giặc Pháp giết. Tôi nghĩ đến gia đình, làng xóm sau hơn chục năm tôi đi biệt, không biết ai còn ai mất. Nước mắt tôi chực trào ra. Nhưng giờ đây, tôi là người tu hành, người ta tôn tôi là “vua Phật”, “Phật sống”, đi đâu cũng được đón đưa như vậy, hơn nữa tôi đang mang quốc tịch Ấn Độ, có mối ràng buộc với một gia đình chính khách, thì việc nói trở về quê hương giữa lúc loạn ly này đâu phải dễ.

Tôi vào chùa, không thể tưởng tượng được người ta làm các thủ tục, nghi lễ đón tôi – một “vua Phật”, bằng thịt bằng xương hiện hữu trước mặt họ. Hương hoa, cây trái và cả một dòng người dài như vô tận. Tất cả họ qùi, chắp tay xá, vợ tôi và thằng con Xô-Chim của tôi lẫn trong dòng người đó. Thời gian gần hai năm trời vợ tôi đi lễ chùa như mọi người, sau đó, tôi mới được gặp vợ tôi.

Phong tục ở đây lạ lắm. Khi tôi được tôn là “vua Phật” thì người ta chọn những người con gái đẹp nhất đến xin được ngủ với tôi để lấy giống Phật. Họ cho tôi biết: Ba năm một lần, tuyển lấy ba cô gái đẹp đến chùa Prệp-pra của tôi để lấy giống Phật. Trong vòng sáu tháng, nếu cô nào có thai đẻ ra con trai thì đứa nhỏ đó được đi tu Phật. Nếu không có thai hoặc đẻ ra con gái là Trời Phật không nhận, những cô gái ấy trở lại sống cuộc đời dân dã, Khi tôi trụ trì chùa này, họ chỉ tuyển một lần, không biết các cô đó có sinh con không. Nhờ tục lệ này, vợ tôi mới được đến chùa ngủ với tôi mỗi lần hai ba đêm và tôi có thêm một đứa con trai tên Ta-Lép.

Một tục lệ khác cũng lạ, Khi tôi tắm, người ta đem vô số chai lọ đến để xin nước tắm Phật về làm thuốc chữa bệnh. Nước này đem về, họ vừa uống vừa thoa bóp. Tiền của dân cúng lễ chùa không biết để đâu cho hết. Ban quản lý chùa xây thêm một căn nhà, đặt năm két sắt. Dân đến lễ chùa cúng dường chật kín hết các két sắt, phải mang đi gởi nhà băng. Sau đó, số tiền này, tôi cho xây một bệnh viện gần chùa, thuốc men cho người bệnh miễn phí, các y tá, bác sĩ được trả lương bằng tiền nhà chùa do dân đóng góp. Mỗi người tới chữa bệnh, đều được nhà chùa cấp cho một tấm thẻ để qua bệnh viện chữa miễn phí.

Tôi trụ trì ngôi chùa Prệp-Pra gần 5 năm (từ năm 1941-1945). Khi cách mạng tháng Tám thành công, người Pháp biết tôi trở về Việt Nam theo kháng chiến, họ cho ném bom ngôi chùa và bệnh viện này thành bình địa. Thực dân Pháp còn ra tuyên bố xử vắng mặt tôi. Vì lúc ấy ông Sơn Ngọc Minh cùng những người cách mạng Campuchia nổi lên chống Pháp, không cho chúng trở lại đặt ách nô lệ lên nhân dân Campuchia một lần nữa. Đạo quân của Sơn Ngọc Minh lấy tên là It-xa-ra. Người Pháp cho là ngôi chùa Prệp-pra là nơi để cho It-xa-ra đặt làm sào huyệt nên họ san bằng nó và xử tôi cùng với tội theo Việt Minh là thế.

Chương 7. THAM GIA KHÁNG CHIẾN

Việt Nam đã giành được độc lập rồi! Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào sáng mùng 2 tháng 9 năm 1945. Những người dân Việt Nam tha hương ở Campuchia, từ lâu đau đáu nỗi nhớ về quê nhà, nay hay tin đất nước độc lập, đã tìm những người đồng hương trên đất khách quê người để báo tin vui: “Nước mình độc lập rồi! Chúng ta đã có một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!”. Họ nói tiếng Việt với nhau, họ nói tiếng Campuchia cho những người bạn, những người anh em cùng có một kẻ thù chung biết.

Tôi ngồi thiền nơi cửa Phật, mà trái tim rung lên trước tin vui to lớn này. Tôi sẽ trở về quê hương, sẽ trở về Tổ quốc sau hơn mười năm xa cách, nhớ thương. Tôi sẽ cùng nhân dân mình tham gia kháng chiến, phải đánh đuổi cho bằng hết bọn đế quốc thực dân. Bây giờ không ai có thể săn đuổi, bắt bớ tôi nữa. Nước mắt tôi chảy chan hòa, thấm xuống áo cà sa. Những người đến lễ chùa không ai để ý vị sư trụ trì đang ngồi trước mặt họ đã khóc…

Tôi quyết định bỏ cuộc sống hiện tại để trở về quê nhà. Tôi không nói với gia đình bên vợ. Vì nói với họ lúc này, sẽ rất khó khăn cho quyết định rời bỏ tu Phật của tôi để trở về quê hương đi theo kháng chiến. Tôi đành im lặng ra đi. Tôi ra Phnôm-Pênh gọi một chiếc xe hơi đưa tôi đến biên giới Việt Nam. Chiếc xe hơi hiệu Renault màu đen, loại xe này chỉ dành cho tầng lớp sang trọng, quý phái. Tôi không chọn vì ý nghĩa này, mà chọn nó cho tiện, không ai để ý khi rời Phnôm-Pênh.

Khi đến biên giới Việt Nam, tôi bị giữ ngay địa phận Châu Đốc. Anh em đàng mình thấy tôi đi trên chiếc xe hơi sang trọng, lại mặc bộ áo cà sa lộng lẫy, người bệ vệ, phương phi, ai cũng nghi ngờ tôi là người thân Pháp. Bà con Châu Đốc vẫn lui tới Campuchia, có đi lễ chùa, họ đã nhận ra tôi. Thế là tin “Vua Phật” về Việt Nam được lan đi. Anh em nghi ngờ, nhưng không ai dám có ý kiến gì. Tất cả sự việc được xã báo cáo lên huyện, huyện báo cáo tỉnh, tỉnh chờ ý kiến cấp trên. Tôi đã xa xứ sở và chờ đợi ngày về bao nhiêu năm thì giờ đây được đứng ngay trên quê mẹ, tôi có chờ thêm đôi ngày có sao. Tôi nghĩ thế mà lòng trào dâng nỗi vui mừng.

Lúc ấy, cơ quan Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ đang đóng tại Long Xuyên. Anh Ung Văn Khiêm phụ trách công an, cho mời tôi đến trụ sở Ủy ban kháng chiến hành chánh. Tôi mừng thầm trong bụng. Dù tôi chưa gặp anh lần nào, nhưng khi ở trong nước tôi đã nghe tên anh và tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Tôi đã từng đi tìm anh, từng tham gia vào các phong trào thanh niên tiến bộ yêu nước ở Long Xuyên những năm 1926-1927. Cho nên gặp anh, tôi đã gặp ngay “đàng mình”, tôi thật sự xúc động và vui mừng lắm.

Cử chỉ thân tình của một người đại diện cơ quan Nhà nước tiếp nhà tu như tôi, khiến tôi càng tin tưởng con đường mình quyết định chọn trở về gia nhập kháng chiến là đúng đắn. Anh Ung Văn Khiêm mời tôi uống trà, rồi mời cơm có thịt cá và món đặc sản mắm Châu Đốc. Tôi đã quyết định trở về đời thường, nên không ngần ngại ăn bữa cơm thân tình này. Tôi cũng không thể quên được buổi trò chuyện đầu tiên với anh Ung Văn Khiêm.

Đầu tiên anh hỏi tôi: “Pháp đã trở lại đánh chiếm nước ta và Lào, Campuchia. Nhà chùa mạo hiểm trở lại đây làm gì?”. Tôi nói với anh tôi xa quê gần 15 năm rồi, tôi nhớ nhà lắm! Nghe tôi nói vậy, anh Ung Văn Khiêm có vẻ cảm động. Anh hỏi tiếp quê quán. Tôi cho anh biết quê tôi ở Châu Thành – Rạch Giá. Từ Châu Đốc qua Hà Tiên, về quê tôi cũng gần. Trầm ngâm một chút, anh Ung Văn Khiêm cho tôi biết thêm một số tin tức về việc Pháp trở lại đánh chiếm nước ta. Anh nói: Pháp đã cho quân lính đổ bộ lên Rạch Giá bằng tàu qua đường biển. Chúng ta chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài. Anh Ung Văn Khiêm khuyên tôi không nên trở về Rạch Giá nữa, mà nên trở lại Campuchia, ở nhà chùa tu hành vì anh biết tôi nổi tiếng là “Vua Phật”, được nhiều nơi biết. Anh hứa sẽ cho người hộ tống để tôi đi an toàn.

Tôi biết anh Ung Văn Khiêm lo cho sự an nguy của tôi, của một “Vua Phật” đang mang quốc tịch Ấn Độ. Tôi mạnh dạn nói với anh:

– Không. Tôi đi làm chi nữa. Quê hương tôi ở đây, thì tôi ở lại đây thôi.

Anh Ung Văn Khiêm nhìn tôi đầy trìu mến và nói nhẹ nhàng:

– Ở lại đây, anh sẽ phải đương đầu với giặc Pháp nguy hiểm và gian khổ vô cùng.

