 | Thông tin liên quan: Tản mạn về Claude Lévi- Strauss10/02/2010 07:23' AM Claude Lévi- Strauss (1908-2009) là một nhà nhân học lớn với sự nghiệp trước tác đồ sộ. Ông còn là nhà văn nổi tiếng với cuốn Tristes Tropiques (Nhiệt đới buồn). Năm 1955, Viện Hàn lâm Goncourt đã công khai tỏ ý tiếc không thể trao giải cho ông vì cuốn này không phải một cuốn tiểu thuyết mà là du ký! Tại sao nhiệt đới lại buồn09/01/2010 06:17' AM "Nhiệt đới buồn" (Claude Lévi-strauss, Ngô Bình Lâm dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, NXB Tri Thức, 2009), nếu coi là một hồi ký, thì nó đúng là một hồi ký rất dở và rất gở: chẳng có cuốn hồi ký nào lại được viết ra để rồi tác giả mãi hơn nửa thế kỷ sau mới qua đời. Nếu coi là một cuốn tiểu thuyết, thì tác phẩm in lần đầu năm 1955 này (về phần mình, tác giả mới mất cách đây vài tháng) vẫn quá cỡ kể cả so với một trường giang tiểu thuyết; Claude Lévi-Strauss hay là cú sốc của nền văn minh châu Âu?18/12/2009 08:45' AM Claude Lévi Strauss là một trường hợp hiếm thấy và khó lặp lại trong lịch sử nhân loại. Ông chính là một cú sốc đối với nền văn minh phương Tây. Lý thuyết của nhà cấu trúc học vĩ đại này là sự hạ bệ hùng hồn nhất đối với tư tưởng thống ngự và độc tôn của xã hội toàn trị châu Âu; và là sự biện minh sâu sắc cho một mô thức đa văn hóa của nhân loại. Lévi Strauss đã được xếp vào bảy bậc vĩ nhân lớn nhất của thế kỷ XX. |
Có thể nói không quá đáng, việc xuất bản tác phẩm Nhiệt đới buồn của Claude Lévi–Strauss bằng tiếng Việt là một sự kiện trong đời sống tinh thần của chúng ta.
Triết gia trăm tuổi
Trước đây cuốn Chủng tộc và lịch sử của ông, viết theo yêu cầu của UNESCO, đã được dịch và in bằng tiếng Việt, cuốn sách rất mỏng, song đã gây ấn tượng mạnh. Lần này là một trong những tác phẩm quan trọng và nổi tiếng nhất của ông, một tác phẩm kinh điển về rất nhiều mặt, và thật kỳ lạ.
Claude Lévi–Strauss là một trong những nhà nhân học, dân tộc học, một nhà tư tưởng và nhà văn lớn nhất của thế giới trong nửa cuối thế kỷ 20. Ông sinh năm 1908, cha là hoạ sĩ chân dung, rất thích sưu tầm những đồ vật quý hiếm. Theo gương cha, cậu bé cũng say mê đi tìm những tác phẩm nghệ thuật của các dân tộc xa lạ.
Học khoa triết ở đại học Sorbonne, anh thanh niên Claude gặp và quen thân với những trí tuệ lớn nhất của nước Pháp thời bấy giờ: Simone de Beauvoir và Merleau-Ponty. Năm 1934, một cuốn sách đọc được tình cờ, cuốn Xã hội học nguyên thuỷ của Lowie, đã quyết định cả cuộc đời anh: trở thành nhà dân tộc học.
Năm 1935, được bổ nhiệm giáo sư ở đại học São Paolo, Brazil, Claude Lévi–Strauss lần đầu tiên có cơ hội tiến hành những chuyến khảo sát dân tộc học ngắn và viết tác phẩm dân tộc học đầu tay Góp phần nghiên cứu tổ chức xã hội của người Bororo. Bị gọi về Pháp để tham gia “cuộc chiến tranh kỳ quặc” vào năm 1939, đến năm 1941 được giải ngũ ông liền sang Mỹ, dạy ở trường New School for Social Research và viện Cao học New York. Ông còn sống và làm việc ở Mỹ cho đến năm 1947 với tư cách tuỳ viên văn hoá sứ quán Pháp.
