Người Việt Nam cần có tư duy sáng tạo

TS. Hồ Bá Thâm
03:20' CH - Thứ tư, 19/08/2009

Vấn đề tư duy sáng tạo và yêu cầu phát triển, sử dụng tư duy sáng tạo trong công cuộc đổi mới, hiện đại hóa, hội nhập trong bước ngoặt hiện nay ở nước ta là hết sức cơ bản và cấp bách. Đã có một số bài viết, nghiên cứu và đặt ra nhằm đánh giá tư duy sáng tạo của người Việt và làm gì để tạo ra, phát huy tư duy sáng tạo, đột phá hiện nay? Nhưng vấn đề này còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời. Gần đây Chungta.com và VietnamNet lại trở lại chủ đề này (Tư duy phức hợp, tư duy sáng tạo), rất thú vị và rất đáng quan tâm (như trực tuyến bàn tròn “Tương lai Việt Nam và con đường của sự sáng tạo”, hay mấy bài viết về Hạ tầng tư duy và phát triển đất nước…) Xin gửi đến bạn đọc bài viết góp phần thảo luận chủ đề này:

I- Về năng lực tư duy sáng tạo

Trong quá trình nhận thức và hoạt động của con người, bao giờ cũng cần cả tư duy bắt chước và tư duy sáng tạo, mà trong đó xét về lâu dài tư duy sáng tạo là chủ đạo. Ngày nay, khi loài người đi vào kinh tế tri thức càng đòi hỏi cao tư duy sáng tạo vì đó là nền kinh tế dựa trên tri thức khoa học và văn hóa của sự đổi mới và sáng tạo không ngừng.

Chính vì vậy, ta cần hiểu cho đúng thế nào là tư duy sáng tạo?

Tư duy bắt chước là tư duy làm theo, còn tư duy sáng tạo là tư duy tìm một cách giải quyết mới, khác với tư duy trước đó, đúng đắn hơn tư duy trước đó trong quá trình chiếm lĩnh bản chất của đối tượng. Nhận thức là quá trình ngày càng tiếp cận chân lý, nhưng không chỉ là quá trình tổng hợp các chân lý tương đối đạt được mà còn là quá trình khắc phục những sai lầm để ngày càng ít sai lầm hơn. Đó là quá trình tìm ra những bản chất mới, hình thức mới, mô hình mới, quá trình mới, phương pháp mới. Do đó, quá trình nhận thức như thế về bản chất là có tính sáng tạo. Sáng tạo là phẩm chất tối cao của năng lực tư duy trước hết có tính bẩm sinh. Qua điều tra, người ta thấy rằng số trẻ em lúc 5 tuổi, số có sức sáng tạo là 95%, ở tuổi 17 là 10%, tuổi 20-45 là 5%. Như thế là sức sáng tạo ở người lớn thường bị kìm hãm, không bị mất đi hoàn toàn mà ở dạng tiềm tàng (Lưu Tường Vũ-Trương Đồng Toàn-Lý Thắng Quân-Thạch Tân: Nghề Tổng giám đốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.1, tr. 285-286). Nhưng về nguyên tắc là càng có nhiều tri thức và kinh nghiệm thì càng có năng lực sáng tạo.

Khi nghiên cứu 85 nhà khoa học, người ta đã khái quát một hệ thống 13 yếu tố tạo thành tư duy sáng tạo như: phương pháp giải quyết khác thường; nhìn trước được các vấn đề; nắm được mối liên hệ cơ bản; cấu tạo các yếu tố từ đó tạo ra chức năng mới; thay đổi hướng nghiên cứu; nhìn từ các con đường, các cách giải quyết khác nhau một cách tích cực; chuyển từ mô hình này sang mô hình khác; nhạy cảm với các vấn đề mới từ các vấn đề cũ đã giải quyết xong; biết trước kết quả; nắm được các tư tưởng khác nhau trong một tình huống nào đó; phân tích các sự kiện theo một trật tự tối ưu; từ đó tìm ra tư tưởng chung; giải đáp được những tình huống đặc biệt.

Tư duy sáng tạo cũng có nhiều cấp độ, hình thức:

1- Mức độ thấp của sự sáng tạo là cách chứng minh mới đối với kết luận cũ, hoặc do vận dụng vào cuộc sống mà có những cải biên, cải tiến cách làm so với cách cũ;
2- Cao hơn là tìm được những hình thức mới, những thuộc tính mới của sự vật, hiện tượng, hoặc phương pháp giải quyết mới;
3- Cao hơn nữa là khám phá ra bản chất mới, quy luật mới, quá trình mới, hoặc dự báo những xu hướng mới;
4- Cao nhất là, do những khám phá mới mà nhờ nó đã mở ra một khuynh hướng mới, một giai đoạn mới cơ bản trong khoa học, trong văn hóa, trong chính trị xã hội.