– Gian khổ chi bằng đi tu Phật ở tận Tây Phương. Còn nguy hiểm ư? Các anh và mọi người chịu đựng được thì tôi cũng chịu đựng được. Miễn sao ta đánh đuổi được bọn thực dân Pháp tàn bạo này, giành lại độc lập cho đất nước.

Thấy thái độ dứt khoát của tôi, chừng như anh Ung Văn Khiêm đã an tâm, không nói thêm gì. Nhưng anh đang nghĩ ngợi, không biết bố trí cho “Vua Phật” làm gì. Anh vỗ vai tôi, cử chỉ gần gũi như anh em quen đã lâu ngày: “Anh ở lại. Chúng ta như anh em một nhà. Cơ quan Mặt trận Việt Minh sẽ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân theo cách mạng kháng chiến”.

Khi từ Campuchia trở về, ngoài chiếc xe hơi hiệu Renault đang dùng, tôi còn tặng cho cách mạng một vali bạc mà tôi dự định mang về quê giúp đỡ gia đình. Bây giờ, tôi thấy cách mạng, kháng chiến đang cần, tôi xin tặng hết cho cách mạng. Tôi nói với anh Ung Văn Khiêm: “Xem đây là tấm lòng của tôi, một đóng góp nhỏ của tôi cho cách mạng. Tôi cũng sẽ vì cách mạng, vì kháng chiến mà sẵn sàng xả thân”. Anh Ung Văn Khiêm hỏi tôi muốn ở cơ quan nào. Tôi nói:

– Cơ quan nào cũng là của cách mạng cả. Tôi đã tới đây thì ở lại đây cùng các anh.

Thật tình lúc này tôi chưa biết cơ quan của anh Ung Văn Khiêm là cơ quan gì. Với tôi, cơ quan nào, nhiệm vụ gì nếu được phân công thì đó là nhiệm vụ cách mạng. Tôi thay bộ áo cà sa và từ ngày 26/9/1945, tôi đã mặc những bộ đồ bà ba đen như mọi người mặc. Tôi đã trở thành một Lưu Công Danh của đời thường, Lưu Công Danh của cách mạng. Cũng trong ngày hôm đó, anh Ung Văn Khiêm và các anh ở Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ cho tôi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam bộ. Cả nước đứng lên cùng Nam bộ kháng chiến. Chẳng bao lâu, Pháp đã tiến tới Châu Đốc bằng hai đường: Từ Cần Thơ, Long Xuyên tới, từ Tà Keo kéo xuống Tịnh Biên, có cả máy bay Đacôta thả quân nhảy dù xuống Tri Tôn để móc nối với bọn phản động đang ẩn náu tại đây, chuẩn bị tái chiếm Châu Đốc. Tất cả các cơ quan dân chính của tỉnh và Nam bộ được lệnh rút sâu vào cứ, chỉ để lại lực lượng quân sự và dân quân tự vệ cầm chân giặc. Các cơ quan kháng chiến, lực lượng thanh niên đang hừng hực khí thế cầm súng đánh giặc, không ai muốn theo cơ quan vào rừng sâu. Trong khi đó, có một số bị tình nghi là Việt gian, chưa điều tra rõ để kết luận, nên không thể đem họ theo các cơ quan, mà cũng chưa thể thả họ được, phải có giám thị để cai quản họ. Anh Ung Văn Khiêm tham khảo tôi có làm được việc này không? Tôi trả lời không ngần ngại:

– Cũng là việc của cách mạng. Nếu các anh thấy việc này hợp với tôi, thì tôi nhận.

Anh Ung Văn Khiêm tỏ vẻ hài lòng và giao việc làm giám thị, còn gọi là giám đốc trại giam cho tôi. Anh Ung Văn Khiêm cho hơn một tiểu đội dân quân tự vệ giúp việc. Tôi biết cách mạng đã tin dùng tôi. Chính anh Ung Văn Khiêm sau này đã nói:

– Tôi biết anh là người từng đi tu và hiền hậu chất phác, vô tư. Anh không thể làm hại ai và cũng không thể là người phản bội, nên công việc giám thị thích hợp với anh!

Tình hình ngày càng phức tạp. Pháp cho viện binh và đánh lan ra khắp Nam bộ. Dù đã chuyển vào rừng sâu, nhưng trại giam dân chính này quá sơ sài, nếu đánh chiếm được, quân Pháp sẽ thả hết phạm nhân, biết đâu, trong số đó có những tên nguy hiểm. Sau khi họp bàn thống nhất, tổ chức quyết định cho sáp nhập trại giam tôi đang phụ trách với trại tạm giam của quân sự, gọi là Đề lao binh, trực thuộc Bộ tư lệnh quân khu. Tôi tiếp tục được giao nhiệm vụ làm Giám đốc Đề lao binh và được phong Đại đội trưởng.

Khi quyết định rời bỏ cuộc sống hiện tại để về quê nhà và quyết tâm đi theo kháng chiến, tôi không một chút vấn vương gì cuộc sống của một con người mà mọi người suy tôn là “Vua Phật”, cũng không màng giàu sang, danh lợi. Thế nhưng, trong thâm tâm tôi luôn nghĩ: Tôi sẽ phải trải qua một thử thách nào đó của tổ chức (lẽ tất nhiên thôi), vì tôi xa đất nước gần mười lăm năm, nếm trải bao thăng trầm và hiện vẫn còn mang quốc tịch nước ngoài, là nhà sư… Vậy mà, mọi diễn biến nhanh đến không ngờ. Mới hai ngày trước, tôi còn mặc áo cà sa; hôm sau, mặc bộ quần áo bà ba, cũng lội bùn, cũng ăn cơm với mắm sống như mọi người. Mười ngày sau tôi đã có trong tay một tiểu đội, làm giám thị trại giam rồi tiếp tục làm giám đốc Đề lao binh, Đại đội trưởng. Quê hương mở rộng vòng tay đón một đứa con lưu lạc trở về. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân đã kết chặt mọi người dân Việt Nam yêu nước thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh để đánh thắng quân thù, đáp lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12- 1946 của Hồ Chủ Tịch. Chính điều này đã xóa mọi băn khoăn trong tôi. Và khi được giao nhiệm vụ, tôi dặn với lòng quyết tâm hoàn thành tốt để không phụ lòng tin của tổ chức, mà người đại diện giúp đỡ tôi lúc đó là anh Ung Văn khiêm.

Đề lao binh do tôi phụ trách có những đặc điểm mà nhiều anh em hiểu biết lúc đó cho rằng trên thế giới không có một trại gam nào giống như kiểu Đề lao binh này. Hai trung đội quân nhân và gần một trăm “phạm nhân” trông ai cũng như ai: người quần áo bà ba, người quân phục đen. Trại không có hàng rào, không có lính gác. Có một số súng trường chỉ khi nào tập quân sự mới dùng đến. Hàng ngày, mọi người đi làm ruộng, làm rẫy, bắt cá, trồng rau cải thiện đời sống. Tối đến cùng hò hát. Khi đi lao động, “can phạm” tự mình đi bộ hoặc đi xuồng đến một tổ lao động nào đó (cày cấy, đắp nền nhà, đào đìa giúp dân, đắp cản ngăn sông gây chướng ngại vật, không cho tàu giặc vào vùng giải phóng; đi lao động cải thiện bữa ăn…), khi nào Ban giám thị hỏi thì trình giấy tờ.

Sở dĩ có chuyện tạm giam và gởi tại Đề lao binh lúc đó là do chánh quyền cách mạng còn rất non trẻ. Trình độ anh em cán bộ cấp lãnh đạo, chỉ huy lúc đó có người học vấn thấp, không có trình độ lý luận. Những thanh niên theo cách mạng lúc đó rất vô tư, nhiệt huyết và xốc nổi. Nhiều lúc anh em có thái độ dân chủ quá trớn, hay cãi lại cấp chỉ huy, có khi sẵn sàng cầm lệnh tới trại giam để chờ phân xử xem “chân lý thuộc về ai”. Từ đó có thông tư của cấp trên là: Cấp trên có quyền tạm giam cấp dưới ở mức độ nào đó. Trong một tuần thì tạm giam tại đơn vị; từ một tháng tới sáu tháng thì được phép gởi lại Đề lao binh; trên 6 tháng thì báo cáo Bộ tư lệnh, giao phòng Quân pháp xem xét trình Bộ tư lệnh để có thể đưa ra xét xử tại Tòa án binh. Tất cả “can phạm” kiểu này cần tạm giam để răn đe.

Công việc của tôi ở Đề lao binh không yêu cầu tham gia xử lý những trường hợp tạm giam các “phạm nhân”, mà chỉ tập trung hướng dẫn anh em tham gia sản xuất, cải thiện đời sống. Khi anh em đau ốm, đích thân tôi chữa trị bằng các bài thuốc kinh nghiệm, nếu không đủ điều kiện, khả năng thì đưa anh em đi quân y viện…

Cuối năm 1947, tôi được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Đó là một ngày thiêng liêng, đáng nhớ nhất trong đời tôi. Lúc đó tôi đã bước vào tuổi 47, mà tôi lại thấy mình thật trẻ trung. Năm 1997, nhà văn Tường Hạnh đến thăm tôi, Hạnh nhỏ hơn tôi hơn chục tuổi, người đã thay mặt tổ chức viết bản lý lịch cho tôi năm 1953 khi tôi học lớp chỉnh huấn của Quân khu ở Đầm Dơi, Cà Mau, do các anh Nguyễn Kim Cương, Hà Huy Giáp, Dương Quốc Chính giảng; nên chúng tôi rất thương nhau. Tường Hạnh hỏi tôi:

– Anh nhớ mình bao nhiêu tuổi Đảng không?

