Tầm nhìn và phương pháp của doanh nhân trong giai đoạn mới

Con người là tinh hoa của nhau (2015)
08:54' SA - Thứ tư, 22/07/2015

Phó tổng giám đốc PVN Lê Minh Hồng: Hôm nay, được sự đồng ý của Tổng giám đốc tập đoàn, chúng tôi tổ chức nghe ông Nguyễn Trần Bạt - Luật sư, nhà nghiên cứu, hiện là Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty tư vấn đầu tư và chuyển giao công nghệ giới thiệu với chúng ta chuyên đề “Tầm nhìn và phương pháp của doanh nhân trong giai đoạn mới - giai đoạn cải cách và phát triển.” Tới dự có đồng chí Đỗ Văn Hậu - Tổng giám đốc tập đoàn và các Ủy viên hội đồng thành viên, các đồng chí trong Ban giám đốc, Ban Thường vụ Đảng ủy và các đồng chí là Chủ tịch, Tổng giám đốc đơn vị thành viên của tập đoàn đóng trên địa bàn Hà Nội. Xin mời ông Nguyễn Trần Bạt bắt đầu.

NTB: Kính thưa anh Hậu, thưa các anh, các chị trong Ban lãnh đạo của Tập đoàn Petrovietnam! Tôi vô cùng vinh dự có cơ hội được tiếp cận và trao đổi với các anh các chị. Từ lâu rồi, với tư cách là một luật sư, một nhà tư vấn, tôi đứng ngoài hàng rào để nhìn Petrovietnam, và đôi lúc cũng đột nhập được vào trong các cơ cấu đặc biệt của các anh các chị bằng cách giới thiệu những nhà đầu tư nước ngoài. Có một điều thú vị là trong giai đoạn các anh xây dựng Công ty dịch vụ dầu khí thì hầu hết các công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí là khách hàng của chúng tôi như Baker Hughes, Schlumberger... Sự gắn bó, theo dõi, chú ý của chúng tôi đến Petrovietnam là một sự theo dõi hết sức dẻo dai, kiên nhẫn. Chúng tôi khâm phục Petrovietnam. Chúng tôi cho rằng đây là một trong những tập đoàn tốt nhất của đất nước. Tôi nghĩ khoảng cách từ chất lượng điều hành một tập đoàn kinh tế như các anh các chị có đến cái thứ hai còn xa, bởi tôi thấy đội ngũ cán bộ của Petrovietnam có chất lượng tốt như đội ngũ các cán bộ y khoa mà chúng ta có vào những năm 60.

Tôi đến đây hôm nay không nhằm giảng giải gì mà tôi muốn tận dụng cơ hội này để trao đổi với các anh các chị. Trước khi đi vào chi tiết, tôi xin tự giới thiệu về mình một chút. Tôi là kỹ sư cầu đường, tốt nghiệp Đại học Xây dựng ngành cầu đường, khóa đầu tiên từ khi tách ra khỏi Đại học Bách khoa. Tôi có hai lần đi bộ đội. Lần thứ nhất từ năm 1963 cho đến năm 1967. Lần thứ hai từ năm 1972 cho đến năm 1976. Lần thứ nhất, tôi tham gia chiến trận bình thường, lần thứ hai tôi đi công binh, làm việc ở một sư đoàn của bộ tư lệnh 559. Thủ trưởng của tôi ở giai đoạn ấy có cả anh Đinh Đức Thiện, sau này là Bộ trưởng của tôi ở ngành giao thông vận tải.