Các nhà khoa học cũng đã phân loại tư duy các nhà bác học (các nhà thông thái, các nhà cách tân, các nhà phát minh…) theo mức độ sáng tạo, như: tư duy có năng lực hệ thống hóa nhanh, theo cách của mình; loại khác là hiểu biết nhiều, nhanh chóng tìm ra những mặt mới; có loại luôn luôn khám phá và phát ra những thông tin mơi; có loại luôn đi đầu trong khoa học, mở ra những con đường mới, những chuyên ngành mới trong khoa học, trong văn hóa, trong thực tiễn. Cách phân chia này phần nào cũng tương ứng với các mức độ sáng tạo nói trên.

Phương pháp đi đến sáng tạo có rất nhiều tuỳ theo từng nhà khoa học, những nhà nghệ sĩ, nhưng có thể khái quát như sau: Thay đổi cách nhìn, tìm xem sự vật, hiện tượng còn những mặt những thuộc tính gì mới; hoài nghi nhận thức đã đạt được, đi ngược lại cách chứng minh cũ, lật đi lật lại vấn đề; luôn luôn tưởng tượng, mạnh dạn đề ra ý tưởng mới rồi tìm cách chứng minh và bác bỏ… Đó là một quá trình từng bước hoàn chỉnh nhận thức từ thai nghén, đến nuôi dưỡng, bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển nhận thức tiếp cận cái mới, tiếp cận chân lý. Trong mô hình nhân cách xét ở góc độ tư duy, các nhà nghiên cứu thường nhắc đến các mô hình như: mô hình cảm giác-tình cảm, trực giác-tình cảm, cảm giác-tư duy, trực giác- tư duy… trong đó mô hình trực giác-tình cảm và trực giác- tư duy là hướng tới khả năng sáng tạo mạnh hơn, nhiều hơn. Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định nên vận dụng tổng hợp các loại năng lực tư duy: tư duy kinh nghiệm, tư duy lôgíc, tư duy trực giác trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.

Những điều kiện của sự sáng tạo là: có động cơ đúng, trong sáng, vì sự tiến bộ của xã hội và con người: phải tích lũy nhiều kiến thức và kinh nghiệm, cập nhật thông tin; luôn luôn suy nghĩ, mài sắc năng lực tư duy, kiên trì hướng nghiên cứu đã chọn; có bản lĩnh tìm chân lý, bảo vệ chân lý; có môi trường lao động, học tập dân chủ, khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo. Tất nhiên, để có thể trở thành nhà sáng tạo hay có những sáng tạo trong quá trình lao động trí óc, chủ yếu vẫn là nhờ học tập không ngừng trong thực tiễn và trong sách vở, tuy năng khiếu nào đó của tư duy bẩm sinh theo mức độ hoặc theo lĩnh vực là điều không thể phủ nhận. Dù rằng, như Einstein có nói là “trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức”, nhưng tư duy sáng tạo không chỉ phụ thuộc vào năng lực tư duy như năng lực tưởng tượng, năng lực trừu tượng hóa và xét đoán mà còn phụ thuộc rất lớn vào tri thức, về nguyên tắc là tri thức càng cao, càng nhiều càng có khả năng so sánh và sáng tạo, do vậy không nên tuyệt đối hóa mặt nào. Nhưng không chỉ có thế, năng lực sáng tạo còn phụ thuộc vào cảm xúc tâm lý, ý chí và nói chung là cả sức khỏe tâm lý và sức khỏe thể chất nữa. Trí tuệ sáng tạo và hành động sáng tạo thực ra là bao gồm, nhờ kết hợp cả hai mặt đó chứ không riêng biệt một mặt nào.

Sáng tạo như vậy là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố tâm sinh lý, tri thức, cảm xúc, sự minh mẫn, lôgíc, trực giác, kinh nghiệm, sự kiên trì, lòng dũng cảm trong quá trình lao động lâu dài. Ở đó, tư duy của não trái tìm cách chứng minh, suy luận lôgic, kiểm tra, còn tư duy não phải là trực giác, tưởng tượng, linh cảm, sáng tạo. Trực giác, linh cảm, tưởng tượng trong não bộ người không phải là thần bí mà là hiện thực, mà ở đó có sự kết hợp giữa cơ chế sinh học đặc biệt (tầng siêu vật lý) và sự tích lũy, chiêm nghiệm về mặt tinh thần được thăng hoa xảy ra tức thời (siêu thức), khác với tầng cơ chế sinh học (tầng vật lý), tư duy lô gíc (ý thức) trong quá trình phản ánh và sáng tạo. Do đó, kết quả đạt được trong tư duy bao giờ cũng có sự phối hợp chung của cả não trái và não phải, không có sự chia cắt tuyệt đối, thậm chí có sự chuyển hóa giữa chúng, sự bổ sung, làm tiền đề cho nhau, trong cái này có cái kia và ngược lại.