– 50 tuổi Đảng! – Tôi nói với Hạnh như thế, mặc dù hơn 20 năm nay, tôi không dự sinh hoạt Đảng, nhưng trong lòng tôi, tôi vẫn là một Đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam.

Chương 8. ĐOÀN TỤ GIA ĐÌNH

Khi ổn định nơi ở và công việc ở Đề lao binh đã vào nề nếp, tôi xin phép tổ chức liên lạc với gia đình. Đầu tiên tôi viết thư cho ba má tôi, theo địa chỉ cũ, báo tỉ mỉ trong thư cho ba má tôi biết tôi vẫn còn sống sau bao năm lưu lạc ở xứ người, ngày đất nước giành độc lập, tôi trở về tham gia kháng chiến.

Viết thư cho cha mẹ, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Tôi nghĩ, ngần ấy năm tôi xa quê, có biết bao biến cố, chiến tranh ly loạn, gia đình tôi ai còn, ai mất. Mẹ tôi đã mất hai người con là anh hai và em trai kế tôi, nay đến tôi đi biền biệt, chắc bà đau khổ lắm. Còn vợ tôi, không biết có còn chờ đợi tôi không, hay đã đi lấy chồng. Nếu cô ấy đi lấy chồng, tôi cũng không có lý do gì trách móc. Tôi cảm thấy mình có lỗi khi ngần ấy năm, để vợ tôi một nách ba con thơ, chịu bao cay đắng, tôi có bù đắp bao nhiêu vẫn chưa đủ, vì cuộc sống tha hương nơi đất khách tôi cũng đã có vợ có con. Tôi lương tâm dày vò cắn rứt… Tôi chỉ viết thư cho ba má tôi, để khi gặp lại gia đình tôi kể ngọn ngành…

Lúc ấy, ta đang đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Miền Tây Nam bộ có nhiều trận thắng lớn trong năm 1946 của “bộ đội Huỳnh Thủ” ở Lô 12, Sóc Xoài, Cầu Đúc Cái Sình, Ngã Ba Đình, Cây Bàng Vĩnh Hòa… Ta có vùng giải phóng Vân Khánh, Đông Hòa, Đông Hưng nối liền với căn cứ U Minh Thượng. Tôi nghĩ, gia đình tôi từ Mỹ Hiệp Sơn có thể tìm đường vào vùng căn cứ kháng chiến không mấy khó khăn, không biết do thư bị thất lạc hay gia đình ba má tôi không còn chỗ cũ nữa, tôi chờ mãi vẫn bặt tin. Trong khi đó, một người phụ nữ tôi mang nặng nợ áo cơm, nặng nợ ân tình là Huỳnh Thị Tổng, ở Tân Quới, Cao Lãnh, nghe tin tôi đi tu phật về tham gia kháng chiến, đang ở khu căn cứ Đồng Tháp Mười và U Minh Thượng đã lặn lội đến thăm tôi.

Thật ra, chuyện này, lúc dự lớp tập huấn đặc biệt năm 1953, ở Đầm Dơi, Cà Mau tôi không kể chi tiết với Phạm Tường Hạnh, nên Tường Hạnh nhầm Huỳnh Thị Tổng là người vợ do cha mẹ cưới đầu tiên cho tôi. Bây giờ hai bà đã qua đời. Lê Thị Ngân qua đời năm 1983, thọ 77 tuổi; Huỳnh Thị Tổng qua đời năm 1996, thọ 90 tuổi. Tôi muốn nói rõ hơn điều này để không tủi vong hồn cả hai người phụ nữ nặng ân tình với tôi, đều là vợ của tôi, cùng sinh con cái cho tôi.

Đoạn đầu tôi có nói về Lê Thị Ngân, người con gái cũng ở xứ Mốp Giăng – Mỹ Hiệp Sơn, do cha mẹ tôi cưới hỏi. Cô ấy sinh cho tôi ba người con, hai trai là Lưu Kiếm và Lưu Khỏe, một gái là Lưu Thị Hằng. Khi tôi trốn nhà ra đi, vợ tôi ở lại với cha mẹ tôi, làm dâu và nuôi ba đứa con còn nhỏ dại của tôi.

Trong thời gian tôi trốn ở Long Xuyên, Châu Đốc, có một gia đình chứa chấp tôi là gia đình ông Quảng Sào. Ông có người cháu ruột là Huỳnh Thị Tổng, góa chồng, có hai con trai nhỏ. Sợ tôi trốn mãi rồi sẽ bị bắt, ông Quãng Sào khuyên tôi ở lại ông sẽ bảo lãnh, giúp vốn cho làm ăn sinh sống, ông sẵn sàng gả đứa cháu gái của mình cho tôi. Gia đình này đã cưu mang tôi trong thời gian nguy khó. Lửa tình yêu đã bén trong tôi và Huỳnh Thị Tổng từ đây. Nhưng rồi tôi cũng phải ra đi nơi đất khách quê người. Để rồi đến ngày sum họp này, có hai người phụ nữ tôi cùng có trách nhiệm là vợ tôi ở quê và Huỳnh Thị Tổng.

Trong khi chưa liên lạc với cha mẹ và người vợ ở quê, thì Huỳnh Thị Tổng nghe tin tôi còn sống và đang ở chiến khu Đồng Tháp Mười, nên đã lặn lội từ Cao Lãnh vào thăm tôi. Tôi thật sự bất ngờ và cảm động. Cô ấy đã chờ đợi tôi hơn mười năm bằng một lời hẹn ước năm xưa. Còn tôi, tôi cứ nghĩ hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc hơn mười năm như vậy, có thể vợ tôi và cả cô ấy đều đã có chồng, có nơi nương tựa. Nay cô ấy đến tìm tôi trong hoàn cảnh gian khổ của cuộc sống kháng chiến nơi bưng biền, nhớ ơn nghĩa xưa…, tôi quyết định báo cáo với tổ chức đây là vợ của tôi. Huỳnh Thị Tổng chấp nhận cuộc sống kháng chiến, cùng ở lại với tôi trong trại Đề lao binh.

Hạnh phúc đã tuột khỏi tầm tay bao lần, giờ đây, như gương vỡ lại lành, tôi trân trọng hạnh phúc hiện tại. Song lòng tôi vẫn khôn nguôi nghĩ đến gia đình và người vợ cha mẹ cưới ở quê. Nàng cũng vì tôi vất vả nuôi ba đứa con. Nếu nàng đã có hạnh phúc, tôi đỡ băn khoăn, day dứt; nếu nàng vẫn còn sống như vậy chờ đợi tôi thì tôi là người có lỗi. Tôi cũng nghĩ đến An-na Ma-ri và gia đình ông I-bra-him. Không phải vì tiếc nuối cuộc sống của “Vua Phật”, mà nghĩ một ngày cũng nghĩa vợ chồng, hơn nữa, ông I-bra-him là một ông chủ tốt của tôi khi tôi sa cơ lỡ vận và cũng là người cha vợ nhân hậu mà tôi rất quý trọng. Đạo lý làm người và những năm tháng đi tu Phật gian khổ trong rừng sâu đã giúp tôi có cuộc sống giản dị, hướng tới cái thiện, cái tâm của con người. Tôi tâm niệm hãy sống vì con người, điều gì có ích cho con người thì làm, đừng bao giờ hại ai dù là điều vô tình rất nhỏ. Từ khi trở lại cuộc đời thường, tôi không bao giờ từ nan chuyện giúp đỡ mọi người, huống chi những người thân thiết, gắn bó với cuộc đời mình, làm sao tôi có thể vô tâm cho được?

Tôi mang những điều này tâm sự với Huỳnh Thị Tổng, cô ấy hiểu ra và chia sẻ cùng tôi chứ không ghen tức, ích kỷ. Tôi càng quý tấm lòng nhân hậu của cô. Cuối năm 1948, con gái đầu lòng của tôi và Tổng ra đời tại trại Đề lao binh Khu 8, Đồng Tháp Mười. Cô ấy giao cho tôi quyền đặt tên con. Tôi đếm các con chung, riêng của tôi và Tổng từ trên xuống và đặt đứa con này là Lưu Thị Bảy.

Ngày đầy tháng cho cháu thật vui. Vợ tôi nấu nồi chè trôi nước thật lớn để cúng bà mẹ sinh (mụ bà) cho cháu, rồi mời tất cả anh chị em trong trại Đề lao binh, cả các chú “can phạm”. Trong không khí ấm cúng của tình cảm gia đình và cuộc sống thanh bình hiếm hoi của chiến tranh, mọi người không ai giữ khoảng cách là cán bộ hay “can phạm”, mà tất cả gọi nhau là đồng chí, một niềm khát khao tình đồng chí thật sự. Bởi thật ra, họ cũng là đồng chí cả thôi. Đó là những quân nhân vi phạm đều lệnh, “cãi” lệnh cấp trên…, họ được đơn vị quyết định gởi vào đây để giáo dục một vài tháng rồi ra. Nhưng đơn vị gởi, rồi “quên” luôn anh em, nên có người đã hết “tội”, hoặc có khi không thấy có tội gì, cũng được giữ lại năm này qua năm khác.

Có lần, một đoàn cán bộ cấp cao đi công tác qua trại Đề lao binh, nghe bà con trong khu vực kể có một ông giám đốc Đề lao binh “rất thương lính” và có tài trị bệnh cho nhân dân cả vùng, một vị cán bộ cấp cao trong đoàn đề nghị ghé lại trại ăn bữa cơm để tìm hiểu tình hình.

