Thử bàn về biểu hiện của tôn giáo

Đặng Nghiêm VạnXã hội học
12:41' CH - Thứ sáu, 24/10/2014

1/ Là sản phẩm của xã hội, tôn giáo tồn tại và thay đổi với xã hội loài người. Con người có nhu cầu vật chất, cũng có nhu cầu tinh thần trong đó có nhu cầu tôn giáo.

Đã có một thời, mỗi một thị tộc, bộ lạc, một dân tộc đều có tôn giáo riêng của mình. Về sau, qua sự giao lưu văn hoá (trong đó có tôn giáo) trong từng khu vực hoặc trên khắp toàn cần, bằng phương pháp hoà bình hay vũ lực, nảy sinh hiện tượng có nhiều tôn giáo phổ cập trên toàn cầu (Đạo Kitô, Đạo Hồi, Đạo Phật…) hoặc trong từng khu vực trên nhiều quốc gia (Đạo Khổng, Đạo Giáo, Đạo thờ cúng tổ tiên), ngược lại có hiện tượng một quốc gia có nhiều tôn giáo. Cần nhắc một điều qua thời gian và không gian cho dù cùng một tên gọi, bên cạnh những điểm chung, sự biểu hiện của một tôn giáo cũng lại khác nhau ở từng thời điểm lịch sử và ở từng quốc gia dân tộc.

Hiện nay, tình hình tôn giáo có chiều hướng dương biến đổi. Sự độc tôn của một tôn giáo trong một quốc gia đã bị cách mạng tư sản dân quyền bắt đầu phá vỡ. Thiết chế thế tục được chấp nhận ở một số nước, chính sách tự do tôn giáo, không phân biệt dối xử với các tôn giáo khác nhau được thực hiện rộng rãi hơn ở nhiều nước. Ở những nước còn duy trì thể chế quốc giáo cũng không thể đàn áp, phủ nhận các tôn giáo cùng tồn tại như thời tiền công nghiệp, nếu chăng chỉ có sự phân biệt đối xử.

Xu thế thế tục hoá, cá nhân hoá từ đấy dẫn đến sự phân chia thành nhiều hệ phái hoặc sự xuất hiện những hiện tượng tôn giáo mới. Đặc biệt xu thế dân tộc hoá là những xu thế dương diễn ra trên phạm vi toàn cầu, cũng như ở từng nước, với những mức độ khác nhau. Trong một xã hội mà vai trò cá nhân (hiểu theo đúng nghĩa của nó) được tôn trọng quyền tự do, bình đẳng được đề cao, thời chế độ độc thần trong một tôn giáo cũng bị số người ngày một đông hoài nghi. Cần chú ý nhận xét của A.Malraux: "Vấn đề then chốt ở cuối thế kỷ này là vấn đề tôn giáo được diễn ra dưới một dạng khác với sự hiểu biết của chúng ta, cũng như đạo Kitô đã tiến hành đối với những tôn giáo cổ đại. Nhưng nó sẽ không còn là vấn đề Đấng Tối Cao. Con người sẽ thấy không chỉ có một tôn giáo, mà nhiều tôn giáo: hay như tên một cuốn sách, con người sẽ ra khỏi những tôn giáo, mà lại trở lại cái tôn giáo.