Tuy rằng, mỗi lĩnh vực sáng tạo có thể có đặc điểm riêng, chẳng hạn trong văn học nghệ thuật là mang tính cảm xúc, tưởng tượng, xuất thần bằng các hình tượng nghệ thuật theo một trật tự lôgíc nhất định dựa trên sự tích lũy chiêm nghiệm lâu dài mang tính cá thể cao; còn trong khoa học thì chủ yếu dựa vào tri thức, hiểu biết, suy nghĩ trên cơ sở tư duy lôgic kết hợp với trực giác, tưởng tượng tuỳ theo năng lực từng người; nhưng cả hai đều có nét chung là trải qua quá trình quan sát, nhận thức; ghi nhớ; phân tích, phán đoán; tưởng tượng sáng tạo. Nghệ thuật không chấp nhận sự lặp lại, lặp lại là con đường chết của nghệ thuật; còn khoa học thì có thể dựa vào sự lặp lại, tức tiêu hóa tri thức nhưng trên đó phải có sự sáng tạo nhất định, vì khoa học không chỉ là chính xác, đúng đắn mà khoa học còn là sự sáng tạo, không có sáng tạo khoa học không có sức sống.

Ngày nay, máy tính đã làm được một số chức năng của não người, nhưng chủ yếu là chức năng lặp lại, làm theo một trật tự lôgíc vạch sẵn, thực hiện các chức năng lôgíc hình thức và các “máy tính thông minh” có thể tự điều khiển, thậm chí có những khả năng tư duy biện chứng nhất định (thế hệ “máy tính tư duy biện chứng”- theo dự báo của các nhà khoa học). Máy tính đã có nhưng hoạt động tính toán, xử lý cực nhanh, nhanh hơn não người nhiều lần và sẽ còn nhiều điều kỳ diệu khác ở máy tính. Nhưng phần cảm xúc, tưởng tượng thật sự, phần sáng tạo phát minh thì máy vi tính tinh vi nhất cũng không thể làm được, dù con người có thể chế tạo ra “bộ não người nhân tạo”. Các khoa học về gen, về não bộ người tiếp tục nghiên cứu tìm ra cơ chế sáng tạo ở não người, nhưng theo các nhà nghiên cứu, thì sự tưởng tượng, trực giác, linh cảm thì hầu như luôn luôn lẩn tránh các dụng cụ, phương tiện của khoa học. Cái mà khoa học đang học, não người là bắt chước tư duy lôgíc. Thời đại máy tính ra đời, máy đã cùng suy nghĩ với con người, người cùng với máy thực hiện lao động trí tuệ đã giải phóng một phần sự vất vả của não bộ người, và tạo khả năng cho não người đi sâu vào sáng tạo, đang đẩy loài người tiến lên với tốc độ phi thường và đạt tới một xã hội vừa khoa học vừa nhân văn.

Vấn đề đặt ra về mặt thực tiễn là làm sao để phát triển và phát huy được tư duy sáng tạo? Tư duy của con người vừa có tính năng động sáng tạo vừa có tính trì trệ. Một mặt, tư duy của con người phụ thuộc vào môi trường sống, môi trường cũng có thể hạn chế tư duy sáng tạo, nếu nó độc đoán, chỉ khuyến khích làm theo một cách máy móc (cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp); còn nếu nó dân chủ, rộng mở, khuyến khích sáng tạo (cơ chế kinh tế thị trường, dân chủ pháp quyền); mặt khác, tư duy phụ thuộc vào lợi ích, vào tâm sinh lý nhân cách của con người, phụ thuộc vào bản tính và quán tính của tư duy, nhận thức vừa có tính vượt trước, vừa có tính lạc hậu hơn so với thức tiễn.

Xét sâu hơn về mặt tâm lý cá nhân, muốn có sáng tạo, theo sự tổng kết của các nhà nghiên cứu, phải khắc phục cho được các lực cản tâm lý như: tránh thái độ bi quan, thất bại chủ nghĩa, tránh sức ép quá lớn về tâm lý vượt qua những qui định lỗi thời, chớ để giả thiết đánh lừa, tránh được sai lầm của lôgíc, tránh tự ti cho rằng mình thiếu sáng kiến, táo bạo trong suy nghĩ và hành động, luôn luôn coi sự vật quen thuộc là xa lạ, hoặc nhìn sự vật xa lạ một cách quen thuộc và dựa vào tư duy lý luận để suy nghĩ và giải quyết vấn đề (Sđd, t.1, tr. 286-305).