Nhờ kinh nghiệm mười năm đi tu Phật trong rừng, tôi thuộc các loại cây lá có đặc tính trị bệnh. Cho nên anh em trong trại bị bệnh, thuốc tây lúc đó khan hiếm, tôi dùng thuốc nam trị bệnh cho anh em. Tiếng lành đồn xa. Bên ngoài các xóm lân cận khu Đề lao binh, có người bệnh, bà con mang đến nhờ tôi trị. Các loại ban như ban khỉ, ban cua, ban đen, ban đỏ thời đó chết như chơi, nhưng tới tôi, trị hết tận gốc, mà không mất tiền. Các loại bệnh gẫy chân tay, bong gân, rắn độc cắn… cũng rất nguy hiểm, bà con đến rước, có khi đêm hôm khuya khoắt, tôi cũng có mặt. Sau đó tôi chỉ cho bà con các loại cây lá có vị thuốc để họ tự trị bệnh khi cần thiết. Nhiều bà con đã trị được bệnh cho mình mà còn tìm được nhiều cây thuốc c đến tặng tôi để trị bệnh cho nhân dân và anh em ở trại.

Đoàn cán bộ quân khu đến trại, tôi cũng kể như thế. Trong bữa cơm thân mật, tôi mạnh dạn báo cáo lại cho một đồng chí cán bộ cao cấp:

– Trại Đề lao binh này, sao thấy gởi vào nhiều, mà không thấy thời gian xét hết hạn cho anh em ra. Có người vào mà không thấy ghi tội trạng gì, hoặc có ghi hai ba tháng “tạm giam”, rồi cứ để năm này qua năm khác, tội cho anh em lắm!

Nghe tôi kể, nhiều đồng chí trong đoàn ngạc nhiên và tỏ ra bức xúc. Hai tháng sau, một đoàn cán bộ thanh tra gồm: Phòng tham mưu, Phòng chính trị Quân khu tới trại Đề lao binh làm việc. Theo yêu cầu của đoàn, tôi mang toàn bộ hồ sơ giấy tờ của trại cho đoàn xem.

Gọi là hồ sơ, nhưng chỉ là những quyết định tạm giam của anh em khi mới vào nộp cho trại. Có giấy còn đọc được, có giấy nhòe nhoẹt do thời gian lâu và do cất giữ sợ giặc càn, máy bay bắn phá bị mất. Anh em quân nhân tạm giam đã đọc lại một cách trung thực nội dung của những giấy tờ nhòe nhoẹt đó cho đoàn nghe. Sau khi kiểm tra xong, đoàn về báo cáo lại tình hình cho Bộ tư lệnh, một thời gian ngắn sau, Bộ tư lệnh ra quyết định giải thể Đề lao linh.

Năm 1950, vợ tôi – Huỳnh Thị Tổng- sinh thêm một đứa con gái, cháu được đặt tên Lưu Thị Nga. Trong buổi cúng đầy tháng cho đứa con gái trước, anh em vui vẻ như thể là ngày “hấp hôn” cho vợ chồng tôi. Không có gì tặng vợ trong dịp này, tôi mang hai viên ngọc trước đây vị trụ trì chùa Tây Phương tặng cho tôi khi trở lại với đời vì đã đắc đạo, tặng lại cho vợ tôi. Tôi luôn luôn đeo hai viên ngọc này trên cổ, trước ngực. Giờ không phải ngại đeo nó mà tôi đem tặng vợ. Tôi muốn cô ấy giữ những kỷ vật đã gắn liền với một quãng đời gian truân đầy khổ hạnh, thử thách của tôi. Hai viên ngọc có hai đặc tính rất lạ là: Một viên khoảng ba tháng phải được uống sữa; một viên để ra ngoài là biết “bò”. Suốt thời gian giữ hai viên ngọc tôi đã chăm sóc chúng bằng hai đặc tính này. Cứ đúng thời hạn, tôi lấy viên ngọc biết uống sữa bỏ vào một cái ly nhỏ, rồi đi xin sữa các bà mẹ đẻ con so (con đầu lòng), đổ vào, để suốt đêm, ly sữa cạn hết. Còn viên biết “bò”, bỏ nó ra ngoài một ngày, một đêm nó di chuyển được khoảng hai, ba chục phân.

Tôi nói rõ cho vợ tôi biết những đặc tính của hai viên ngọc. Vợ tôi nghe vậy, cô ấy không nghĩ đến đặc tính của hai viên ngọc, mà lại nghĩ nó quý vì món quà đặc biệt, coi như là tài sản đáng giá. Cô ấy không đeo vào cổ như tôi, mà lại cất vào giỏ áo quần. Năm 1953, vợ tôi vào quân y sinh đứa con trai út. Tôi bận việc không đi đón được nên nhờ một cậu cựu tạm giam ở Đề lao binh đi đón bằng xuồng tam bản. Chẳng may, bị một chiếc ghe khác đâm phải trong khi nước ròng chảy xiết, xuồng vợ tôi lật úp, đồ đạc trôi hết, trong đó có hai hạt ngọc! May mà bà con và chú cựu trại nhanh trí cứu được hai mẹ con. Vợ tôi tiếc của xót xa. Tôi căn dặn cô ấy đừng nhắc lại mà tội nghiệp chú cựu trại, sợ chú lo lắng và buồn. Nghe tôi, vợ tôi không bao giờ nhắc lại chuyện này.

Khi Đề lao binh được lệnh giải thể, Bộ tư lệnh cho phép, anh em nào muốn trở về đơn vị cũ thì Phòng Tham mưu có trách nhiệm ký giấy cho anh em về. Ai muốn đi đơn vị khác cũng được giải quyết theo nguyện vọng. Ai không muốn đi đâu thì ở lại Đề lao binh để chuyển sang một đơn vị làm kinh tế cho Quân khu. Tôi được giao nhiệm vụ phụ trách đơn vị kinh tế này.

Hầu hết anh em đều muốn ở lại. Một phần vì tình cảm gắn bó giữa tôi và anh em, một phần vì những năm tháng ở Đề lao binh anh em quen lao động và lao động rất giỏi. Lúc ấy có phong trào “Thực túc binh cường” – tăng gia sản xuất, nuôi quân đánh giặc, cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Thật ra, làm lao động vô cùng vất vả: đào đất, cày cấy, giăng lưới, tát đìa, làm mắm… chuyện gì anh em cũng làm, chẳng ai nề hà. Lúc này, anh em rất vui vì mình có tên trong danh sách đơn vị làm kinh tế, có số quân đàng hoàng.

Giữa năm 1953, sau khi dự lớp Chỉnh huấn ở Cà Mau xong, tôi trở về đơn vị, tiếp tục phụ trách đơn vị kinh tế như trước. Tôi đã liên lạc được với gia đình ở Mỹ Hiệp Sơn. Lúc này cha mẹ tôi đã qua đời. Tôi ngậm ngùi vì không được nhìn thấy cha mẹ lần cuối. Mấy người em gái tôi kể lại toàn bộ chuyện gia đình từ khi tôi trốn đi. Gia đình tôi chạy loạn gần như phá sản hết. Người vợ trước của tôi và các con đang giữ phần đất cha mẹ tôi để lại.

Tội nghiệp vợ trước của tôi, thật ra, bà ấy đã hay tin tôi còn sống đi theo kháng chiến và đã có vợ con nên không đi tìm tôi. Suốt thời gian tôi xa quê, kinh tế gia đình khánh kiệt, vợ tôi đã phải bươn chải nuôi cha mẹ già và các con. Những năm yên giặc, vợ và các con tôi ở lại giữ phần đất hương hỏa này. Các em tôi hay tin tôi có vợ, thúc giục vợ tôi đi tìm tôi hỏi cho ra lẽ, nhưng bản tính dịu dàng, vợ tôi chấp nhận hy sinh, thiệt thòi về mình, bà ấy không tìm tôi để tôi khỏi phải khó xử. Còn tôi, trong thâm tâm và tình cảm mình, Lê Thị Ngân vẫn là người vợ đầu tiên do cha mẹ cưới, là người vợ tôi rất quý trọng.

Chương 9. TẬP KẾT VÀ 20 NĂM TRÊN ĐẤT BẮC

Trong những ngày nhân dân cả nước nô nức mừng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ (20.7.1954), đơn vị kinh tế của tôi được lệnh của Bộ tư lệnh giải thể, tập trung học tập các Nghị quyết của Đảng về tình hình và nhiệm vụ mới.

Xin ý kiến cấp trên, tôi họp tất cả anh em lại. Trước hết, đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi cho đồng bào cả nuớc, trong đó có đoạn biểu dương đồng bào Nam bộ “đi trước về sau” để tạo niềm tin, phấn khởi trong anh em. Sau đó, lập danh sách số anh em đã có gia đình tại địa phương đơn vị đóng, tổng kiểm kê tài sản của đơn vị. Số nào nộp về cho quân khu như ruộng vườn, đất đai thì nộp, số còn lại như hoa màu đang thu hoạch, nhà cửa, xuồng ghe, dụng cụ lao động… chia hết cho anh em có gia đình. Anh em nào muốn về quê, cần phương tiện ghe xuồng, cứ lấy dùng. Số anh được phân công đi tập kết hay được phân công ở lại miền Nam, đều cần một ít tiền chi tiêu, nên tất cả được chia đều ra, anh em vui vẻ cả, vì đó là công sức lao động của chính họ. Lúc đó, đơn vị nào cũng giải quyết như vậy.