Vào cuối những năm 70, đầu những năm 80, khi thấy Henry Kissinger đi một đường cắt xéo từ Washington đến Bắc Kinh, tôi bắt đầu theo dõi, nghiên cứu và dần dần nhận ra rằng chắc chắn cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa có vấn đề, và tôi bắt đầu học kinh tế học phương Tây để cung cấp một loại dịch vụ nào đó mà bây giờ tôi đang làm. Công ty của tôi được thành lập vào cuối năm 1987, dưới sự cho phép của anh Đặng Hữu - lúc bấy giờ là chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật, sau này làm Trưởng ban Khoa giáo TW Đảng. Giai đoạn trưởng thành của công ty chúng tôi là ở Viện khoa học Việt Nam. Có lẽ đây là công ty cung cấp dịch vụ luật pháp đầu tiên cho các dự án đầu tư nước ngoài. Chính vì thế, chúng tôi theo đuổi câu chuyện này có lẽ là sớm nhất ở Việt Nam. Lúc bấy giờ, Petrovietnam đã là một trong những đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu. Ngay cả khi tôi còn làm ở Bộ Giao thông vận tải, anh em Viện của chúng tôi ghi lên trên các bảng biểu và theo dõi từng triệu tấn dầu mà Petrovietnam khai thác được, giống như theo dõi quá trình giải phóng miền Nam vào đầu năm 1975. Lúc giá lương tiền đang chật vật như vậy thì những triệu tấn dầu của Petrovietnam là vô cùng quý giá. Nói như thế để các anh chị thấy tôi không vô cảm trong những chuyện liên quan đến Petrovietnam. Tôi không nghĩ các anh chị là một cộng đồng doanh nhân theo nghĩa thông thường. Doanh nhân là một phổ rất rộng từ người bán lẻ các lon Coca-Cola cho đến người cấu trúc. Các anh các chị ngồi đây tôi xem là những doanh nhân cấu trúc. Có lẽ tại thời điểm này, đất nước lại rơi vào trạng thái có một số vấn đề mà chắc chắn phải đi tìm kiếm giải pháp ở những doanh nhân như các anh các chị.
Là một người nghiên cứu với quá trình nghiên cứu khá công phu - kéo dài gần bằng chiều dài công ty của tôi là 25 năm, tôi cũng viết được một số quyển sách, giải quyết được một số vấn đề trong những quyển sách ấy. Từ những vấn đề xã hội học rất căn bản như khái niệm dân chủ, tự do cho đến vấn đề về văn hóa chính trị, rồi vấn đề cải cách. Cuốn sách Cải cách và sự phát triển tôi viết từ trước Đại hội X. Gần đây, tôi bắt đầu thấy lác đác có nhà chính trị nói về điều ấy, nhất là sau khi Chính phủ có một Nghị định rất căn bản về việc tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc doanh nghiệp. Quyển sách này tôi lấy làm trọng tâm để trao đổi với các anh chị. Trong quyển sách, tôi nói rất nhiều vấn đề, tôi xin lần lượt đi qua từng vấn đề.

Vấn đề thứ nhất là xu thế phát triển tất yếu của thời đại. Trong rất nhiều bài viết, tôi chứng minh dân chủ hóa về mặt chính trị là một thử thách rất lớn. Tuy nhiên định nghĩa về dân chủ hóa về chính trị rất khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau, nhiều trình độ phát triển khác nhau và nhiều nền văn hóa khác nhau. Ở đây, chúng ta có những đặc thù mà đem so sánh thì nó khập khiễng, nhưng có thể kết luận dân chủ hóa là một xu thế tất yếu. Trước xu thế như thế, cải cách về chính trị là một trong những đối sách cần thiết. Trong đời sống hàng ngày, Đảng cũng để ý đến vấn đề cải cách, nhưng nó được diễn đạt bằng những ngôn ngữ khác nhau, ví dụ cải cách thể chế, cải cách tư pháp. Nhưng cuối cùng dù có khéo mấy cũng không thể tránh động chạm đến bản chất cơ bản là cải cách chính trị. Ví dụ chiến dịch sửa đổi hiến pháp vừa rồi. Về chuyện này, tôi có phát biểu chúng ta không nên nhầm lẫn giữa việc sửa đổi hiến pháp với thay hiến pháp. Bởi vì thay hiến pháp là công việc của một cuộc cách mạng, còn sửa đổi hiến pháp là công việc của một cuộc cải cách. Không rõ về cơ sở lý luận cho nên đôi khi các diễn đạt dẫn đến những nhầm lẫn, rất nhiều anh em đã nhầm lẫn và phạm phải những sai lầm khi thể hiện ý tưởng của mình.