Giữa hai mặt đó, xét trên phạm vi loài người thì thực tiễn, môi trường cuộc sống là nhân tố quyết định nhất, nhưng xét từng người thì nhân tố trực tiếp, quyết định nhất là tâm lý và năng khiếu bản tính tư duy từng người. Bởi vì, như ta thấy sự suy nghĩ bao giờ cũng bằng cái đầu của mỗi người cụ thể và từ đó ta nhận thấy trong môi trường thực tiễn như nhau, nhưng mỗi người có nhận thức sáng tạo rất khác nhau. Ở đây, có mối tương quan biện chứng giữa chủ thể nhận thức, đối tượng nhận thức và môi trường nhận thức trong quá trình phát triển tư duy nói chung và tư duy sáng tạo nói riêng. Nhưng sự sáng tạo cá nhân, kể cả vĩ nhân cũng rất ít trường hợp vượt qua được hạn chế của thời đại mình. Những đầu óc có khả năng soi sáng cho tương lai nhiều thế kỷ như Einstein, C. Mác, Hồ Chí Minh… là rất hiếm.

Vấn đề tìm kiếm các cơ chế, phương pháp giáo dục mới, khắc phục lối học nhồi nhét kiến thức, tầm chương trích cú kiểu Nho giáo, thật sự khuyến khích mạnh mẽ sự sáng tạo, điều đó có ý nghĩa to lớn trong chiến lược nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nhưng ở đây phải có sự đồng bộ trong cơ chế quản lý xã hội dân chủ thông thoáng, khuyến khích tài năng; cơ chế lao động trí tuệ theo “lý thuyết trò chơi”, sử dụng các mũ tư duy phù hợp với bản chất lao động trí tuệ mà ở đó rất khuyến khích cái mới và sự phản biện.

Nhu cầu xã hội ngày nay đang thúc đẩy, đòi hỏi tư duy sáng tạo ra đời và sự phát triển xã hội sẽ như thế là nhờ vào tư duy sáng tạo trong chiến lược phát triển và thực thi chiến lược đó. Do đó, về mặt chủ trương làm sao có được một chiến lược phát triển tư duy sáng tạo của dân tộc và biến chiến lược đó thành hiện thực trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế?

II. Năng lực tư duy sáng tạo của con người Việt Nam

Khi nói về con người Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu các phẩm chất đạo đức như tinh thần yêu nước, đoàn kết, tính lạc quan yêu đời, tình nghĩa trong ứng xử… nhưng về các phẩm chất trí tuệ, nhất là phẩm chất sáng tạo, năng lực tư duy sáng tạo và những đòi hỏi gay gắt trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì quả là còn ít công trình nghiên cứu. GS.Trần Văn Giàu, trong một công trình về giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam có một chương nói về sự sáng tạo của người Việt Nam trong lịch sử, dưới góc nhìn lịch sử (Xem: Trần Văn Giàu tuyển tập, Nxb. Giáo dục, tr. 398-414.). Ở đây, chúng ta cần đặt ra để nghiên cứu vấn đề đó cả ở tầm lý luận cơ bản và tầm ứng dụng.

Trong thời kỳ xây dựng, đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đòi hỏi rất cao năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hơn bất kỳ thời kỳ nào khác. Nhưng con người Việt Nam có tiềm năng sáng tạo hay không, mức độ sáng tạo ở mức nào? Làm sao để phát huy được tiềm năng sáng tạo đó? Đây là một hướng nghiên cứu sâu mà ở đây chỉ xin nêu ra như sự gợi ý bước đầu.

Khi nói về tiềm năng sáng tạo ta thường thấy các cấp độ hay mức độ như tiềm năng sáng tạo trong hành động thực tiễn (trong sản xuất và chiến đấu); tiềm năng sáng tạo trong tư duy (hoặc tiềm năng sáng tạo trong khoa học, nghệ thuật); cải tiến, phát hiện, phát minh trong công nghệ…

Năng lực sáng tạo là năng lực tạo ra cái mới về chất hợp quy luật. Những tiêu chí của trí sáng tạo, nhân cách sáng tạo là năng lực thích ứng, linh hoạt cao; tính độc lập hơn trong đánh giá, chống lại mọi sự áp đặt, gò ép; ý thức tự chủ và quyết đoán cao hơn… Còn trí thông minh chỉ là nhớ nhiều, tổng hợp giỏi, hệ thống khéo, xử lý linh hoạt. Thông minh là một cơ sở của trí sáng tạo nhưng thông minh chưa hẳn là sáng tạo. Chỉ có trí sáng tạo và nhờ vào hoạt động sáng tạo thật sự thì con người và xã hội mới phát triển cao hơn về chất. Bởi vì, thông minh chỉ là lặp lại một cách linh hoạt còn sáng tạo là đóng góp mới về chất, cao hơn trong quá trình sản xuất vật chất và tinh thần. Thông minh chưa hẳn trở thành nhân tài nhưng có năng lực sáng tạo thì đó là hạt nhân của nhân tài. Trong khi đó người ta lại đề cao sự thông minh nhưng ít đề cao sự sáng tạo. Hoặc nói về con người với tư cách là chủ thể sáng tạo (nghĩa là làm ra) nhưng ít nghiên cứu sâu năng lực sáng tạo (đổi mới, sáng chế, phát minh, phát kiến…) của con người nhất là về mặt khoa học thực nghiệm, khoa học cụ thể.