Lúc ấy, sôi nổi và thời sự nhất vẫn là chuyện “đi cũng vinh quang, ở lại cũng vinh quang”. Người đi tập kết có trách nhiệm xây dựng lực lượng, học tập để phục vụ cho miền Nam sau này. Người ở lại có trách nhiệm đấu tranh với kẻ thù, bảo vệ Hiệp định Giơ-ne-vơ giữ vững hòa bình, thực hiện tổng tuyển cử, xây dựng cơ sở, để sau hai năm người đi và người ở sẽ sum họp, cùng nhau xây dựng đất nước. Người ra đi thì náo nức được học tập, được gặp Bác Hồ, được thưa với Bác chuyện chiến đấu ở miền Nam. Người ở lại, luôn dặn với lòng luôn kiên cường đấu tranh, thủy chung, son sắt với người ra đi. Chuyện cứ râm ran tưởng chừng như không dứt ra được. Nhiều câu chuyện thật xúc động: Mẹ chuẩn bị tiễn con đi, vợ chuẩn bị tiễn chồng, cha chuẩn bị tiễn con… Tôi còn nhớ, một anh đi tập kết cùng chuyến, quê ở Bến Tre, kể lại câu chuyện người vợ tiễn chồng đi tập kết gói theo nắm đất. Sau này câu chuyện cảm động ấy được đưa vào thơ ca, như chuyện bà má Năm Căn, mũi Cà Mau gởi ra Hà Nội cây vú sữa tặng Bác Hồ. Bài thơ “Gói đất miền Nam” bầu bạn với tôi suốt những năm sống trên miền Bắc yêu thương:

Đưa anh tập kết lên đường

Gói theo nắm đất tình thương gởi cùng

Đất này lấy ở bờ sông

Nơi em chiến đấu gài chông giữ làng

Đất này là đất vinh quang

Đánh lui tám trận Tây càn bủa vây

Bạn bè ngã xuống nằm đây

Hy sinh. Vĩnh biệt. Đất này phủ lên

Làng ta như đất vững bền

Anh đi ruộng lúa bờ kênh nhắn lời

Dù cho núi đổi sông dời

Đất này là đất của người Việt Nam

Trao anh nắm đất anh cầm

Bữa nay, mười bốn mai rằm, đã xa

Em thề với đất làng ta

Anh đi em quyết ở nhà đấu tranh.

Theo qui định chung lúc bấy giờ, cán bộ cấp đại đội đi tập kết được mang theo vợ con. Nhưng lúc ấy vợ tôi mới sinh con chưa tròn một tuổi, hai đứa lớn, một sáu tuổi, một bốn tuổi, nên tôi bàn để vợ tôi ở lại, tôi động viên bà ấy chỉ hai năm xa cách, rồi nước nhà thống nhất, gia đình sum họp. Vợ tôi an tâm ở lại. Tôi về quê Mỹ Lâm viếng mộ ông bà, cha mẹ tôi. Thăm mẹ con Lê Thị Ngân. Rất mừng là ba đứa con vợ trước tôi đã khôn lớn. Vẫn đức tính đảm đang, dịu dàng, chịu đựng hy sinh, vợ tôi đã nuôi dạy các con tôi ý thức sống cần cù, lao động tốt. Phần đất cha tôi khai phá, nay vợ và các con tôi canh tác mỗi năm đều rất trúng. Do đó, đời sống của vợ và các con tôi khá ổn định. Tôi an tâm ra đi, càng thấy thương và khâm phục người phụ nữ tôi luôn nặng nợ ân tình.

Trở về khu tập kết ở Chắc Băng, một điều bất ngờ và thật cảm động đến với tôi. Đó là người vợ Ấn Độ, An-na Ma-ri từ Campuchia đến thăm tôi. Bà ấy cho biết nhờ quân tình nguyện Việt Nam, Chính phủ kháng chiến Campuchia mà bà được qua vùng giải phóng Long Xuyên, Châu Đốc để xuống Chắc Băng thăm tôi. Lúc đó, mẹ con Huỳnh Thị Tổng cũng đang có mặt để chờ tiễn tôi đi. Hai người phụ nữ một là nông dân chân quê của Việt Nam, một là nhà quí tộc Ấn Độ đều gắn bó với cuộc đời tôi, cùng có mặt trong những ngày lịch sử này, đã không làm tôi khó xử, vì cách cư xử của họ rất đẹp. An-na Ma-ri không thể ở lại đây lâu với tôi, nên tôi và bà ấy đã sống một đêm nghĩa tình. Tôi đã giải thích cho Ma-ri hiểu vì sao tôi bỏ cuộc sống tu Phật để đi theo kháng chiến. Ma-ri không hề trách tôi vì đã bỏ mẹ con bà gần mười năm trời, mà trái lại, người phụ nữ có học thức này còn khuyến khích tinh thần yêu nước của tôi. Giải thích vì sao bà không trách tôi đã ra đi không một lời từ biệt, Ana Mari nói đi theo Phật, pháp tăng là hướng tới chân tâm, thánh thiện của con người, giác ngộ đi theo cách mạng cũng hướng tới những điều ấy, mà còn có ý thức lớn hơn là giải phóng đất nước và dân tộc. Ma-ri đã chịu ảnh hưởng gia đình của nhà chính khách Nê-ru (dượng rể của vợ tôi). Ông cũng đã lãnh đạo nhân dân Ấn Độ giành độc lập cho Ấn Độ. Những ý nghĩ tiến bộ và lời nói của An-na Ma-ri làm tôi thấy bà gần gũi hơnkhông chỉ là tình vợ chồng, mà còn có cả tình đồng chí trong sự đồng cảm và sẻ chia sâu sắc.

Trong bữa cơm chia tay “đại gia đình” (tôi và hai bà vợ) tôi làm phiên dịch tiếng Việt và tiếng Ấn Độ cho hai người nói chuyện với nhau. Thỉnh thoảng có những tiếng cười rất vui. Hôm sau, Ma-ri trở ra Rạch Giá, xe hơi của người nhà đón tại Tân Hiệp, để trở lại Phnôm-Pênh. Tôi nhờ Ma-ri chuyển lời hỏi thăm sức khỏe, xin lỗi và cảm ơn của tôi đến cha mẹ vợ ở Phnôm-Pênh.

Tôi đi tập kết chuyến cuối năm 1954 trên chiếc tàu Ki-lin-xki của Ba Lan. Đầu năm 1955 tôi ra đến Sầm Sơn. Anh em miền Nam tập kết ra Bắc được tập trung học tập tình hình, nhiệm vụ mới. Học xong, các đơn vị miền Tây được lệnh giải thể. Các anh em miền Nam gom lại lập những xí nghiệp thủ công nghiệp và về khu 4 thành lập các nông trường.

Tôi về nông trường cà phê ở Thanh Hóa. Vì có kinh nghiệm làm kinh tế lúc ở miền Tây và lúc quản lý anh em trại Đề lao binh làm lao động, tôi thấy mình có thể làm được công việc ở nông trường cà phê.

Đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, mọi thứ đều khó khăn thiếu thốn. Tôi nói với anh em: trước hết phải lo xây dựng nông trường bộ để có chỗ ăn, ở, làm việc lâu dài, chuyện gánh đất, xây lò gạch là công việc nặng nhọc, tôi đảm nhận. Địa bàn Thanh Hóa thuộc quyền quản lý của Sư đoàn 330 của miền Đông Nam bộ, do anh Đồng Văn Cống làm Tư lệnh. Tôi từng nghe tên anh Đồng Văn Cống mà chưa có dịp tiếp xúc. Nghe nói anh trưởng thành từ một du kích xã, nên anh có vốn thực tiễn thật phong phú và sống rất bình dân, gần gũi với mọi người, luôn quan tâm đến thuộc cấp.

Khi anh đến nông trường bộ, tôi không biết, nên đã đi gánh đất. Anh tiếp xúc với anh em nông trường, nghe anh em kể tôi từng đi tu đắc đạo ở Ấn Độ, trở về nước tham gia kháng chiến, anh Đồng Văn Cống muốn gặp cho biết tôi là người như thế nào. Thấy tôi gánh đất, mặt mũi nhem nhuốc, mồ hôi nhễ nhại, anh rất cảm động và dành cho tôi một tình cảm đặc biệt, mà lúc đó tôi chưa biết. Anh chỉ thăm, rồi đi. Sau đó, tôi được mời về văn phòng Bộ Tư lệnh Sư đoàn 330. Anh em nhìn tôi bằng cái nhìn trìu mến. Lúc đó, tôi mới biết anh Đồng Văn Cống đã hiểu tôi qua anh em nông trường và đã báo cáo tình hình của tôi về Tổng cục Chính trị. Tôi trở thành một “người khách đặc biệt” tại văn phòng Bộ Tư lệnh, ăn cơm và uống rượu với Tư lệnh Sư đoàn.

Sau đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cho người về nông trường cà-phê tại Thanh Hóa đón tôi ra Hà Nội. Mọi sự diễn biến khá nhanh và hơi đột ngột với tôi. Tôi cứ nghĩ khi đơn vị giải thể, chuyển anh em đi làm kinh tế, đi lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là hợp lý. Nhưng tại sao tôi lại được gọi về Hà Nội đột ngột, hay là khi Ma-ri về Phnôm-Pênh nói với cha vợ tôi, tôi đi tập kết, cha vợ tôi lại nhờ sứ quán Ấn Độ can thiệp để được gặp tôi, như ông từng làm trước đó, lúc tôi ở Anh quốc?

Tôi đang suy nghĩ mông lung, thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh hỏi tôi về nguồn gốc gia nhập quân đội. Vị tướng trẻ tuổi và tài năng này có giọng nói trầm ấm và có cái nhìn cương nghị nhưng trìu mến, đã tạo cho tôi cảm giác đầy tin cậy khi trò chuyện. Tôi đã kể lại tường tận việc đi tu phật của tôi trên đất nước Ấn Độ và chuyện riêng tư của tôi. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh hỏi tôi:

– Anh có muốn trở lại Ấn Độ không? Ấn Độ ngày nay đã giành được độc lập, không còn dưới thời nô lệ như xưa nữa.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng cho tôi biết về tình cảm của Bác Hồ chúng ta và thủ tướng Ấn Độ Nê-ru, tình đoàn kết giữa nhân dân hai đất nước.