2/ Một vấn đề đã manh nha từ cuối thế kỷ thứ XIX và đến sau Đại chiến thế giới thứ hai, được hầu hết giới khoa học xã hội và nhân văn đồng ý là "Thuyết tương đối văn hoá hiện đại đã chấm dứt tình trạng toàn cầu hóa những khái niệm đặc thù của văn hoá phương Tây". Công bằng mà xét, do sớm xây dựng được một nền công nghiệp hiện đại, ngành khoa học có tính hệ thống được bắt đầu ở Châu Âu và những khái niệm cơ bản về các ngành khoa học, kể cả về khoa học xã hội và nhân văn cũng được xây dựng đầu tiên ở đó. Cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân, tiếp theo là sự bừng tỉnh và trỗi dậy của các quốc gia – dân tộc phương Đông, thúc đẩy các nhà học giả phương Tây tiếp cận và nghiên cứu với những nền văn minh ngoài Châu Âu. Từ sự ngạc nhiên, đến sự lúng túng do không thể lý giải đúng đắn những hiện tượng xã hội, văn hóa phương Đông theo những khái niệm quen thuộc ban đầu từ Châu Âu, một số học giả trên đã hoài nghi, gắng thoát ra cái nhìn theo chủ nghĩa dân tộc trung tâm (ethnocentnsme), nhưng chẳng phải dễ dàng gì do thiếu sự hiểu biết đối tượng mình đương tiếp cận, một số ít do cái nhìn trịnh thượng đầy sô-vanh của bản thân.

K.Marx và F.Engels đã thấy được điều đó và đã có một số ý kiến về phương Đông trên các tác phẩm của hai ông về phương diện chính trị - xã hội. Với sự thận trọng đáng kính phục, để khái quát hoá, K.Marx chỉ ghi lại trong một bản nháp phân tích có hệ thống về các hình thái có trước sản xuất TBCN, ở đó ta thấy được tính đa dạng trong sự phát triển thống nhất của nhân loại và những đặc thù của phương Đông mà ông gọi là phương thức sản xuất Châu Á.

Bản thảo đó đã soi sống cho việc phân tích đúng đắn xã hội Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung thời tiền TBCN.

Điều dáng ngạc nhiên là với thực tiễn của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, với vốn hiểu biết khá sâu sắc về phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, với việc bôn ba khắp các Châu Phi, Mỹ, Âu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được sự khác biệt đó ngay từ năm 1924 trong một tài liệu Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là tòan thể nhân loại.

Mác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải qua ba giai đoạn chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản và trong mỗi giai đoạn ấy, cuộc đấu tranh giai cấp khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời tham gia công việc này”…

Những ý kiến trên được đưa ra vì Hồ Chí Minh chưa tiếp cận được tài liệu của C.Mác nói trên xuất bản sau đó một thời gian.

Như vậy là nhận thức của C.Mác và Hồ Chí Minh, những nhà tư tưởng lớn, đã gặp nhau. Ở Việt Nam, không có chế độ chiếm nô điển hình, cũng như không có chế độ nông nô theo kiểu thời Trung cổ Châu Âu. Đó là kết luận gần như thống nhất của giới khoa học ngày nay.

3/ Vấn đề đông, tây lại trở nên phức tạp hơn khi nghiên cứu lĩnh vực thuộc về tâm thức tôn giáo, do đặc trưng của nó không chỉ là một ý thức hệ, mà còn là một hiện tượng văn hoá, xã hội, nhất là khi nó đã ăn sâu bén rễ vào một cộng đồng và trở thành một tập tục gắn chặt với những hiện tượng chủ yếu và quan trọng trong đời sống của một con người, một cộng đồng. Hiểu tường tận được nó không phải là dễ, không chỉ đối với các học giả phương Tây, mà cả với bản thân các học giả phương Đông đã chịu ảnh hưởng của nền học vấn phương Tây. Công bằng mà nói, chính một số ít các nhà học giả phương Tây lại đã nhìn ra trước sự khác biệt Đông Tây, trong khi một số đông vẫn như "gà bị hóc tóc". Rất gần đây thôi, vấn đề mới được rõ ràng hơn, tuy rằng về nguyên tắc người ta đã hiểu "Khái niệm tôn giáo thuần tuý phương Tây không tương đương với những khái niệm của những nền văn hoá khác".