Một dân tộc hay một con người có nhiều sáng kiến, nhiều phát minh sáng chế, đạt được nhiều thành tựu to lớn, thúc đẩy cao sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội là biểu hiện của năng lực, tiềm năng của trí sáng tạo được phát huy.

Vậy người Việt Nam ta quả là người có chỉ số thông minh cao, có trí nhớ và tính tổng hợp văn hóa khá cao. Đã có khá nhiều nhận định không sai là dân tộc Việt Nam ta có nhiều nhân tài, “có trí thông minh không hề thua kém” bất kỳ một dân tộc nào khác, hoặc “năng lực tư duy không kém ai”. Nhưng mức độ sáng tạo thì chưa được đánh giá rõ ràng, tuy vậy không thể phủ nhận con người Việt Nam không có năng lực sáng tạo.

Công việc đấu tranh và xây dựng nhiều thiên niên kỷ với những chiến công lẫy lừng và việc tạo dựng một nền văn minh trống đồng, nền văn hóa Lạc Việt nổi tiếng với việc tiếp biến các giá trị văn hóa ngoại lai với các giá trị văn hóa bản địa chứng tỏ điều đó. Dân tộc ta cũng là người có năng lực sáng tạo cao nhưng phát triển không đều. Trong chiến đấu đánh giặc và trong y học thì trí sáng tạo biểu hiện rất cao cả trong hành động và trong tư tưởng có tính lý luận. Hoặc trong nghệ thuật dân gian những sáng tạo của nhân dân ta cũng khá độc đáo thể hiện qua hệ thống các chuyện dân gian, các văn hóa vật thể. Nhưng trong sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế, trong khoa học kỹ thuật, trong lĩnh vực xây dựng lý thuyết riêng thì còn nhiều hạn chế, ít có công trình lớn nổi bật.

Thực tế không bác bỏ được rằng dân tộc ta thông minh và sáng tạo trong đáng giặc, cứu nước, nhưng trong xây dựng, trong sản xuất, trong khoa học kỹ thuật ít có những phát minh sáng chế, ít có sáng tạo về kỹ thuật công nghệ và trong sản xuất kinh doanh, ít có các lý thuyết khoa học. Hoặc trong ứng xử, trong hoạt động thực tế thì có những cải tiến, có tính sáng tạo, có những nhà cách tân (như Nguyễn Công Trứ, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trường Tộ…) nhưng lại ít có những nhà lý luận, những nhà khoa học tầm cỡ có trí sáng tạo cao. Những trường hợp như Lương Thế Vinh, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… là không nhiều. Phải chăng do hoàn cảnh hay do tư chất?

Có thể một dân tộc có tiềm năng sáng tạo nhưng hoàn cảnh lịch sử đã hạn chế nhiều khả năng phát huy, nhưng cũng có thể bản thân con người của dân tộc đó có tiềm năng sáng tạo không cao. Không thể không thấy rằng văn hóa kiểu Nho giáo mang tính giáo điều, thuộc sách, xưa hơn nay, văn hóa ấy đề cao văn hóa đạo đức nhưng thiếu hẳn văn hóa sáng tạo; hoặc chế độ phong kiến tập quyền, thiếu tự do dân chủ, hạn chế sáng tạo trong tư duy con người; hay nền sản xuất tiểu nông, khép kín kiểu làng xã; hoặc do kháng chiến chống giặc ngoại xâm liên miên nhiều thế kỷ, thậm chí thiên niên kỷ phải dồn tâm lực, trí tuệ vào đó… đã hạn chế lớn đến nhiều lĩnh vực sáng tạo khác trong tư duy và nhân cách con người Việt Nam. Đó là “cái khó bó cái khôn”. Nhưng “cái khó còn ló cái khôn, cái mới” nữa kia mà?

Với những thành tựu của công cuộc đổi mới đã chứng tỏ năng lực sáng tạo rất cao của Đảng và nhân dân ta trong việc thực hiện những nhiệm vụ lịch sử do thời đại đặt ra mà tư duy cũ đã lạc hậu và không thể đáp ứng nổi. Thế hệ trẻ Việt Nam đi thi quốc tế về toán, về nhạc, về cờ vua; một số thanh niên đã thành đạt trong khoa học và kinh doanh ở trong và ngoài nước, đã chứng tỏ rằng dân ta có chỉ số sáng tạo cao. Nhưng hoàn cảnh, cơ chế xã hội truyền thống đã hạn chế nhiều năng lực đó. Vấn đề là phải tạo môi trường pháp lý và tâm lý phát huy óc tưởng tượng sáng tạo, tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam ta thời hiện đại.