Khuynh hướng thứ hai là tự do hóa về kinh tế và khuynh hướng thứ 3 là toàn cầu hóa về mặt văn hóa. Năm 1995, Henry Kissinger đã mời tôi đến Washington DC để thảo luận về toàn cầu hóa. Trong cuộc thảo luận rộng lớn ở nhiều khía cạnh, tôi có nói với ông ta là toàn cầu hóa về mặt kinh tế không phải là một ý định, nó là một tất yếu. Vấn đề mà các chính phủ phải để ý là toàn cầu hóa về mặt văn hóa, nếu không thì các dân tộc trong khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa về mặt kinh tế sẽ bất đồng ngôn ngữ văn hóa, do đó làm ảnh hưởng đến năng lực hợp tác. Tôi không ngờ là ý tưởng như vậy lại được hoan nghênh và dần dần trong một số buổi thảo luận sau đó, nó đã xuất hiện. Ví dụ như buổi thảo luận do Margaret Thatcher tổ chức trước khi bàn giao Hồng Kông cho Trung Quốc.

Tôi cho rằng toàn cầu hóa về mặt văn hóa là một khía cạnh người Việt chúng ta nên để ý. Những khuynh hướng như vậy là những khuynh hướng tất yếu. Gần đây trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện khái niệm các phổ quát, các phổ quát văn hóa, các phổ quát chính trị, các phổ quát kinh tế. Khi nhân loại phát triển đến mức nào đó thì tính phổ biến của các vấn đề tạo ra một chất lượng, mà các chất lượng ấy đã được định nghĩa bằng thuật ngữ là các phổ quát. Ví dụ: tự do, dân chủ, nhân quyền là các phổ quát chính trị. Có một việc rất hay là Bộ Ngoại giao đang bắt đầu đưa ra một chương trình hỏi ý kiến toàn dân về báo cáo nhân quyền của Việt Nam sẽ được trình bày ở Liên hợp quốc. Tôi nghĩ rằng đấy là một bước tiến. Trong rất nhiều góp ý gửi đến một số cơ quan quan trọng của Đảng, tôi cũng nói nhân quyền là một vấn đề hết sức lãng mạn, rất dễ để nói ở các nước như nước Việt Nam, tại sao chúng ta lại ngại? Tôi có nói với anh em ở Viện chiến lược Bộ ngoại giao đúng như thế và tôi rất mừng là những việc ấy đã bắt đầu được nói đến một cách chính thống. Thảo luận một cách chính thống về nhân quyền là một bước tiến khổng lồ về nhận thức. Nó giúp chúng ta giảm rất nhiều khó khăn trong đối thoại.

Phổ quát chính trị không chỉ liên quan đến đời sống chính trị. Tôi lấy ví dụ, bây giờ tái cấu trúc Petrovietnam nếu như không dựa vào các phổ quát chính trị thì sẽ rất khó. Bởi vì đây là một tập đoàn kinh tế hùng mạnh có một địa vị kinh tế quan trọng và đương nhiên có địa vị chính trị quan trọng. Có địa vị chính trị quan trọng thì sẽ bị tác động bởi các quan điểm chính trị. Nếu không thấy trước điều đấy thì các anh chị sẽ mất đoàn kết. Các anh chị mất đoàn kết trong nội bộ, thì chất lượng hùng mạnh của tập đoàn sẽ giảm đí. Cho nên bảo vệ sự thống nhất chính trị trong một tập đoàn kinh tế nhà nước như thế này là một nhiệm vụ khổng lồ, khó hơn cả bảo vệ đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật. Có thể nói sự phân hóa về mặt chính trị trong các tập đoàn kinh tế nhà nước đang là một nguy cơ. Trong chuyện tái cấu trúc kinh tế chẳng hạn, tôi biết rất rõ rằng chúng ta có những thực thể kinh tế không tương thích với bất kỳ ngôn ngữ vĩ mô nào. Các công cụ vĩ mô mà nhân loại nghĩ ra để điều chỉnh một nền kinh tế thì các thực thể kinh tế của chúng ta không hiểu được nó. Giống như chúng ta dùng điều khiển ti vi để điều khiển quạt, tức là có sự không tương thích giữa công cụ điều khiển với bộ đọc của các thiết kế. Đấy là một nguy cơ. Cho nên xây dựng một tập đoàn kinh tế phải dựa trên tiêu chuẩn của các phổ quát kinh tế, các phổ quát chính trị để nó tương thích với các tập đoàn tương tự ở nước ngoài.

