Phẩm chất sinh viên

TS Vũ Thanh Tư AnhKhám phá
01:52' CH - Thứ tư, 13/05/2015

Luật giáo dục được sửa đổi vừa được Quốc Hội thông qua. Kiến giải của các nhà khoa học từ các góc nhìn khác nhau đã không dừng lại ở những điều luật mà Quốc Hội quyết nghị bởi lẽ cuộc sống vẫn đang đòi hỏi tìm kiếm câu trả lời: Làm sao nền giáo dục nước ta có thể đáp ứng các thách thức của thời đại...

Một con thuyền cứ mãi lênh đênh trên biển cả nếu nó không biết đâu là bến bờ cần đến. Cũng như vậy, một nền giáo dục sẽ không có định hướng hoặc đi chệch hướng nếu như những mục tiêu của nó không đúng đắn, rõ ràng, và nhất quán. Trong bài viết này, chúng tôi muốn cung cấp một cách nhìn khác liên quan đến một số nội dung trọng yếu của giáo dục đại học trong Luật Giáo dục mới được Quốc Hội thông qua, cụ thể được nêu rõ ở Điều 39 - Mục tiêu của giáo dục đại học.

Mục tiêu phải cụ thể hơn

Trung tâm của mọi hệ thống giáo dục đại học (GĐĐH) là sinh viên (SV). Mục tiêu của nền GDĐH phụ thuộc vào yêu cầu phát triển của đất nước ở hiện tại và trong tương lai. Để những mục tiêu này có khả năng hướng dẫn cho sự phát triển của hệ thống GDĐH thì chúng phải hết sức rõ ràng, cụ thể chứ không thể mơ hồ theo kiểu "mục tiêu của GDĐH là đào tạo người có phẩm chất chính trị, đạo đức có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây đựng và bảo vệ tổ quốc,, như trong Điều 39 của Luật Giáo dục sửa đổi được. Chẳng hạn sau khi đặc mục tiêu này, một người đọc nghiêm khắc chắc chắn sẽ tự hỏi không hiểu những “yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc" ở đây là gì (mặc dù người ấy không thể phủ nhận đó là những yêu cầu cốt yếu của một nền giáo dục Đại học). Và tại sao GDĐH lại phải đạt một mục tiêu có vẻ hết sực hiển nhiên là đào tạo ra những con người có kiến thức và năng lực tương xứng với trình độ đào tạo?! Rõ ràng hệ thống GDDH của VN cần có một hệ mục tiêu cụ thể hơn, để từ đó có thể trở lại hướng dẫn hành động cho toàn hệ thống. Trước khi đưa ra các mục tiêu của hệ thống GĐĐH, thiết nghĩ chúng ta cần nhất trí với nhau về xuất phát điểm của hệ thống GDĐH, đó là mỗi SV có những năng lực và mụctiêu khác nhau. Vì vậy, bên cạnh việc trang bị những kỹ năng và kiến thức cơ bản, nhiệm vụ của hệ thống GDĐH là tạo điều kiện và cơ hội, giúp SV phát hiện và bồi dưỡng những năng lực sở trường, để họ có thể đạt được mục tiêu trong cuộc sống và sự nghiệp và đóng góp cho sự phát triển của đất nước..

Tri thức toàn diện

Ở Việt Nam hiện nay tồn tại một thực trạng khá phổ biến là học sinh phổ thông chọn ngành học ở bậc ĐH theo định hướng của các bậc phụ huynh hay hùa theo bạn bè, mà không căn cứ vào những năng lực nổi trội của mình cũng như ước muốn về nghề nghiệp của họ trong đời sống. Một điều đáng buồn là giáo dục phổ thông của chúng ta chưa tạo cơ hội để học sinh phát triển hết nội lực của mình, và nhờ đó tìm được định hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực sở trường). Đến lúc trưởng thành hơn, tự biết được mình muốn gì và có thể làm gì trong cuộc đời thì đã thấy mình bỏ phí quá nhiều thời gian tuổi thanh xuân, là lúccon người có năng lượng sáng tạo và làm việc cao nhất.