Tất nhiên, cuộc sống rất cần tư duy bắt chước một cách khôn ngoan, tư duy này cũng rất thiết yếu và quan trọng. Nhật Bản thời hiện đại do biết bắt chước, tức bắt chước có cải tiến mà phát triển nhanh về kinh tế và công nghệ, tuy rằng ngày càng thấy rằng phải sáng tạo một cách cơ bản mới tiến xa và vững chắc, ít lệ thuộc. Người Việt Nam ta cũng giỏi thích nghi, giỏi bắt chước một cách thông minh và có hiệu quả không thể coi nhẹ. Cuộc sống cần cả tư duy giỏi bắt chước và cả tư duy sáng tạo. Nhưng thực tế cũng thừa nhận rằng tư duy sáng tạo của người Việt Nam ta còn nhiều hạn chế, nhất là trong hoạt động kinh doanh, trong sáng chế công nghệ, trong xây dựng lý thuyết khoa học riêng. Nếp sống và nếp nghĩ bao cấp, thụ động, dựa dẫm, an phận thủ thường, bảo thủ, tự ti, giỏi bắt chước nhưng kém trí tưởng tượng và ít sáng kiến, sáng tạo, ít chịu mạo hiểm, ít có đột phá trong nhận thức và hành động, sức sáng tạo có khi “bị còi cọc”, nặng phục tùng “chính thống” nên cùng lắm là ở mức “vận dụng sáng tạo”( Xem thêm:Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc, Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2000, tr. 172, 275). Tuy không phải lúc nào cũng vậy nhưng chúng ta cần thấy rõ hơn nhược điểm trong tư duy của dân tộc ta mà di chứng còn mãi tới ngày nay, nhất là khi so sánh về tư duy khoa học và tư duy lý luận sáng tạo.

Ngày nay, với thời đại Hồ Chí Minh, thời đại phát triển sáng tạo nhất trong lịch sử dân tộc trên cả mặt lý thuyết và thực hành, nhất là trong sự nghiệp kháng chiến trước đây hay trong công cuộc đổi mới theo chiều sâu và hiện đại hóa đất nước hiện nay đã chứng tỏ điều đó. Hiện nay, chúng ta đang ở bước ngoặt lớn cần có nhiều sáng tạo, từ những sáng tạo lớn về lý luận về con đường phát triển của đất nước, đến những sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, trong khoa học kỹ thuật, công nghệ với những phát minh sáng chế, đến những ứng dụng, cải tiến các giải pháp tiếp thu tinh hoa văn hóa và công nghệ của thế giới có hiệu quả. Ngày nay mà không thực hiện được sự bắt chước một cách thông minh và sáng tạo như thế thì không thể phát triển đuổi kịp và đuổi vượt được, hơn nữa cũng khó mà thực hiện được sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa thành công.

III. Yêu cầu đòi hỏi phát triển con người có tư duy sáng tạo trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước thực hiện nền kinh tế tri thức

1. Tư duy sáng tạo là hạt nhân của nhân tài

Sáng tạo, như đã nói tới, là đặc trưng bản chất quan trọng nhất của con người khác với con vật. Chính phương thức hoạt động thực tiễn và khả năng có trí tuệ làm cho con người có năng lực sáng tạo. Toàn bộ lịch sử xã hội là bằng chứng của tư duy sáng tạo của con người, chống lại sự bảo thủ trì trệ, giáo điều, rập khuôn. Trong đó các nhân tài, mà điểm nổi bật là năng lực sáng tạo, vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là người sáng tạo lịch sử ở các bước ngoặt trên nền tảng hoạt động tích cực của đại đa số nhân dân.

Nhưng ở những người khác nhau cũng có năng lực sáng tạo khác nhau không chỉ do khí chất tâm lý, tri thức, kinh nghiệm, vốn sống, cảm xúc mà còn do tác động của môi trường xã hội, do trình độ và bản chất các nền kinh tế, văn hóa truyền thống trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Mỗi dân tộc do vậy cũng có những khả năng và mức độ sáng tạo khác nhau cao thấp hoặc loại hình thiên về lý thuyết hay thực hành, khoa học hay nghệ thuật, công nghệ hay lý luận, khoa học tự nhiên hay xã hội…

Mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi thời đại cũng đòi hỏi nhưng khả năng sáng tạo khác nhau và con người cũng có những đáp ứng khác nhau. Nền kinh tế nông nghiệp ít đòi hỏi năng lực sáng tạo hơn nền kinh tế công nghiệp và thị trường, nền kinh tế tri thức lại có những đòi hỏi sáng tạo cao hơn nữa. Trong thời bình và đời thường thì có khi sự đòi hỏi năng lực sáng tạo không cao bằng trong chiến tranh mất còn, tức là nói chung các tình huống khắc nghiệt, kể cả trong thời xây dựng thường đòi hỏi cao năng lực sáng tạo của con người và của cả một dân tộc. Cái khó có bó cái khôn, cái mới nhưng cũng chính trong cái khó mà ló cái khôn, cái mới là thế.