Tầm nhìn của tất cả các nội dung đều hướng tới việc theo đuổi các phổ quát. Trong đó trật tự cơ bản là phổ quát chính trị, phổ quát kinh tế và phổ quát văn hóa. Văn hóa càng ngày càng đóng vai trò quan trọng không chỉ trong sự tồn tại một cách bình thường, mà trong cả sự tương thích của chúng ta đối với các cơ cấu ở trong nước cũng như trên thế giới. Ví dụ, không tương thích, không tuân thủ các tiêu chuẩn phổ quát về văn hóa thì chúng ta rất khó có cán bộ tốt. Bởi vì dòng lao động bao giờ cũng dịch chuyển không chỉ ở trong nước mà ở các quốc gia khác nhau. Cho nên không có các tiêu chuẩn tương thích về mặt văn hóa thì sự luân chuyển lao động sẽ khiến người ta mất một thời gian làm quen. Đây là những vấn đề tôi muốn nói với các anh chị coi như phần mở đầu để thỏa mãn khuynh hướng các anh chị mong muốn.

Phần thứ hai tôi muốn nói với các anh chị về các cuộc cải cách. Theo dõi các diễn biến quốc tế cả phương Đông lẫn phương Tây, cả các nước xã hội chủ nghĩa lẫn các nước tư bản, tôi thấy từ cả hai phía đều khủng hoảng. Sự vốn hóa một cách không thương tiếc toàn bộ tài nguyên, toàn bộ lực lượng xã hội của phương Tây tạo ra một tốc độ phát triển gây thèm muốn đối với những nơi không chịu phát triển. Nhưng những sự phát triển thái quá đã bắt đầu để lại những tai họa. Ví dụ, khi bắt đầu nghề nghiệp của mình, tôi đến New York để nghiên cứu các tổ chức tài chính, tôi thấy khái niệm ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại rất phân minh. Nhưng ngoảnh đi ngoảnh lại, bây giờ hai khái niệm ấy không còn phân minh nữa. Cả Mỹ và châu Âu đang cố gắng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và tài chính như thế nào để sự phân minh vốn có của trước những năm 80 quay trở lại. Bây giờ thì không có một chính phủ nào quản lý nổi hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính. Tất cả sự khôn ngoan của cộng đồng tài chính, ngân hàng vượt quá năng lực quản lý của tất cả các chính phủ. Bây giờ, rất nhiều giáo sư của chúng ta muốn cổ vũ kinh tế tri thức và nói một cách rất lãng mạn về nó. Khi làm việc với một số cơ quan của Đảng, tôi nói là nó không lãng mạn như thế. Các mẹo mực mà nền kinh tế tri thức mang lại đã vượt qua năng lực quản lý của tất cả các chính phủ. Bây giờ các anh chị thấy trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện nhu cầu đòi hỏi phải kiểm soát toàn bộ nền kinh tế đen, các tín dụng đen. Đã bắt đầu có sự phá vỡ về việc giấu kín các tài sản riêng tư tại các ngân hàng của Thụy Sĩ. Tất cả những sự thông minh thái quá của nền kinh tế tri thức làm cho các chính phủ hoang mang. Đương nhiên chính phủ chúng ta cũng vậy, nhưng còn đang ở mức chưa diễn đạt được sự hoang mang của mình. Với xu thế toàn cầu hóa như thế này, sự liên minh giữa các mặt trái của nền kinh tế trên thế giới làm nảy sinh những khó khăn lớn hơn, ghê gớm hơn nữa mà chắc chắn những tập đoàn kinh tế lớn như các anh chị ở đây buộc phải cảnh giác. Cảnh giác ấy không chỉ là cảnh giác với bên ngoài, với các tổ chức tín dụng khác ở trong nước, mà còn cảnh giác cả với nhau. Bởi vì các bộ phận khác nhau của nền kinh tế đen sẽ bắt cóc từng người một và gây chia rẽ. Đấy là một sự thật. Tôi thấy gần đây Ủy ban Chứng khoán truyền bá khái niệm chứng khoán phái sinh. Tôi hơi giật mình về chuyện ấy, bởi vì đó là một khái niệm rất ít người biết rõ. Trong các trường đại học của chúng ta thì không có trường nào dạy đến đầu đến đũa. Không có công cụ, không có phương tiện nào để nới rộng hiểu biết về lĩnh vực này cho tất cả các nhà lãnh đạo quan trọng của đất nước. Phải nói là khi hình thành một thị trường như thế thì mảng đen tối của đời sống kinh tế sẽ phát triển.