Tôi trả lời:

– Tôi vì hoàn cảnh mà phải xa đất nước, rồi đi tu Phật cũng do bế tắc về phương hướng cuộc đời mà đi. Tôi là người Việt Nam. Giờ đây tôi đang ở đất nước mình, tôi muốn được làm việc gì cho ích nước lợi dân. Điều này trong kinh Phật cũng có dạy. Tôi cởi áo cà sa để khoác áo kháng chiến. Tôi đã thề dưới cờ Đảng một lòng tận trung với nước, với lý tưởng Đảng. Tôi trở về Ấn Độ để làm gì?

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhìn tôi trìu mến, niềm xúc động ánh lên trong tia nhìn ấy. Suy nghĩ một lát, đại tướng hỏi tôi:

– Anh có muốn đi học không?

Tôi mừng quá. Tất nhiên là tôi muốn và rất muốn nữa là đằng khác. Tôi trả lời ngay là muốn. Tôi chưa từng được học qua một trường lớp đàng hoàng. Từ nhỏ sống lênh đênh trên sông nước, học lóm bạn bè, học thực tế từ công việc là nhiều, đi tu phật thì học kinh kệ. Tôi tự biết mình trình độ còn thấp kém. Muốn phục vụ tốt cho cách mạng, cho đất nước, phải học tập.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nghe vậy rất vui. Theo cách Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nghĩ thì cấp bậc đại úy như tôi lúc đó, trong quân đội đang còn hiếm. Cấp này phải bố trí chức vụ lãnh đạo Trung đoàn, ít nhất cũng là Tiểu đoàn trưởng.

Thỏa thuận việc đi học trước tiên như thế. Chẳng bao lâu, tôi được cấp hộ chiếu để đi tu nghiệp ở Liên-Xô, tại Học viện quân sự và chính trị của quân đội Xô-viết. Được đi học tập trên đất nước của cách mạng Tháng Mười vĩ đại và đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa, là niềm khát khao và vinh dự lớn đối với tôi. Tôi đã có may mắn này, thì phải ra sức học tập để phục vụ tốt hơn cho đất nước.

Nhưng việc học tập của tôi không suôn sẻ. Gần một năm trời ở Học viện hầu như tôi không tiếp thu được những bài học liên quan đến lý luận, khoa học quân sự, cái cơ bản để người lính chiến đấu thắng lợi ở chiến trường.

Đại sứ quán ta ở Liên-xô được nhà trường thông báo tình hình học tập của tôi. Lúc ấy đại sứ tại Liên-xô là anh Nguyễn Văn Kỉnh. Anh tìm hiểu việc học của tôi rồi hết sức động viên tôi. Lúc ấy, chiến dịch “Tố cộng” và “Diệt cộng” của Mỹ-Diệm, máy chém được lê đi khắp miền Nam. Các anh băn khoăn không biết có phải vì nghe tin đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ở miền Nam đang bị giặc đàn áp khốc liệt và đang quật khởi vùng lên, tôi có thể vì thế mà nóng lòng, không an tâm học tập. Anh Nguyễn Văn Kỉnh động viên và giải thích: Học cũng là một nhiệm vụ, học để sau này về chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lời anh nói thấm vào gan ruột tôi. Nhưng thêm một học kỳ nữa, tất cả là ba học kỳ, trong các buổi thi, tôi chưa bao giờ bắn được một viên đạn thật trúng vào mục tiêu; thi lại lần thứ hai cũng như thế. Tôi đã học thuộc và chuẩn bị trước giáo trình, nhưng cũng không trình bày được một trận đánh nào có sẵn trong giáo trình, kể cả thế trận trình bày trước sa bàn. Nghĩa là mọi thứ có liên quan đến trận mạc, đánh chác, đều trôi tuột trong đầu tôi. Tôi đã thật lòng báo cáo với lãnh đạo là: Tôi đau đớn vì ở quê nhà kẻ thù sát hại đồng chí, đồng bào ta. Tôi đã nghe vụ thảm sát chợ Được, Vĩnh Trinh, vụ đầu độc tù nhân Phú Lợi, tôi đã quyết tâm học tập, để tham gia chiến đấu, trả thù cho quê hương, đồng bào, đồng chí, chứ không phải tôi học thiếu tập trung.

Cuối cùng, tôi được quyết định về nước, để chuyển hướng đào tạo khác. Mấy anh em quen thân gặp tôi băn khoăn chuyện này, sợ tôi sẽ bị kỷ luật, mất Đảng. Nhưng tổ chức đã không hành xử với tôi như vậy. Tôi luôn áy náy vì mình không hoàn thành nhiệm vụ. Tâm sự của tôi được anh em có trách nhiệm báo cáo lên cấp trên.

Vì có quá trình đi tu, nên tổ chức chuyển cho tôi hướng bổ sung cho Hội phật giáo Việt Nam. Từ Liên-Xô về nước, tôi được đưa đến tạm trú tại chùa Quán sứ – Hà Nội. Ở đây ba tháng, tôi không có ý định đi tu lần nữa, nên đã báo cáo với cấp trên. Sau đó, tôi được đưa một danh sách các cơ quan đang cần người phụ trách, để tôi lựa chọn cho thích hợp.

Tôi thấy mình luôn được sự ưu ái, nên đã quyết định chọn một nghề phù hợp với khả năng của mình và với công việc đó, tôi sẽ phục vụ được cho đất nước, góp phần nhỏ của mình cho cuộc đấu tranh thống nhất Bắc – Nam. Lúc đó, tất cả những người con miền Nam trên đất Bắc đều mang tình cảm và ước vọng như tôi. Tôi đề nghị được nhận công việc tại hợp tác xã xe ba gác vận chuyển vật liệu xây dựng tại bãi Phúc Xá. Tôi được bầu làm bí thư chi bộ và chủ nhiệm hợp tác xã. Đây là thời kỳ miền Bắc nước ta bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Thời kỳ gian khổ ban đầu như anh Tố Hữu viết:

Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá

Mỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngô

Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ.

Cuộc sống gian khổ, khó khăn của những năm đầu miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa như thế, còn miền Nam thì rên xiết, khổ đau dưới gót giày quân bán nước và xâm lược. Hợp tác xã tôi phụ trách, có nhiều anh em quê miền Nam và miền Bắc, chúng tôi sống với nhau bằng tình ruột thịt. Sau giờ lao động, đêm về, tôi đến nhà các xã viên thăm, động viên anh em và nghe đài, đọc báo để biết tin tức miền Nam. “Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc”, được đưa vào học trong nhà trường, được các cháu học sinh trường miền Nam số 12 chuyển đến cho chúng tôi đọc chung.

Năm 1964, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã lan ra miền Bắc. Thuốc trị bệnh và chữa các vết thương do bom đạn cho cán bộ, nhân dân cũng rất kham hiếm. Tôi nghĩ đến những bài thuốc Nam đã tích lũy, học được khi đi tu trong rừng Ấn Độ. Tôi bàn với anh em trong ban chủ nhiệm cáng đáng công việc giúp tôi, để tôi có thời gian đi tìm lá thuốc. Thời gian đầu, chỉ chữa trị kết quả cho mươi mười lăm người, rồi sau đó, cứ “tiếng lành đồn xa”, bà con cứ đến chỗ tôi ở làm việc ở bãi Phúc Xá xếp hàng xin thuốc. Dù là chữa trị bệnh (cảm mạo, thương hàn, gãy chân, tay, đau khớp, đau gan…) bằng thuốc Nam, không mất tiền, nhưng khi bệnh nhân tới, ngoài việc cho thuốc, hướng dẫn cách trị, tôi còn chỉ cho bà con các loại cây thuốc xung quanh, dễ tìm để bà con bệnh nhân tự tìm trị, nên nhiều người rất thích. Nhiều bệnh nhân được chữa khỏi trở lại trả tiền hoặc khi nhận thuốc đã đề nghị trả tiền cho tôi, tôi không bao giờ nhận của bất cứ bệnh nhân nào, dù chỉ một đồng bạc mà họ cho là ơn nghĩa. Tôi giải thích cho họ an tâm: Tôi làm việc có lương Nhà nước. Nghe vậy, nhiều người nghĩ tôi là cán bộ trong biên chế của ngành y tế chớ không phải ở hợp tác xã xe ba gác. Thấy tôi trị bệnh có hiệu quả cao cho nhân dân và cả một số cán bộ, chiến sĩ nên anh chị em trong ban chủ nhiệm hợp tác xã đã làm thay nhiều công việc cho tôi để tôi có thời gian làm thầy thuốc, chữa bệnh cứu người.

Chuyện chữa bệnh của tôi lúc đó xem như công việc tay trái, việc chính vẫn là chủ nhiệm hợp tác xã. Chuyện tay trái này đôi lúc cũng nhiều trái ngang và buồn cười. Có tin tôi trị khỏi nhiều loại bệnh, một số cán bộ không có thời gian đi khám và điều trị tại chỗ tôi, nên đã cho xe đến đón tôi tận nhà để trị bệnh. Tôi sẵn sàng đi và chăm sóc các bệnh nhân như vậy. Do đó, chuyện chữa bệnh “mát tay” của tôi lan đi nhiều nơi và được nhiều người biết, trong đó có cả cán bộ cao cấp. Bộ Y tế đã cử người đến kiểm tra, họ thấy tôi không có giấy phép hành nghề; các món thuốc chỉ là các loại lá cây khô, dồn vào mấy cái bị lớn nhỏ đủ cỡ. Có ý kiến cho rằng tôi là lang băm bịp người. Đến khi tìm hiểu cặn kẽ, họ biết tôi làm việc tại hợp tác xã xe ba gác, tôi trị bệnh hết cho rất nhiều người và không lấy tiền, họ mới báo cáo cụ thể cho Bộ trưởng Bộ Y tế, lúc đó là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Bộ trưởng giao trách nhiệm cho Vụ dược chính và Ban đông y tới làm việc với tôi. Các cán bộ chuyên môn này làm việc cẩn trọng. Họ lấy toàn bộ các loại lá cây tôi dùng chữa bệnh, kêu tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi không biết tên, chỉ nhớ theo trí nhớ của mình khi trị bệnh trong rừng, biết đó là cây có vị thuốc tên Ấn Độ còn tên Việt là gì thì tôi không biết.