Trở về Pháp sau đó, Claude Lévi–Strauss thực sự lao vào sự nghiệp sáng tác phong phú và đồ sộ của mình. Những tác phẩm quan trọng nhất của ông lần lượt ra đời: Đời sống gia đình của người Anh- điêng Nambikwara, Cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng, Nhiệt đới buồn, Nhân học cấu trúc, Tín ngưỡng tô-tem ngày nay, Tư duy man dã, và bộ sách lớn Huyền thoại học gồm bốn cuốn Cái Sống và Cái Chín, Từ Mật ong đến Tro, Về nguồn gốc các lối ăn, Con người trần trụi, tiếp sau là Con đường đi của các Mặt nạ, Bản sắc, Gần và Xa…
Nỗi buồn nơi ngã ba đường
Nhiệt đới buồn chiếm một vị trí đặc biệt trong toàn bộ sự nghiệp mênh mông của ông. Nó được viết trong năm tháng, từ tháng 12.1954 đến 5.1955, như một thiên tuỳ bút kỳ lạ, được tuôn ra một mạch liền không dứt, và đến nay, sau nửa thế kỷ, dường như được khôi phục tính thời sự một cách kỳ diệu.
Thật khó xếp nó vào thể loại nào. Mở đầu bằng một câu gây sốc “Tôi ghét các chuyến viễn du và các nhà thám hiểm”, nhưng nó lại là một cuốn du ký, hết sức gợi tò mò, không thiếu cả những pha phiêu lưu mạo hiểm, đưa chúng ta đến với những nhóm người ở xa xôi nhất trên hành tinh, còn gần nhất với tình trạng nguyên thuỷ, sắp và chắc chắn sẽ biến mất – cách nay nửa thế kỷ, nghĩa là nay đã biến mất hoàn toàn – mà ông là người chứng kiến và được tiếp xúc cuối cùng…
Cũng có khi, như trên một “tấm thảm bay” – tên một chương trong tác phẩm – ông đưa ta từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ hoang vu, đột ngột đến những thành phố nhân mãn chen chúc của Ấn Độ và Pakistan, mà ông e sẽ là hình ảnh tương lai của châu Âu; hay lên tận những vùng biên giới Myanmar, để gặp các nhà sư phi giới tính và được chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật vừa thô sơ vừa vĩnh cửu, và cũng từ đó suy nghiệm về ý nghĩa sâu xa của văn hoá và đời sống con người…
Cũng chính ở mặt này, ta nhận ra ở Claude Lévi–Strauss một nhà văn tài năng. Xin hãy thử đọc lại chương Trên tàu, có lẽ trong toàn bộ các nền văn học ta từng biết, hiếm có những trang mô tả nào tinh tế hơn, tuyệt vời hơn về một buổi hoàng hôn trên đại dương.
Cũng có thể nhận ra con mắt soi mói, tinh tế nhiều khi đến khắt khe của một nhà văn không hề dễ tính, ngắm nhìn và so sánh những đền đài, chùa chiền của các nền văn minh lớn từng sinh ra, tồn tại và biến đi, khiến người du khách bỗng như choáng váng khi được đưa qua hàng ngàn vạn năm biến đổi của thế giới và con người, vừa phù du vừa vĩnh hằng…
Tuy nhiên, bằng một lối viết vừa phóng khoáng vừa chặt chẽ, đây lại là một công trình khảo sát nhân học, dân tộc học hết sức tỉ mỉ, khoa học, đến mức mẫu mực.
Những quan sát sắc sảo, tỉnh táo, đặc biệt những phân tích và so sánh rất nhiều khi đầy tính phát hiện đến bất ngờ, như những phân tích về các hình vẽ trên cơ thể và trên khuôn mặt của người Caduévo so với các con bài trên bộ bài tây, sự phản ánh tinh vi của các hình vẽ ấy về cơ cấu đẳng cấp chặt chẽ đến riết róng trong xã hội này; hoặc những nghiên cứu bất ngờ, thú vị về chế độ đa thê của các thủ lĩnh ở bộ lạc Nambikwara và Tupi-Kawahib, những thiết chế thông minh và hiệu quả khác nhau của các xã hội đó, cả đến những cơ chế kỳ lạ như tục luyến ái đồng tính, để giải quyết những vấn đề nảy sinh do sự cần thiết của quyền lực tập trung cho chính sự tồn tại của nhóm người; và thật thú vị, chương Bài học chữ viết, với phát hiện kỳ lạ: chữ viết chính là công cụ của quyền lực và áp bức!