Không có các cuộc cải cách cơ bản thì chúng ta không định vị được nhiệm vụ để cấu tạo ra các thực thể. Ví dụ cải cách chính trị. Ở đây những người tổ chức muốn tôi dùng chữ cải cách thể chế để tránh sự va chạm. Tôi có một số cuộc thảo luận với các giáo sư của trường Đảng, tôi hiểu rằng họ không xem các khái niệm ấy là tối kị. Cải cách chính trị được nhắc đến một cách tương đối hồn nhiên. Nếu không nghiên cứu cuộc cải cách này thì chúng ta không ứng dụng các hiểu biết về tái cấu trúc vào chính cơ sở của mình. Bởi vì tái cấu trúc đời sống chính trị, đời sống kinh tế, đời sống văn hóa không phải là cuộc cải cách thuần túy vĩ mô theo quan điểm của nhà nước mà nó gắn liền với việc tái cấu trúc và cải cách tất cả các đơn vị kinh tế xã hội, kể cả tập đoàn của các anh chị. Các khái niệm dân chủ, tự do, nhân quyền không chỉ được nói trên báo hay nói chơi chơi, mà nó trở thành tư tưởng, tình cảm của các nhân viên, nhất là thế hệ trẻ. Cho nên đòi hỏi ấy đôi khi điều chỉnh cả thái độ và phong cách của cán bộ lãnh đạo. Nói cách khác, các cán bộ không biết điều ấy và không tự thay đổi thì tự nhiên tạo ra những mâu thuẫn không đáng có trong quan hệ đối với thế hệ trẻ. Đấy là cái mà tôi nghĩ không phải chỉ có giá trị vĩ mô, giá trị chung chung mà còn có giá trị trong việc điều chỉnh các cấu trúc của cơ sở.

Tiếp đến là cuộc cải cách kinh tế. Nếu không cải cách kinh tế tức là chúng ta không xây dựng các xí nghiệp theo tiêu chuẩn. Như các anh chị thì không có nhiều vấn đề, nhưng tôi biết rất rõ rằng trong nước chúng ta, rất nhiều xí nghiệp có vấn đề. Lạc hậu về mặt tư tưởng kinh tế, không được phổ cập các kiến thức cơ bản cho nên nhiều xí nghiệp được điều hành hàng ngày một cách lạc hậu và không hiệu quả. Hiện nay, đài truyền hình Việt Nam vẫn có những màn diễn và thảo luận với các CEO về các tình huống ở trên tivi, đấy là một dịch vụ tốt. Có lẽ họ không phải là người đầu tiên làm, chúng tôi làm việc này từ năm 1987. Trong mua bán công nghệ chẳng hạn, chúng tôi diễn vở kịch về licensee, licensor để hướng dẫn quá trình mua bán công nghệ từ năm 1987. Bây giờ việc ấy đã được phổ cập hóa. Tuy nhiên, đấy chỉ là những vấn đề thông thường. Trong sinh hoạt kinh tế của những tập đoàn kinh tế lớn như thế này cũng cần có những sự hướng dẫn.