Tôi nghĩ việc chữa bệnh của tôi bằng lá cây chắc chấm dứt từ vụ kiểm tra này, nhưng không phải vậy. Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã chỉ thị cho Vụ dược chính cử một cán bộ chuyên môn theo tôi lên rừng, chụp hình các loại thuốc tôi đã hái, dịch tên Ấn Độ qua tên Việt Nam, vào sổ thành một danh mục cẩn thận và qui trình tôi sử dụng nó như thế nào vào việc chữa trị các loại bệnh. Tôi thật mừng. Vì công việc chữa bệnh cứu người bằng cây lá không tốn kém tiền bạc của tôi đã được cơ quan chuyên môn (Bộ Y tế) chấp nhận và quan tâm, giúp đỡ. Từ đây, “việc giúp cho đời” của tôi không có gì trở ngại nữa. Hay tin này, anh chị em đồng hương miền Nam khuyến khích tôi lắm. Nhiều người bệnh được tôi chữa khỏi, đã tích cực tìm cây thuốc giúp tôi. Bạn bè đi công tác ở vùng cao cũng nhờ dân địa phương tìm giúp, kho thuốc của tôi vì thế mà nhiều và phong phú thêm.

Năm 1962, tôi bước vào tuổi sáu mươi hai, tôi không làm chủ nhiệm hợp tác xã xe ba gác nữa, tôi được chuyển qua cơ quan nghiên cứu đông y của Ban đông y, Bộ Y tế. Nói là nghiên cứu thì phải có các bài viết đúc kết kinh nghiệm thực tiễn về chữa trị bệnh bằng phương pháp đông y có hiệu quả và còn hạn chế như thế nào hoặc có công trình nghiên cứu về các loại cây thuốc nam v.v… nhưng tôi vốn không phải là người viết lách giỏi ở lĩnh vực này, nên công việc chủ yếu của tôi là chữa bệnh bằng kinh nghiệm thực tế. Tình hình thuốc Tây còn kham hiếm, hơn nữa đất nước vẫn còn nghèo, một nửa đang chiến tranh, cần sự chi viện, hỗ trợ của hậu phương miền Bắc, nên miền Bắc phải thắt lưng buộc bụng vì miền Nam. Vì vậy, chữa bệnh bằng cây thuốc nam có hiệu quả, là đã tiết kiệm được một phần ngân sách cho Nhà nước. Tôi thấy công việc mình làm có ý nghĩa như vậy, nên rất vui vẻ, không nhận thù lao, không nhận bất cứ đồng bạc nào của bệnh nhân. Bệnh nhân thì nhiều, không sao nhớ hết, nhưng có những trường hợp cảm động, khiến tôi nhớ mãi.

Dạo còn ở khu Ba Đình, gần nhà tôi có một cửa hàng bán gạo. Hàng tháng mua gạo, phải đứng xếp hàng. Cô nhân viên bán gạo, thấy tháng nào cũng có một ông già miền Nam đi một mình đến xếp hàng mua gạo, cô hỏi thăm, biết tôi ở một mình, phải đi chợ, tự nấu ăn và làm mọi thứ. Cô thông cảm và đề nghị được nhận giữ sổ gạo của tôi, để hàng tháng cô đong sẵn tôi đến lấy, hoặc tiện thể cô chở về nhà hộ tôi. Đôi lần ghé lại, cô thấy tôi chữa bệnh cho nhiều bệnh nhân, cô mới mạnh dạn tâm sự là cô đang có khối u ác tính ở vú, người ta đoán là ung thư. Cô không dám nhận lời yêu người thanh niên đang hết lòng yêu thương cô, vì sợ mình không mang lại hạnh phúc cho người ấy. Thấy cô tuyệt vọng thật là tội nghiệp. Tôi an ủi cô:

– Cháu an tâm. Bệnh này mới ở giai đoạn đầu, bác sẽ chữa khỏi cho cháu, để cháu có gia đình, có con cái và hạnh phúc.

Nghe vậy, cô gái bật khóc và nói như van nài:

– Bác ơi! Bác cứu cháu với. Mọi người nói bệnh này chỉ có chờ chết và trị tốn kém lắm. Cháu đâu có tiền mà hy vọng sống.

Tôi nói quả quyết để trấn an cô gái “Cháu hãy tin, bác nói chữa được là được”. Gương mặt cô gái bừng sáng.

Hàng ngày cô vẫn đi làm, cô tạt qua chỗ tôi nhận thuốc về nấu uống và đắp thuốc. Khoảng ba tháng sau, khối u biến mất. Cô mừng quá, đến xá, lạy tôi và xin tôi nhận cô làm con nuôi. Hai năm sau cô có gia đình và sinh được hai đứa con một gái, một trai. Ngày nghỉ, vợ chồng cô đưa các con đến chơi, chúng gọi tôi bằng ông ngoại thật vui.

Một bệnh nhân khác, quê ở Phù Mỹ, Bình Định, đi tập kết, lấy vợ người Yên Dũng, Hà Bắc, có đến năm đứa con. Cậu này bị bệnh viêm thần kinh tọa, gây đau nhức và teo cơ cả hai chân, một chân bị liệt chỉ còn da bọc xương. Anh em đồng hương miền Nam đến thăm, cậu khóc, vì nghĩ mình sẽ chết trên đất Bắc, không nhìn thấy được ngày Bắc Nam sum họp. Mọi người an ủi. Cậu ta kể đã đi điều trị hết tất cả các bệnh viện đông tây y tám năm liền mà bệnh không thuyên giảm. Tôi kêu người nhà cậu ta chở đến nhà tôi, ở hẳn đó cho tôi theo dõi và chữa trị.

“Con bệnh” này thật dễ thương, nghe răm rắp theo thầy thuốc và rất có nghị lực, siêng năng tập tành. Thế là sau ba tháng điều trị, cậu ta lên được hơn 8 kí lô. Người nhà đến đón về, mặt ai cũng tươi rói. Gần một tháng sau, từ Hà Bắc, cậu chở 30 kg gạo về Hà Nội cho tôi. Hôm đó, có anh em miền Nam đến chơi, người con nuôi của tôi là Lưu Tấn Đức công tác ở Sơn La về, gửi cho tôi một gùi thuốc nam, đã chứng kiến cảnh “hồi sinh” của cậu bệnh nhân này, mọi người vui mừng và kinh ngạc khi nhìn đôi chân teo tóp trước đây, nay đầy đặn và đạp xe mấy chục cây số, còn chở 30 kg gạo cho tôi. Một bác sĩ ở bệnh viện E Hà Nội, bằng tấm lòng lương y, đã viết thư biểu dương, khuyến khích tôi tiếp tục làm nghề, có gì khó khăn cứ đề xuất cho Bộ Y tế hỗ trợ. Tôi nói với anh em và cả các con nuôi của tôi:

– Làm gì giúp ích cho con người thì cứ làm. Đừng đòi hỏi hay mong chờ người ta báo đáp, đừng lợi dụng nghề nghịệp mà bóc lột bệnh nhân là không có đạo đức.

Từ mấy ca bệnh hiểm nghèo này được tôi chữa khỏi, có người kêu tôi kể cho họ nghe để họ viết bài, gởi báo y học thế giới lãnh nhuận bút xài, tôi cũng nói lại lời đã nói với các cháu tôi. Sau đó một linh mục đến gặp tôi, nhờ tôi chữa bệnh cho một cha xứ ở khu 4 (Thanh Hóa) bị bệnh tràng nhạc (nổi hạch độc quanh cổ), đây là một dạng ung thư. Tôi đã trị khỏi. Vị cha xứ này nói:

– Nếu ông cần mua một căn nhà ở Hà Nội, tôi mua ngay để đền ơn ông. Tôi nói với ông ấy: “Tôi ở nhà Nhà nước và Nhà nước phát lương cho tôi. Tôi biết trị bệnh là trị cho dân, trách nhiệm của tôi”.

Vị linh mục này biết tôi từng đi tu phật, nên sau khi cảm ơn và chia tay tôi, ông đã nói: “Các bậc chân tu thánh thiện của Phật giáo hay Thiên Chúa giáo đều muốn làm cho đẹp đời, đẹp đạo, đều vì con người và cứu người”. Tôi không giải thích gì, nhưng cảm thấy mừng vì trong nhận thức, người ta không còn phân biệt giữa hệ tu này, tu khác, mà đã nhận ra chân tu là hướng cái tâm về chân, thiện, mỹ.