Từ những quan sát chăm chú, khách quan, tinh tế và thông minh, có thể thấy rõ cả hiệu quả của phương pháp phân tích cấu trúc luận nhân học mà ông khởi xướng, Claude Lévi–Strauss đã chạm đến một vấn đề lớn, sâu xa và lâu dài nhất của xã hội con người: sự phát sinh, phát triển, chuyển động và suy thoái của các hình thái quyền lực…
Từ đó đi đến những suy tư lịch sử và triết học không xa và hẳn là tất yếu. Ở chương Chợ, Claude Lévi–Strauss nói đến kinh nghiệm của Ấn Độ bốn ngàn năm trước trong việc tìm giải pháp cho vấn đề một số lượng người quá lớn trên một không gian quá nhỏ, để cho mọi người đều có thể sống làm người, vậy thì buộc phải làm người theo những cách khác nhau, tức sáng tạo ra cơ chế đẳng cấp.
Và ông nói rằng thất bại này của kinh nghiệm Ấn Độ cách nay bốn thiên niên kỷ là một bi kịch không có lối ra của nhân loại. Khi một số lượng quá đông người phải sống trên một không gian quá hẹp, thì xã hội tất yếu “tiết ra” sự nô lệ – ông viết. Chúng ta biết lời cảnh báo nửa thế kỷ trước ấy của Claude Lévi–Strauss đang hiển hiện nóng bỏng đến chừng nào.
Claude Lévi–Strauss nói đến ba tôn giáo lớn của nhân loại trong suốt lịch sử: Phật giáo, Hồi giáo, Cơ đốc giáo, sự nối tiếp và tương tác của những tín ngưỡng lớn ấy, sự hoà hợp đã có thể có giữa phương Đông và phương Tây qua con đường tinh thần này, mà phương Tây đã đánh mất cơ hội.
Và thật bất ngờ với nhận định này của ông: “Hồi giáo là phương Tây của phương Đông”, là cái cứng nhắc phương Tây tràn lấn cái mềm mại uyển chuyển phương Đông, chính nó đã dựng bức tường ngăn trở sự hoà hợp đã có thể có giữa hai thế giới. Có thể tranh luận về nhận định này của Claude Lévi–Strauss, nhưng phải công nhận nó vẫn thời sự biết bao.
Càng về cuối tác phẩm, giọng nói của tác giả như càng da diết, khẩn thiết. Và ông tự hỏi về sứ mệnh và tương lai của nhân học, dân tộc học, thậm chí qua đó, sứ mệnh của con người. Ông tìm đến Đức Phật. Ông nói đến sự tan biến giữa hữu nghĩa và vô nghĩa của sự vật mà nhà minh triết vĩ đại của phương Đông đã nghiệm ra.
Có lẽ có một câu hỏi: Vì sao Claude Lévi–Strauss đặt tên cho tác phẩm của mình là Nhiệt đới buồn?
Quả thật cuốn sách kết thúc trên một âm điệu buồn. Và không phải chỉ ở miền nhiệt đới, cho miền nhiệt đới. Nỗi buồn trầm tư của nhân loại đang đứng trên ngã ba đường, ngoái nhìn lại phía sau, trước một chọn lựa mất còn, và tự hỏi một cách đau đớn, đồng thời lại vui mừng như một phát hiện cơ bản: chúng ta đã đi đến chỗ hơn gì tình trạng ban đầu, xa hơn “nơi ta đã cất bước ra đi”?
Cũng có người gọi Nhiệt đới buồn là một thiên tự truyện tinh thần, của một con người muốn tự soi và tự hiểu mình trong đối chiếu với lịch sử toàn nhân loại từ thuở khai sinh.