Chẳng hạn một SV thi vào ĐH Tài chính theo gợi ý của bố mẹ, sau 1-2 năm mài dũng quần ở trường ĐH mới phát hiện ra rằng mình không hề thích hợp với những con số, sổ sách và chứng từ tài chính, trong khi đó cậu ta luôn say mê với những trang sử hào hùng của dân tộc và thích hợp hơn với ngành sử học. Quay sang xung quanh thì mọi cánh cửa gần như đã khép lại với cơ hội được đào tạo một cách chính quy để trở thành một nhà sử học của mình. Trường tài chính là một trường chuyên ngành, trong cả hệ thống giáo trình cũng khó tìm ra được một chữ "lịch sử" chứ chưa dám nói đến chuyện có môn lịch sử ở đó. Chẳng nhẽ muốn học sử lại phải bỏ học. Bỏ học thì phải ôn thi lại vô cùng mệt mỏi và tốn kém; rồi bố mẹ, gia đình, họ hàng, bạn bè, mọi người xung quanh sẽ nghĩ gì về một người bỏ học (mà lại bỏ học tài chính để đi học sử), rồi những năm tháng đã mất có lấy lại được chăng, và rồi nếu có được học sử thì ra trường sẽ làm gì?... Hàng ngàn câu hỏi quay cuồng trong đầu cậu ta, và rốt cuộc, cậu ấy đành phải bằng lòng với số phận đã "an bài" và tiếp tục sống một cách mòn mỏi với những con số, với sổ sách chứng từ mà mình hoàn toàn vô cảm. Rốt cuộc, đất nước mất một nhà sử học có tiềm năng để đổi lấy một nhà tài chính chán chường ngay đối với công việc của mình. Từ câu chuyện này, và hàng ngàn, hàng vạn câu chuyện tương tự khác, có thể rút ra một số bài học quan trọng. Để cho mỗi một SV có thể xác định và bồi dưỡng khả năng sở trường của mình thì chúng ta cần có thêm nhiều trường đại học đa ngành chứ không phải chuyên ngành như hiện nay. Hơn nữa, trong mỗi trường, bên cạnh những môn học cơ bản và cơ sở có tính bắt buộc thì nhất thiết phải bổ sung các môn học tự chọn trong các chuyên ngành khác nhau. Chính những môn học tự chọn này là cơ hội để SV tự kiểm định năng lục của mình ở các chuyên ngành khác nhau, tự đó tìm ra năng lực tốt nhất cùng cảm hứng để có thể học tốt một hay một số ngành học nào đó. Bên cạnh đó, việc cho phép một SV khoa học tự nhiên tự chọn một số môn học xã hội và nhân văn hay ngược lại còn đào tạo cho đất nước những con người có tri thức toàn điện, một điều kiện không thể thiếu được để hòa nhập vào xã hội tri thức hiện đại và tham gia một cách tích cực và hiệu quả cho xã hội dân sự của đất nước.

Yêu cầu sáng tạo

Vậy một nền GDĐH cần được đào tạo những con người có phẩm chất như thế nào để đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước? Và để đạt được những phẩm chất này thì hệ thống đào tạo ĐH phải được thiết kế và tổ chức ra sao?

SVĐH phải được khuyến khích khả năng sáng tạo. Một kết quả nghiên cứu gần đây về tính sáng tạo của SV ở một trường đại học lớn của VN cho biết, trong một mẫu điều tra khá lớn gồm hàng ngàn SV, chỉ có khoảng 20% sinh viên đạt hoặc vượt mức sáng tạo trung bình của tự giới. Như vậy, có tới 80% sinh viên có tính sáng tạo thấp hơn mức trung bình! Đây là một thông tin sét đánh, buộc các nhà GD học phải nghiêm túc xem lại phương pháp, chương trình, cách tổ chức dạy và học trong các trường đại học của Việt Nam.

Mỗi một con người đều được trời phú cho một khả năng sáng tạo ở các mức độ khác nhau. Nhưng để phát huy tối đa khả năng này thì cần phải có một môi trường thích hợp, trong đó yêu cầu tối thiểu đầu tiên là mọi người được phép độc lập suy nghĩ. Khả năng tư duy độc lập là cơ sở của sáng tạo tri thức, còn tư duy theo người khác thì nhiều nhất là tạo ra được một con đường mòn mỏi. Khả năng tư duy độc lập và sáng tạo của SV có thể được khuyến khích bằng cách cho phép họ thảo luận với nhau và thảo luận bình đẳng với giáo viên về những nội dung quan trọng của môn học. Tuyệt đối không được nhén trừng phạt một SV chỉ vì người ấy có ý kiến khác với những gì được dạy trên lớp. Ngược lại, giáo viên nét khuyến khích họ mạnh dạn đưa ra và bảo vệ những suy nghĩ của mình một cách có cơ sớ và khoa học (tuy điều này khó hơn với những ngành nghệ thuật). Học ĐH là học phương pháp tư duy và trau đồi khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự thám hiểm những chân trời mới chứ không phải là ê a học thuộc lòng như khối phổ thông cơ sở. Nếu chúng ta chia sẻ quan điểm này về dạy và học ở bậc ĐH thì một đồng thuận tất yếu sẽ là hệ thống giáo dục của chúng ta phải nuôi dưỡng và khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo.

Khám phá
Phẩm chất sinh viên
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,