Linh mục L.Cadière đã sớm nhận thức ra điều đó khi nghiên cứu tôn giáo Việt Nam, tuy lúc ban đầu ông vẫn không khỏi lúng túng khi lý giải những vấn đề cụ thể. Ngay từ nhưng năm đầu thập kỷ thứ II (1913), trong Hội nghi tôn giáo - dân tộc học ở Louvain, ông đã có một cái nhìn khái quát đáng chú ý: "Với người thổ dân, chúng ta là người xa lạ, là người thuộc về một chủng tộc khác, một tôn giáo khác. Chúng ta là những người đã tấn công vào thánh thần của họ, là đại diện một dân tộc đã thống trị tổ quốc họ, đã là người đồng tộc của những quan cai trị đã đòi hỏi họ những thuế má đáng nguyền rủa”. Trong lĩnh vực tôn giáo, L.Cadière, một học sinh trường thày dòng, đã đưa ra một nhận xét rất đáng trân trọng, khi ví tôn giáo Việt Nam giống như một khu rừng nhiệt đới với những vẻ muôn màu tuy khác biệt, nhưng vẫn là một. Tiếp đó ông viết “Những dân tộc Viễn Đông, đặc biệt là người Việt Nam, là người mang đậm tâm thức tôn giáo (Tác giả nhấn thạnh). Thuật ngữ tôn giáo bao hàm nhiều mức độ, sắc thái. Nếu ta hiểu tôn giáo là niềm tin vào một Đấng Tuyệt đối, đầy lớn lao và hoàn hảo, là sự hợp nhất bằng tất cả tấm lòng của bản thân với Đấng tối cao hiện diện đi khắp mọi nơi, là sự hợp nhất bằng cả trái tim với Đức Chúa đầy lòng bác ái, ngự trị và nắm giữ tất cả. Cuối cùng vì lòng biết ơn vì sự toàn thiện tột cùng, thể hiển ra bằng sự tôn thờ một cách xứng đáng với Đấng Tối cao đó, thời ta phải nhận thấy người Việt Nam không có tôn giáo. Khái niệm về Đấng Tối cao tuột khỏi họ, họ sống không có chúa. Nhưng nếu ta phải quan niệm tôn giáo là niềm tin và thực hành ảnh hưởng đến cách ứng xử theo lẽ phải của cuộc đời đến một thế giới siêu nhiên, thời ta phải nhận thấy người Việt Nam có cái đức tính đó ở mức độ cao. Khi có người lầm tưởng người Việt Nam tin ở trời và cho rằng trời chí ít cũng tương ứng ở dạng nguyên thuỷ của khái niệm chúa (Dieu), ông nhấn mạnh đó không phải là ý nghĩ của ông.

Vì sao lại có sự khác biệt đó, có thể có nhiều cách giải thích và hiện nay giới khoa học cũng còn tiếp tục tranh luận. Nhưng một điều không chối cãi được, nhân loại là một, con người la một. Tôn giáo là một thực thể khách quan cửa loài người. Vậy nó phải có một nội dung cơ bản hay một cốt lõi giống nhau, tuy rằng sự biểu hiện của nó rất, rất đa dạng. Về phương diện nhân loại học tôn giáo với những cứ liệu so sánh, sự khác nhau đó được quyết định bởi hoàn cảnh địa lý và lịch sử văn hoá khác nhau giữa các khu vực và tộc người, nhất, là khi con người đã bước vào ngưỡng cửa của văn minh (theo cách hiểu của L.Morgan và Ph. Engels) khi nền kinh tế sản xuất đã thay thế về cơ bản nền kinh tế chiếm đoạt. Ở đây nếu xét về mặt nào đó, ta có thể thấy có những cư dân sinh sống chủ yếu bằng chăn nuôi du mục và cư dân sống chủ yếu bằng trồng trọt. A.G. Haudricourt, một nhà bác học lớn, một người cộng sản chân chính, đã cho ta một thí dụ về nguyên nhân sự khác nhau mà L.Cadière nêu lên khi chọn hai miền điển hình, một cho cư dân du mục miền Cận Đông và Địa Trung Hải. Một cho cư dân trồng trọt miền Viễn đông, ở đấy do sự ẩm ướt của gió mùa nhiệt đổi không cho phép một cư dân nào dám tách rời chăn nuôi ra khỏi trồng trọt hay đúng hơn không tồn tại một loại hình chăn nuôi gia súc lớn thuần túy. Ở đây mục đích chăn nuôi chi là một bộ phận phụ vào trồng trọt, do đấy cuộc đại phân công lao động xã hội lần thứ nhất: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt không diễn ra, hay nói đúng hơn, đó chỉ là mở đầu cho nền kinh tế sản xuất trở thành hình thức sản xuất chủ yếu.