2. Nhu cầu của quá trình hiện đại hóa và nền kinh tế tri thức

Nhưng nền kinh tế trước kia nhu cầu sáng tạo không cao. Sang nền kinh tế hiện đại, tri thức hóa thì có nhiều nhu cầu sáng tạo. Sáng tạo là linh hồn của nền kinh tế hiện đại tri thức hóa và là linh hồn của một dân tộc hiện đại có khả năng tự phát triển cao. Vì nền kinh tế tri thức là nền kinh tế luôn sản xuất ra cái mới, cái chưa biết. Đó là nền kinh tế của trí tuệ không chỉ đòi hỏi sự thông minh và hiểu biết mà quan trọng hơn là sự phát minh, sáng tạo. Sự thông minh, hiểu biết nhiều, nhanh nhạy linh hoạt trong ứng xử, đối phó là một cơ sở của sự sáng tạo chứ không phải là sự sáng tạo, tức làm sản sinh ra cái mới, thoát khỏi cái cũ và có khả năng thúc đẩy xã hội và con người tiến lên phi thường.

3. Những loại hình tư duy sáng tạo trong nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế tri thức cần nhiều loại hình tư duy sáng tạo. Trực tiếp là sáng tạo tri thức, công nghệ của những nhà khoa học và công nghệ; tư duy sáng tạo của các nhà kinh tế kinh doanh, các nhà hoạt động văn hóa xã hội; tư duy sáng tạo nghệ thuật; nhưng có loại hình sáng tạo bao trùm là tư duy sáng tạo của các nhà lãnh đạo, quản lý.

Nhưng dù loại hình nào thì cũng có bốn phương diện như: nhân cách sáng tạo, quá trình, phương thức sáng tạo và sản phẩm sáng tạo. Trong nhân cách sáng tạo thì có ý chí sáng tạo, động cơ sáng tạo, trí tuệ sáng tạo, năng lực tư duy sáng tạo. Cố nhiên, những khía cạnh đó không tách rời nhau mà tạo thành các phẩm chất sáng tạo. Điều đáng chú ý nhất trong đó là năng lực sáng tạo.

4. Sáng tạo và động lực của sáng tạo

Sáng tạo nghĩa là tìm tòi cái mới, có ích. Nhưng hành vi đó chỉ trở thành hiện thực khi xã hội và cá nhân có nhu cầu và lợi ích phải sáng tạo và được tôn trọng chính cái sáng tạo đó. Tức là sáng tạo chỉ được diễn ra dưới sự tác động của động lực sáng tạo.

Theo GS. TS. Ngô Duy Tùng thì có các động lực như:

- Động lực sinh động là động lực bản năng trong tư duy con người. Một người mà óc chưa bị lão hoá là có nhu cầu và khả năng sáng tạo.
- Động lực kích thích do các nhu cầu về vật chất hay tinh thần kích thích tạo ra nguồn động lực sáng tạo.
- Động lực môi trường có không khí dân chủ, thoải mái tôn trọng sáng tạo thì khả năng sáng tạo được mở rộng.
- Động lực so sánh như có sự khác biệt, tạo sự cạnh tranh tìm cách giải quyết khác nhau.
- Động lực kỳ vọng tức là ham muốn sáng tạo tìm tòi cái mới.
- Động lực vươn lên, muốn tiến bộ đã tạo ra khả năng sáng tạo để thành công (Kinh tế tri thức, xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 308- 309).

Vậy làm thế nào để tạo ra động lực của sự sáng tạo?

Cần có cả môi trường thể chế và tâm lý xã hội, cả phương pháp và tư chất của nhân cách sáng tạo với niềm đam mê sáng tạo cao.

5. Phương pháp sáng tạo

Sáng tạo có nhiều mức độ từ thấp lên cao và cũng có nhiều phương pháp tương ứng (Kinh tế tri thức, xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 309- 310.).

  • Sáng tạo ở mức thấp: có phương pháp mở rộng công năng các phương tiện, thiết bị máy móc; hoặc tìm cách tăng hiệu quả công việc chọn trước; hoặc tìm sự so sánh.
  • Sáng tạo ở mức trung bình có phương pháp thay đổi thứ tự; phương pháp khích lệ trí lực cao, tranh luận, gợi ý mới trong lao động tập thể; phương pháp tìm hướng ngược lại, ngược dòng nước phương pháp phân tích hệ thống.
  • Sáng tạo ở mức cao có phương pháp phân tích động thái dùng lý luận phi cân bằng để phân tích vấn đề; phương pháp tổng hợp nhiều khoa học, nhiều phương pháp, nhiều cách nhìn…

6. Chống chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn và khắc phục chủ nghĩa quan liêu, chủ động đổi mới tư duy; xây dựng và phát huy tư duy sáng tạo.