Năm 1964, giặc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Lúc này tôi đã nghỉ hưu, chuyển về ở Nghĩa Đô. Lúc bấy giờ, anh em miền Nam tập kết cùng cán bộ miền Bắc đã có nhiều đợt đi B (vào miền Nam chiến đấu). Nhà tôi ở Nghĩa Đô, thường là điểm hẹn của anh em đồng hương về miền Nam. Mỗi lần gặp nhau, anh em ngồi vây quanh chiếc đài bán dẫn (ra-đi-ô) để nghe tin tức miền Nam. Nghe tin chiến thắng là anh em ôm nhau mừng, nhảy hét hò như trẻ con vậy. Còn tin giặc thảm sát đồng bào ta, cùng đồng bào cả miền Bắc, anh em cũng hô muốn bể lồng ngực: “Tất cả cho miền Nam, tất cả để đánh thắng quân thù”. Lúc ấy, trên đài có chương trình “Tiếng hát gởi về Nam”. Nghe thật tha thiết, tình cảm Nam Bắc thật thiêng liêng, ở Hà Nội có hẳn một con đường mang tên Nam Bộ. Tôi nhớ có lần Huỳnh Thiện Phương, trước khi đi B, ghé lại nhà, kêu tôi đặt trúm, bắt lươn về nấu canh chua để anh em ăn chia tay. Trong bữa cơm, anh em hứa hẹn với nhau, mỗi người về Nam, làm việc gấp đôi, gấp ba cho người còn ở lại (Thiện Phương sau này phụ trách tham mưu trưởng Sư đoàn 8). Sau này, thành nếp quen một vài tuần, anh em lại kéo đến nhà tôi. Còn tôi, có nhiệm vụ “tự túc” lương thực, thực phẩm chờ anh em đến để bồi dưỡng, rồi anh em lại chia tay mỗi người mỗi ngả. Có người về Nam chiến đấu, vĩnh viễn ra đi…

Khi tôi không còn làm việc ở cơ sở nghiên cứu đông y, các bệnh nhân vẫn tìm đến Nghĩa Đô nhờ tôi chữa bệnh.

Một hôm trong lúc đi phố ở Hà Nội, tôi tình cờ gặp một người đàn ông đang được người đàn bà dắt đi một cách khó nhọc. Người đàn ông bị méo miệng,tay run rẩy hay co giật, chân đi lựng khựng từng bước một. Tôi đi theo họ, quan sát và nói:

– Bệnh của anh, tôi sẽ chữa khỏi. Anh về, nói người nhà đưa đến nhà tôi.

Tôi nói và lấy bao diêm quẹt, ghi địa chỉ nhà cho anh ấy đến. Hôm sau họ đến, tôi mới biết cả hai là vợ chồng và đều là bác sĩ cùng làm việc ở Đại học Y Dược Hà Nội. Bệnh của anh được chữa rất nhiều thuốc nhưng không thuyên giảm. Có người khuyên tôi:

– Người ta là bác sĩ. Nhiều bác sĩ đã chữa không hết. Anh nhận chữa sẽ mất uy tín đó!

Tôi giải thích cho mọi người hiểu đây không phải là vấn đề uy tín (tất nhiên tôi luôn trọng uy tín và danh dự thầy thuốc của mình), mà vấn đề cứu người là trên hết, nếu làm hết cách, mà không được thì chịu bó tay.

Bằng phương pháp bấm huyệt kết hợp với đánh thuốc cao (cây thuốc nấu thành cao) và thuốc rượu, mỗi lần 15 phút, làm liên tục khoảng 10 lần như vậy, miệng người bác sĩ này hết méo, tay hết co giật; chân đi lại bình thường. Hôm ấy nhà tôi có nhiều bệnh nhân. Anh ta vừa chạy quanh sân vừa vung tay cho mọi người xem. Vợ anh mừng quá kêu lên:

– Cụ ơi! Mọi ngày, cháu còn phải đút cơm cho anh ăn. Mọi sinh hoạt đều phải có người giúp.

Nghe chị vợ nói, tôi lật đật vào bếp bới chén cơm và mời anh ăn. Anh ta tự bưng chén và cầm đũa ăn ngon lành (có lẽ vì mừng nên anh ăn ngon như vậy).

Thấy bệnh nhân hết bệnh vui, tôi cũng vui lây. Vào thời điểm này, thuốc đã hết và nhiều vị thiếu, vì bệnh nhân đến chỗ tôi ngày càng đông. Hay tin này, nhiều anh em đi công tác các tỉnh vùng núi, trung du, trong đó có những bệnh nhân tôi điều trị khỏi, đã xung phong đi tìm thuốc giúp tôi, để tôi có thời gian trị bệnh. Có người gùi đến cả bao. Thấy vậy, tôi đòi trả tiền công, họ kêu lên:

– Trời ơi! Ông bỏ công trị bệnh cho mọi người, không lấy của ai một xu, chúng tôi giúp ông tìm thuốc mới đúng đạo lý con người chớ!

Nhờ có nguồn thuốc mới này, tôi trị được cho vài chục bệnh nhân nữa, trong đó có một ca khi gặp tôi đã trăn trối:

– Anh Ba ơi! Chắc em không trở về miền Nam được rồi! Hai đứa con em còn ở lại miền Bắc, có gì anh thay mặt em, dạy bảo các cháu! Đứa nào có vợ, anh làm chủ hôn…

Nghe anh ta nói vậy, tôi đến xoa lên cái bụng đang sưng như cái trống chầu của anh và đùa:

– Sao, có thai tháng thứ mấy, tôi đỡ đẻ cho. Nói vậy chớ bệnh của anh tôi cho uống 150 thang thuốc, 149 thang cũng không khỏi.

Hai người con trai anh này vừa tốt nghiệp trường sĩ quan ra. Thấy ba mình bệnh, mặt hai cậu buồn rũ. Tôi an ủi:

– Hai cháu cứ về đơn vị làm việc. Để ba cháu lại bác nấu cho đủ 150 thang thuốc để ba cháu uống xong là vượt Trường Sơn về Nam cùng bác.

Người bệnh đặc biệt này của tôi hiện còn sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Thỉnh thoảng kêu các con chở về Rạch Giá thăm tôi. Lần gần nhất, cách đây cũng bảy năm rồi.

Lần chữa bệnh này được xem là lần cuối cũng trên đất Bắc, thật đặc biệt và xúc động. Hôm ấy khoảng giữa tháng Chạp năm 1974, có một đoàn sĩ quan cao cấp trong Quân đội đến nhà tôi, trong đó có một số anh em đồng hương miền Nam. Thấy tôi đang nấu thuốc cho bệnh nhân, anh em chào tôi và nói:

– Miền Nam thắng lớn như chẻ tre. Anh truyền nghề cho một số anh chị em ở tại miền Bắc, còn anh thì chuẩn bị về miền Nam, ngày giải phóng miền Nam gần lắm rồi!

Trong nhà tôi có treo một bản đồ Việt Nam. Hàng ngày, tôi theo dõi trên đài, giải phóng tới đâu, tôi lấy bút chì đỏ tô màu đến đó. Người con nuôi của tôi là kiến trúc sư, mỗi lần về thăm tôi, đều mang sách báo viết về miền Nam cho tôi đọc. Tôi thích tập thơ Nước non ngàn dặm của anh Tố Hữu. Tôi đọc hoài đến thuộc làu. Nghe anh em nói vậy, tôi liền đọc mấy câu thơ Tố Hữu nói đúng tâm trạng mình:

Nửa đời tóc ngả màu sương

Nhớ quê anh lại tìm đường thăm quê

Đường về như tỉnh như mê

Đường ra phía trước đường về tuổi xanh

Đã đi muôn dặm xa gần

Nay về Nam cũng bước chân bồi hồi

Sông Bến Hải bên bồi bên lở

Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương…

Anh em đồng thanh đọc với tôi. Mấy anh em quê miền Nam rơm rớm nước mắt. Vì là bí mật quân sự, hơn nữa tôi biết anh em đang chuẩn bị đi chiến trường nên tôi không hỏi bất cứ tên ai trong đoàn, tôi nói với tất cả:

– Tôi biết anh em mình đã được kiểm tra sức khỏe đặc biệt trước khi đi đánh một trận cuối cùng giành thằng lợi quyết định. Bây giờ anh em nào cần tôi giúp gì, khó khăn như thế nào tôi cũng sẽ làm được.

Một anh cho biết có chứng mất ngủ cả chục năm nay; anh khác bị viêm đầu thống, anh thì bao tử, anh thì đại tràng, anh khác tiểu gắt, thận… Tất cả đều đã được chữa trị ở nước ngoài. Nhìn những gương mặt gọi là bệnh nhân mà tươi rói ấy, tôi biết các anh đang nóng lòng về miền Nam để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” để Bắc Nam sum họp như mong ước của Bác Hồ xóa nỗi đau đất nước bị chia cắt 20 năm.

Lần chữa bệnh ấy, anh em chia tay nhau. Sau này, tất cả anh em có liên hệ lại và cho tôi biết, bệnh của họ đã khỏi ngay sau lần trị đó nên tất cả đều phấn khởi và mong gặp tôi tại thành phố mang tên Bác.

Đúng như lời hẹn ước trong lần chữa bệnh cho anh em đi chiến đấu ở miền Nam, ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước toàn thắng. Tôi vẫn là người không có tài sản, chỉ có tấm lòng đi theo Đảng và một nghề làm thầy thuốc chữa bệnh cứu người nên một tháng sau ngày giải phóng, tôi một thân một mình, nhảy xe theo bạn bè về Nam.

Hai mươi năm trên đất Bắc, hậu phương lớn nuôi tôi và những đứa con miền Nam, bằng những hạt gạo ân tình còn sẻ nửa cho miền Nam chiến đấu. Vì miền Nam lớp lớp thanh niên miền Bắc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Nôn nao nỗi nhớ quê nhà hai mươi năm xa cách, nhưng xa nơi gắn bó hai mươi năm, lòng lại bồi hồi, thật khó tả. Người ta nói “đất hóa tâm hồn” đúng là vậy!

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,