Tôi tin rằng trong vài ba chục năm tới, vai trò của những tập đoàn kinh tế như Petrovietnam vẫn tiếp tục có địa vị khống chế trong chương trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Rất nhiều người nói phải tư nhân hóa càng nhiều càng tốt, về lâu dài, về mặt lý thuyết là đúng. Nhưng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể, vai trò của các tập đoàn như Petrovietnam vẫn tiếp tục giữ một địa vị lâu dài. Gần đây, trên tivi hay báo chí có thảo luận về chuyện chúng ta không có công nghiệp phụ trợ, không sản xuất được các phụ tùng, linh kiện. Tôi nghĩ xa hơn là tại sao lại đối lập giữa Petrovietnam với khu vực tư nhân? Petrovietnam hoàn toàn có thể là thủ lĩnh một vùng, một ngành kinh tế. Các doanh nghiệp được gọi một cách chế giễu là doanh nghiệp sân sau của tập đoàn nọ, tập đoàn kia có thể biến thành những cái đuôi sao chổi về mặt phát triển. Tức là Petrovietnam trở thành thủ lĩnh của một vùng phát triển, một ngành công nghiệp trong đó các thành tố tham gia vào hình thành cái đuôi sao chổi của nó không phải là các doanh nghiệp nhà nước mà là các doanh nghiệp tư nhân. Đi cùng với nó là việc xây dựng những bộ luật điều chỉnh các quan hệ một cách minh bạch. Lâu nay vẫn có những tranh cãi là doanh nghiệp nhà nước có phải là doanh nghiệp chủ đạo hay doanh nghiệp lãnh đạo không, tức là đi tìm một lối thoát lý thuyết để khẳng định địa vị của nó. Còn tôi thì cho rằng có thể đi tìm lối thoát thực tế để khẳng định mình. Nếu chúng ta hiểu được điều ấy thì tôi nghĩ Petrovietnam không chỉ biến mình thành hạt nhân của một nền công nghiệp, mà còn tạo ra cho đất nước một ngành công nghiệp. Ví dụ, ai cũng biết dầu khí đâu chỉ có khai thác mà còn có chế biến, không chỉ chế biến xăng dầu mà còn chế biến nhiều thứ. Đấy là một ngành công nghiệp có lịch sử. Tôi nghĩ chúng ta có thể làm được, nếu như chính phủ biết rõ và đặt các anh chị vào trung tâm của chương trình dài hơn, xã hội hóa hơn và chính trị hơn. Đấy là những cuộc cải cách cơ bản để giúp chúng ta xây dựng một thiết chế xã hội trong đó con người có cuộc sống tương đối ổn định và sống với nhau vui vẻ.

Rất nhiều người khi động đến những khái niệm nhạy cảm thì rất sợ. Tôi nghĩ rằng chúng ta phải vượt qua tâm lý ấy nếu như trong lòng chúng ta không có chống đối gì. Tôi có lẽ là người Việt Nam gần như là duy nhất viết những điều sống còn của đời sống chính trị một cách công khai được xuất bản. Nghệ thuật để phát triển chính là làm thế nào tiệm cận đến ranh giới của sự phát triển, ranh giới của nhận thức. Các anh đặt ra vấn đề tầm nhìn, tôi thấy tầm nhìn tốt nhất là tầm nhìn đến một điểm tới hạn. Khi nào nhìn thấy đi xa nữa thì không được, lùi lại thì lạc hậu, thì đấy chính là điểm tiên tiến hợp lý mà mỗi một doanh nhân cần có cho việc xác lập các mục tiêu chiến lược.

Nội dung tiếp theo mà tôi muốn nói là nội dung của các cuộc cải cách chủ yếu. Các anh chị cho rằng đó là đổi mới thể chế, nhưng theo quan điểm của tôi cần phải nói rõ là đổi mới hệ thống chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị không phải đổi mới từ một đảng đến nhiều đảng, mà là đổi mới các quan niệm về chính trị, nghĩa vụ của chính trị đối với sự phát triển. Chính trị không phải là cái tập hợp chúng ta lại với nhau để giống nhau và giống một bức tượng, mà chính trị là cái chúng ta có thể dùng để tập hợp nhau và chúng ta sống được vì sự tiến bộ. Tôi nghĩ chắc chắn đề nghị ấy sẽ được chấp nhận. Chúng ta không làm hại ai cả, chúng ta có trí tuệ để nhìn thấy rằng chúng ta đi đến một điểm tới hạn, đi quá nữa thì vi phạm lợi ích của ai đó, thậm chí của Đảng và Nhà nước. Cần phải xác định được đến đâu là điểm tới hạn hợp lý.