Nhân dịp ra mắt tác phẩm Nhiệt đới buồn của Claude Lévi-Strauss (viết năm 1955), đại sứ quán Pháp tại Việt Nam và NXB Tri Thức tổ chức buổi hội thảo mang tên Tư duy về “kẻ khác” vào lúc 14g30 ngày 23.10 tại L’Espace – trung tâm Văn hoá Pháp (24 Tràng Tiền, Hà Nội).
| Số lượt đọc:
310
-
Cập nhật lần cuối:
04/11/2009 05:08:13 PM
Ý kiến của bạn về bài viết:Khoảng cách thế hệ: có đáng sợ?30/07/2010 02:13' PM Không phải bây giờ mới có vấn đề này. “Chứng cớ” là từ điển Oxford đã có nó từ lâu với định nghĩa rất khoa học: generation gap là sự khác biệt về thái độ giữa những người khác thế hệ. Trong đó, chữ “thái độ” được giải thích là sự suy nghĩ và cảm nhận như thế nào về một sự việc, một người nào đó. "Gameshow" công sở28/07/2010 10:14' AM Điều muôn thuở khiến dân văn phòng lo ngại là gì? Chắc không phải tai nạn lao động, vì nghề văn phòng là nghề an toàn nhất trên đời. Nhìn quanh một lúc, hóa ra chúng ta ngại nhau. Quan hệ đồng nghiệp từ trước đến giờ có những khía cạnh ngoại giao như lớp đường phủ trên chiếc bánh văn phòng. Còn nhân của nó, ăn vào mới biết mùi vị thực sự... Đông Kinh Nghĩa thục và những điều kiện Hiện đại hoá25/07/2010 01:42' PM Tự do này, độc lập này mà đồng bào ta vừa giành lại, chúng ta phải gìn giữ trong lĩnh vực tinh thần. Các dân tộc trường tồn chính là nhờ có thành tựu nghệ thuật và khoa học. Chúng ta cần dõng dạc và hào hùng tự khẳng định mình trong tư cách một dân tộc. Đó là lời dặn dò của cụ Nguyễn Hữu Cầu – suy ra cũng là những lời dặn dò Đông Kinh Nghĩa thục... Về lại quê nhà24/07/2010 07:50' AM Năm 2007, chuyện cô dâu Huỳnh Mai bị người chồng Hàn Quốc giết chết sau đám cưới hai tháng đã làm nhiều người phải kinh hoàng. Chỉ một ngày trước khi bị đánh đến chết với 18 cái xương sườn gãy, cô đã viết: “Em muốn về lại Việt Nam... về Việt Nam em sẽ làm lại từ đầu và đối xử tốt với ba mẹ em”. Về sách “Học làm người” của Nguyễn Hiến Lê23/07/2010 07:19' AM Đáp lại câu hỏi của một “hâm mộ”: “… nhờ đâu từ thuở “mồ côi cha” với đàn em gái bé bỏng, níu áo bà quả phụ trẻ sống lay lắt với bà con bên nội bên ngoại ở thị xã Phan Thiết; mà từ tuổi 12 đã có ý chí sắt đá tự lập miệt mài học tập để có thành công như ngày nay?" Một số tờ báo tiêu biểu từ khởi thuỷ đến năm 194517/07/2010 03:38' PM Cùng với sự phát triển của đất nước, báo chí Việt Nam cũng đã có những bước phát triển kỳ diệu. Đến nay, cả nước đã có 524 cơ quan báo chí với 650 ấn phẩm báo chí, 50 đơn vị báo điện tử và hơn 10.000 người được cấp thẻ nhà báo đang hoạt động. Xin giới thiệu một số tờ báo tiêu biểu từ khi báo Việt Nam mới bắt đầu hình thành đến năm 1945. Hội Ánh sáng – một hình thức nhân đạo, xã hội chủ nghĩa13/07/2010 02:39' PM Sống trong một xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến, cuộc sống người dân quê cam chịu tối tăm giữa bùn lầy, nước đọng bởi còn một lý do nữa là do thất học và nghèo đói mà phải vậy. Phát hiện ra điều đó cùng với việc châm biếm đả kích thói hư tật xấu, những cảnh bóc lột hà hiếp dân lành của bọn phong kiến thực dân. Tự lực văn đoàn đã có phát kiến là thành lập Hội ánh sáng để cải thiện nhận thức của người dân. Đây không chỉ là lý thuyết mà là việc làm thực tế. Chuyện đàn bà12/07/2010 08:58' AM Ngày xưa, đàn bà có nết là những kỹ nữ có tiếng tăm lừng lẫy. Thời ấy, kỹ nữ là vật phụ thuộc sống nhờ đàn