4/ Trong cuốn Hai chân trên mặt đất, cuốn sách có tính tổng kết cuộc đời khoa học của A.G.Haudneourt, từ năm 1948, ông đã chỉ ra rằng chỉ ở phương Tây và vùng Cận Đông, nơi nghề chăn nuôi đại gia súc phát triển mới sinh ra chế độ chiếm nô điển hình, từ đấy mới nẩy ra ý niệm độc thần. Ở đấy, con người không chỉ thuần dường mà còn dạy dỗ, uốn nắn cho bày chó bảo vệ và chăm sóc đàn cừu, và đàn cừu lại ngoan ngoãn theo con cừu đầu đàn. Vì thế, ở đó mới sản sinh ra chế độ chiếm nô chấp nhặn một chủ nô duy nhất, từ đấy mới sinh ra dạo Do Thái, và về sau là đạo Kitô, nhưng tôn giáo chỉ chấp nhặn một vi thần độc tôn, một Đấng Sáng thế. Bóng dáng người chăn chiên với bầy chó được dạy dỗ, cùng với con chiên đầu đàn và đàn chiến cúi đầu ngoan ngoãn đi theo thể hiện ở đây. Ở những nơi đó, tiếp theo là những nơi theo đạo Hồi, với mô hình phỏng theo đạo Kitô, các tôn giáo bản địa có từ trước, kể cả đạo tổ tiên đều bi coi là tà giáo và bi các tôn giáo độc thần xoá bỏ không thương tiếc. Tuy nhiên, những tôn giáo độc thần này khi bành trướng ra khỏi nơi xuất phát, sang các Châu Lục khác vẫn phải chịu tác động của sự tiếp biến văn hoá ở những mức độ khác nhau.

Theo dòng tư duy trên, theo tôi, ở miền Viễn Đông trồng lúa, một cộng đồng hợp quần trên một lãnh thổ dựa theo một hệ thống tưới tiêu đọc theo con suối chạy ngang thung lũng, hay một hệ thống đê điều hay kênh lạch dưới đồng bằng, dưới sự dẫn dắt của một người, nhưng công sức khai phá là thuộc tất cả mọi người. Lúa lại từ nhiều nhánh mạ hay nhiều hạt, nảy sinh ra thành nhiều cụm, nhiều cụm thành cả cánh đồng, kết quả là nào ai nghĩ đến nhánh hay hạt ban đầu. Mầm củ lại thành chùm củ, có củ cái, củ con, chẳng ai nghĩ và cũng khó phân biệt đâu là củ trước, củ sau. Rừng nhiệt đới um tùm, cây lớn cây bé, dây leo chằng chịt, đường đi lối lại ngoằn ngoèo tạo nên những điều bí ẩn, dáng sợ. Từ bóng dáng đó, ta khó thấy được Đấng Sáng thế, Đấng Tối cao, mà chỉ có ý niệm về một người ban đầu chỉ dẫn vì sự tôn kính mà ta phong làm thánh hay thần, và lại cũng chọn lọc những người đi sau xuất sắc, tài ba có công với cộng đồng để tôn làm thánh. Những con người đó được huyền hoặc hoá với nguồn gốc xuất thân khác thường, kết quả của một sự sinh nở thần kỳ, hoá thân từ cõi hư vô trên trời, đặc biệt là ngay dưới đất, trong không gian bao la. Đó là trường hợp của sự tiếp thu dễ dàng đạo Phật, đạo Khổng, Đạo Giáo, là việc bảo lưu bền chặt đạo tổ tiên, tổ tiên của đất nước, làng bản, dòng họ, gia đình... Những vị đó là những con người có thật, nên khác hẳn với các Đấng Sáng thế siêu linh. Cũng từ bóng dáng trên, ta thấy tâm thức con người muốn có những thánh thần, càng đông càng tốt, từ đó xuất hiện tính phiếm thần, xuất hiện xu thế hoà nhi bất đồng trong tôn giáo. Điện thần càng đông các chư vi an toạ, càng cầu xin được nhiều vi mang nhiều phước lành cho dù thuộc các tôn giáo khác nhau. Con người vái tứ phương để cầu phúc, cầu lộc, cầu tai qua nạn khỏi, tránh tà ma xâm nhập vì một lẽ nền sản xuất cũng bấp bênh tùy theo thời tiết, khí hậu, con người lắm bệnh tật vì khí hậu nhiều lam chướng, con người cũng hoảng sợ trước thiên nhiên, những hiện tượng tự nhiên, nhưng ác thú, rắn rết... vây quanh.