Năm 1992, tổ chức IFC đi tìm một công ty để hợp tác trong việc xây dựng luật công ty của Việt Nam trong khuôn khổ một dự án do ngân hàng thế giới tài trợ, họ đã chọn chúng tôi. Khi làm xong việc đó, tôi nghĩ đến chuyện biến công ty tôi thành công ty tư nhân. Lúc bấy giờ làm việc ấy không dễ. Tôi nhờ Anh Phạm Vinh ở Bộ tài chính (anh ấy là cháu của một ông giáo sư trước đây là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ) kiểm toán công ty của tôi, lúc đó thuộc Viện khoa học Việt Nam. Anh ấy hỏi “Cậu nhờ tớ kiểm toán để làm gì?”. Tôi nói để chứng minh rằng tất cả tài sản ở công ty này không có gì liên quan đến tài sản xã hội chủ nghĩa. Anh ấy làm đúng theo hướng đó. Khi tôi chứng minh xong điều ấy, tôi đến đề nghị anh Đỗ Quốc Sam (lúc đó là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước) cho công ty tôi gia nhập khu vực quốc doanh. Anh Sam bảo “Không có một chút tài sản nhà nước nào mà lại đòi gia nhập khu vực quốc doanh. Cậu muốn trá hình à? Thôi ra khu vực tư nhân đi.” Tôi bị Bộ kế hoạch đầu tư đuổi ra khỏi khu vực nhà nước, thế là tôi thực hiện được việc tư nhân hóa công ty của tôi. Như vậy, nếu làm khéo, đôi khi chúng ta đạt được những kết quả rất thân ái, những kết quả ấy đôi khi khuyến khích một lực lượng và bớt một gánh nặng. Tuy nhiên tôi hoàn toàn không khuyến khích tư nhân hóa Petrovietnam. Tôi cho rằng không thể tư nhân hóa Petrovietnam. Nếu làm như vậy, đất nước sẽ có vấn đề ngay, Đảng có vấn đề ngay. Không nên bàn đến chuyện tư nhân hóa Petrovietnam mà nên biến nó thành hạt nhân của một quá trình hình thành, phát triển một chuỗi các lực lượng khác, trong đó có khu vực tư nhân. Đấy là lý thuyết của sự chủ đạo của các tập đoàn kinh tế.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là cải cách văn hóa. Tại sao lại có văn hóa ở trong câu chuyện này? Chính trị là yếu tố bảo trợ về mặt thể chế cho phát triển kinh tế còn văn hóa là yếu tố bảo trợ tinh thần. Vào đầu những năm 80, không phải là đảng viên, không phải là cán bộ nhà nước thì rất khó lấy vợ. Còn bây giờ nếu trong nhà mà con cháu không mở được công ty thì ông bà thấy ngượng vì gia đình mình không phát triển. Chính sự thay đổi của văn hóa hỗ trợ sự phát triển. Trước đây, trong gia đình có bốn cô con gái lấy bốn chàng rể, chắc chắn chàng nào là Phó tiến sĩ làm ở những cơ quan như Petrovietnam là được kính trọng nhất, Phó tiến sĩ làm ở Viện khoa học Việt Nam được kính trọng thứ hai, còn chàng nào làm lái xe thì nhiều khi phải làm hết mọi việc trong nhà mà không có địa vị. Con rể làm lái xe thì được bà mẹ yêu quý hơn, còn ông bố khi nhắc đến hơi ngượng. Đấy là những định kiến văn hóa trói buộc xã hội chúng ta vào những năm như vậy. Cám ơn Đổi mới, bây giờ mọi việc đã thay đổi, mọi người đều có địa vị riêng của mình và địa vị ấy được cân đong, đo đếm bằng những giá trị thật sự. Cho nên phải cải cách văn hóa để tháo cũi sổ lồng cho con người, để con người có khả năng tiếp cận với nhiều cơ hội, phá bỏ nhiều định kiến. Tôi có một quyển sách viết về khái niệm Tự do là quyển Cội nguồn cảm hứng. Trong quyển sách ấy, tôi phân tích về cấu trúc tinh thần con người qua các quá trình phát triển. Cần phải cải cách văn hóa để đảm bảo cho con người một độ tự do nào đó, một độ giải phóng nào đó đối với các định kiến tinh thần để nó có thể tận dụng hết cơ hội. Đôi khi chỉ vì định kiến mà chúng ta bỏ lỡ cơ hội. Cải cách văn hóa là giải phóng con người ra khỏi định kiến. Trước đây chúng ta xem lấy Tây là cả một bi kịch, nhưng bây giờ lấy Tây không còn là vấn đề khiến người ta dị nghị nữa. Đấy cũng là một sự giải phóng, một sự thay đổi về mặt văn hóa. Những khía cạnh như vậy rất thuận lợi cho việc điều hành những vấn đề bên trong của đời sống. Con người khi tự do, không định kiến, không thù hận thì mới có thể yên tâm, thanh thản để nghĩ. Sắp tới sẽ đến giai đoạn bản chất của năng suất lao động chính là kết quả của trí tưởng tượng. Nếu không có trí tưởng tượng không thể có thành tựu, không có thành tựu của trí tưởng tượng chắc chắn không có năng suất. Đấy là bài toán quan trọng nhất của những người điều hành các xí nghiệp hiện đại.