ông, song đã trở thành kỹ nghệ cao cấp thông thạo cầm, kỳ, thi, họa, lại cũng là những người tự do nhất, sống bình đẳng với đàn ông, cho nên có nết nhất. Ngày nay, đương nhiên không cần phải hy sinh bản thân, không cần phải sống giữa bùn nhơ mà chẳng hôi tanh mùi bùn như bông sen, không cần phải qua vực thẳm máu và nước mắt. Đàn bà có khí chất, có phong độ mỗi ngày một đông... Bài khác: Nhiệt đới buồn và "tư duy về kẻ khác"31/10/2009 07:48' AM Nhiệt đới buồn là tác phẩm hội tụ những tư tưởng triết học, nhân học - một tác phẩm chuyên ngành nhưng lại được viết dưới dạng du ký, mang vẻ đẹp và hương vị của một tác phẩm văn học. Phẩm giá con người trong truyền thông đại chúng30/10/2009 08:56' AM Trên các phương tiện truyền thông, khi mô tả cái nghèo khổ của người dân, nhất là những thảm họa, ta thường thấy những thông tin chi tiết về hoàn cảnh của người nghèo như thu nhập thấp, không đủ ăn, làm những công việc năng nhọc, bẩn thỉu, nguy hiểm, bệnh tật, mất mát, đói, cô đơn, đáng thương... với mong muốn họ được quan tâm hỗ trợ. Tiếp cận quá trình hiện đại hoá văn hoá Việt Nam từ góc độ chủ nghĩa cá nhân “văn hoá”26/10/2009 09:19' AM Cái mà chúng tôi gọi là chủ nghĩa cá nhân “văn hoá” không có liên quan gì đến chủ nghĩa cá nhân “đạo đức học”: đó là ý thức của cá nhân về cá tính và bản lĩnh riêng của mình, đặc biệt nó thể hiện ở “ lòng tin “của cá nhân vào “giá trị của ý kiến riêng của mình” cũng như giá trị những hình thức diễn đạt nó lựa chọn và sáng tạo, tóm lại đó là lòng tin của cá nhân vào bảng giá trị của nó (thuộc mọi lĩnh vực chính trị, mỹ học, đạo đức…). Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây25/10/2009 08:25' AM Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau. Làm thế nào để bản sắc dân tộc và hiện đại hóa được “cơm lành canh ngọt”?24/10/2009 02:34' PM Tính hiện đại thường được đặt ra như đối lập với bản sắc dân tộc (hoặc tính dân tộc). Sở dĩ như vậy là vì tính hiện đại thường bị hiểu một cách phiến diện bị lược quy vào sự tiếp thu chủ nghĩa duy lý (của phương Tây hiện đại), bị xem là kết quả đơn thuần của quá trình hợp lý hoá. Sơ lược về đời làm báo của Phan Khôi22/10/2009 04:21' PM Phan Khôi (1887-1959) can dự văn chương không hiếm khi với tư cách người sáng tác (làm thơ, viết truyện ngắn, truyện dài) nhưng thường khi với tư cách người bình luận, người nghiên cứu, hoặc với tư cách dịch giả. Hoạt động của ngòi bút ông gắn với báo chí đến mức di sản của ngòi bút ông có cơ mất hút trong mắt các lớp hậu thế nếu họ chỉ đi tìm ông theo cái kênh dễ soi là sách xuất bản thời trước và do vậy chỉ thấy được một ít văn phẩm (Chương Dân thi thoại, Việt ngữ nghiên cứu, …) dường như chưa xứng tầm cỡ tác giả! Phụ nữ - cá tính?20/10/2009 03:09' PM Vẻ đẹp cá tính gây ấn tượng mạnh cần phải đi kèm một thành công nhất định. Sắc đẹp để được ghi nhớ và chinh phục được mọi trái tim phải được hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao quý. Khi ấy, sắc đẹp sẽ vĩnh cửu. Áo dài Việt Nam qua các thời kì20/10/2009 08:25' AM Bà James Sterson, một sứ giả Mỹ đã nói rằng: Không một đất nước nào có một trang phục dân tộc vừa đẹp, truyền thống mà lại có chiều sâu văn hóa như tà áo dài Việt Nam. Thật đúng như thế, thật khó mà dịch từ “áodài” sang bất cứ ngôn ngữ nào vì không ở đâu có một tà áo dài như ở Việt Nam. |