Nước ta là một nước mà hiện nay nền kinh tế còn ở trình độ kém phát triển, đang phát triển. Với ảnh hưởng của tư duy Nho giáo và tư duy tiểu nông đã hạn chế lớn tư duy sáng tạo. Tuy trong kháng chiến và trong một vài lĩnh vực đã có tác động làm nảy sinh tư duy sáng tạo nổi bật cả góc độ lý thuyết và thực hành. Nhưng tư duy sáng tạo, phát minh, sáng chế khi đi vào sản xuất, làm ăn bình thường thì lại rất hạn chế.

Có nhiều phương thức kích thích, đào luyện nên năng lực tư duy sáng tạo. Vấn đề giáo dục, nhất là về phương pháp giáo dục theo tình huống có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển tư duy sáng tạo. Hạt nhân của giáo dục trong thời đại kinh tế tri thức được nhiều nhà khoa học khẳng định là phải tạo ra tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo nhiều mặt nhằm khuyến khích và phát triển nhân cách sáng tạo.

Nhưng cái bao trùm và có ý nghĩa quyết định là phải dân chủ hóa xã hội và đặc biệt là dân chủ hóa trong lao động trí óc, lao động khoa học và lao động nghệ thuật, tạo môi trường tôn vinh về vật chất và tinh thần đối với sản phẩm sáng tạo và các tài năng sáng tạo. Không có môi trường này khó mà chống được tư duy giáo điều và bảo thủ, khó phát huy được tài năng sáng tạo.

Về điều này thông qua thời kỳ đổi mới tuy đã có nhiều tiến bộ hơn trước nhưng trong tâm thế xã hội chưa tôn vinh cao những sản phẩm và tài năng sáng tạo. Có nhiều cuộc thi về sắc đẹp và về sự hiểu biết, kiểm tra trí nhớ, trí thông minh nhưng ít cuộc thi về trí sáng tạo; hơn nữa thấy rằng các giải thưởng cho sự sáng tạo thấp hơn rất nhiều với các lĩnh vực khác mà ở đó chỉ cần và thể hiện sự thông minh và hiểu biết thôi là đủ. Một số nước như ở Tây Âu, Nhật Bản trong dư luận xã hội, trong nền giáo dục, trong nền khoa học của họ rất chú ý tôn vinh, khen ngợi ở mức cao nhất “người có óc sáng tạo” (a creative person). Trong khi đó một số nước như Trung Quốc (Theo GS.TS. Ngô Quý Tùng, Sđd, tr.199) và Việt Nam ta cũng vậy, chỉ tán thưởng nhiều nhất lại là người “thông minh”-tức người có trí nhớ tốt, hiểu được ý người khác… nói chung là không bao hàm sự sáng tạo. Với nền giáo dục trọng sự nhồi nhét kiến thức và trí nhớ thuộc lòng thì khó lòng có thể có tư duy sáng tạo và nhân tài. Đó là điều cần sớm khắc phục bằng một cuộc cách mạng về giáo dục mà kêu gọi đã nhiều nhưng chưa có những sáng tạo đột phá ngay bản thân hoạt động giáo dục-đào tạo. Mà ở đây chúng ta đang gặp một cản ngại lớn trong tâm lý bảo thủ của dân tộc nông dân lại nặng nếp suy nghĩ và tâm thế Nho giáo cổ hủ. Đó là “kẻ thù” chúng ta cần chiến thắng nhưng không phải trong một thời gian ngắn.

Đồng thời, để tạo ra các năng lực sáng tạo cũng cần tạo ra những cơ thể sinh học lành mạnh, có đủ tư chất thông minh và năng lực sáng tạo bẩm sinh cao. Đây là lĩnh vực của y học, dinh dưỡng học, nhân thể, sinh thể học và cả thẩm mỹ học, tâm lý, giáo dục học rất quan trọng không nên coi thường.

Nhìn chung trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước thực hiện kinh tế tri thức thì vẫn cần văn hóa thông minh nhưng chủ yếu là cần có văn hóa sáng tạo cả trong quản lý lãnh đạo, trong sản xuất kinh doanh, trong khoa học, công nghệ và trong văn hóa nghệ thuật mà trong đó cốt lõi là phát triển mạnh năng lực tư duy sáng tạo cả về lý luận và thực hành. Không có văn hóa và năng lực sáng tạo như vậy không thể có nhiều nhân tài, không thể có tiến bộ cho dân tộc, không thể tiến lên văn minh và xã hội chủ nghĩa. Coi nhẹ tư duy sáng tạo, coi nhẹ nhân tài thì tất yếu sẽ bị tụt hậu.

Người Việt Nam cần có tư duy sáng tạo
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,