Bởi vậy, một hiện tượng khiến người Châu Âu ngạc nhiên là thấy tình hình tôn giáo ở miền Viễn Đông nói chung, và ở Việt Nam nói riêng thật đa dạng, đa sắc, với đầy đủ nhưng tôn giáo cổ, kim, ngoại sinh, nội sinh ở những mức độ khác nhau, biểu hiện khác nhau. Con người phiếm thần của xã hội truyền thống rất khó chấp nhận một vi thần độc tôn, rất dê chấp nhận đưa vào điện thần các vi thần khác tôn giáo, thậm chí giáo lý trái ngược nhau, và cũng lại không khó khăn gì tham gia vào nhiều hành vi các tôn giáo khác nhau. Các nhà nghiên cứu phương Tây ngạc nhiên thấy ở tôn giáo truyền thống Trung Hoa một hệ thống thần linh không đóng vai trò như Đức Chúa Lời ở phương Tây. Hầu hết không phải là một thiên thần, càng không phải là Chúa Sáng Thế ràng buộc con người với bản thân, mà là những con người được thần thánh hoá hay những thần sinh sống ở thế giới riêng trên cảnh Bồng Lai... Những bậc thánh thần ứng đáp cho con người một hay nhiều loại cầu xin, mà tổng hợp lại ứng đáp đầy đủ những yêu cầu của con người. Cho nên có thể đồng ý với E.Durkheim, cũng như ở Ấn Độ, tôn giáo chưa hẳn quan trọng ở tính đa thần hay độc thần, mà chủ .yếu là đáp ứng được nhu cầu hư ảo của con người.

Ta chỉ biết người Trung Hoa thờ nhiều thần nhưng chưa có tư liệu một người trung bình thờ bao nhiêu thần. Còn nếu ở Nhật Bản hiện nay, một người theo 182 tôn giáo, thì con số đó ở Việt Nam là từ gần 2 đến gần 3 tùy theo địa phương và tôn giáo khác nhau.

Những người Công giáo Việt Nam thờ Chúa, thuộc về một tôn giáo độc thần, trên thực tế lại đã mang một tâm thức tôn giáo phiếm thần. Tính cách đó được bộc lộ nhất là khi tinh thần Cộng đồng Vatican II có thoáng mở hơn và thấm dần vào các giáo dân. Giáo dân được công khai thờ cúng tổ tiên, một số không ít còn tham gia các hành vi tôn giáo và mê tín khác. Điều đó còn được khích lệ khi Đức Giáo hoàng Joan Phao lô II, trong cuốn sách gây nhiều tranh cãi gần đây đã công nhận một cách suy đoán "những người tôn thờ tiền nhân của họ như thế có vẻ đặc biệt gần với Kitô giáo" và lại cũng ca ngợi cả đạo Khổng, đạo Lão có một cái gì giống như Ngơi lời của Kitô giáo", giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử của luân lý và văn hoá... giúp con người ta ý thức về tính dân tộc của mình.

Thử bàn về biểu hiện của tôn giáo
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,