Cuộc cải cách thứ tư tôi muốn nói với các anh các chị là cải cách giáo dục. Ở đây, các anh các chị chữa thành đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đương nhiên nó gần với yêu cầu của một tập đoàn kinh tế hơn, nhưng tôi cho rằng đối với Petrovietnam thì nên thả cho tư duy của mình vươn đến các phổ quát, tức là vươn đến các hiện tượng được đại diện bởi một thuật ngữ khái quát là cải cách giáo dục. Bây giờ mọi người đang thảo luận về việc có bỏ thi Tốt nghiệp trung học phổ thông không. Tôi có một bài đăng ở Vietnamnet, trong đó nói rằng bỏ thi Tốt nghiệp trung học phổ thông là tan rã trường học. Quan điểm của tôi khác với một số quan điểm khác. Tôi không có ý định tranh luận với các đồng chí có cương vị, nhưng tôi cho rằng tất cả các nền giáo dục đều phải có thi cử, thi cử là động lực cơ bản của học tập.

Trong công ty của tôi hàng ngày có một bữa ăn trưa cho cán bộ lãnh đạo. Ăn trưa bao giờ cũng được kết thúc bằng một buổi điểm tin khoảng nửa tiếng. Tin gì gây ấn tượng nhất thì các anh chị ấy tóm tắt. Bữa ăn trưa như vậy diễn ra khoảng 15 năm nay. Hoạt động ấy làm cho các cán bộ của tôi không lạc hậu với thời cuộc. Phải có cách thức để bù đắp sự thiếu hụt của hệ thống giáo dục. Tại rất nhiều diễn đàn tôi nói rằng bây giờ chúng ta chưa đủ năng lực sử dụng lao động tiên tiến, tại sao chúng ta cứ bắt người lao động phải được đào tạo hay bắt các trường đại học phải đào tạo cẩn thận? Việc sử dụng lao động ở nhiều cơ quan, thậm chí cả những cơ quan nhà nước đôi khi rất lạc hậu. Rất nhiều cơ quan không có kỷ luật lao động, trong giờ chỉ có mặt khoảng nửa tiếng ban đầu, sau đó người giàu thì đi siêu thị, người nghèo thì đi chợ. Chúng tôi cũng phải duy trì, phải tẩy những biến dạng như vậy của xã hội không lọt vào cơ sở của mình. Đấy là một cuộc đấu tranh để duy trì không phải chỉ kỷ luật lao động, mà còn duy trì cả cảm hứng nữa, bởi khi không còn kỷ luật thì không còn cảm hứng. Phân tích một cách con người về cảm hứng sáng tạo, cảm hứng lao động và cảm hứng kỷ luật là cả một quá trình để điều hành cán bộ.

Để nói kỹ lưỡng thì còn nhiều chuyện, tôi biết tôi không đủ sức nói hết.

Trong nhà còn bao nhiêu sách tôi đã chuyển hết cho các anh chị. Tôi không chỉ có tham vọng nói chuyện với các anh chị hôm nay, các anh chị lúc nào rảnh, xin mời đến chỗ chúng tôi, tôi sẵn sàng tiếp. Tôi đã thiết kế được một sự hạ cánh hạnh phúc, tôi không lao động kiếm tiền một cách trực tiếp nữa mà lao động sáng tạo hay lao động viết lách và việc đó tạo cho tôi một cuộc đời không nhàn rỗi bao giờ. Tôi vừa trải qua một cơn tai biến cách đây hai tháng. Thí nghiệm đầu tiên của tôi để xem hậu quả của tai biến là gì, còn có thể nói chuyện với mọi người được không là tôi trả lời phỏng vấn của báo Đại đoàn kết ngay trong bệnh viện. Tôi đã nói xong phần mở đầu, bây giờ tôi rất muốn được nghe ý kiến của các anh chị.

Ông Nguyễn Trần Bạt - Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty InvestConsult Group
Ông Nguyễn Trần Bạt - Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty InvestConsult Group
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,