Vong thân

Nguyễn Văn TrungNXB Nam Sơn - 1972
11:25' SA - Thứ hai, 19/01/2009

Xem »


Vong thân bày tỏ tình cảm con người đánh mất hay bị mất bản thân, bản ngã của mình. Mất ở đây không phải là không còn nữa, vì bị tan vỡ, trở thành không có nhưng là bị biến thể. Bản thân vẫn còn có, nhưng bị tách khỏi mình, trở thành khác mình và hơn nữa trở thành xa lạ, đối lập với chính mình.

Vong thân là khái niệm căn bản trong triết học Hegel một triết gia duy tâm nổi tiếng người Đức vào cuối thế kỷ thứ XIX.

Vấn đề quan trọng, đề tài then chốt làm bận tâm các nhà triết học, những thế kỷ XVII, XVIII, XIX vẫn là vấn đề nhận thức: làm sao lý trí tinh thần có thể biết được sự vật, thế giới bên ngoài là một thực tại khác với tinh thần, lý trí? Những triết gia duy lý nhấn mạnh vào vai trò quyết định của tinh thần, lý trí, còn những triết gia duy nghiệm nhấn mạnh vào tính cách tích cực chủ động của sự vật, thế giới bên ngoài. Kant cố gắng dung hòa hai quan điểm đối lập. Đến Hegel, Hegel cho rằng không bao giờ giải quyết được vấn đề bao lâu cứ đứng ở bình diện phân biệt tinh thần là một thực tại khác với sự vật, thế giới bên ngoài. Và đứng ở bình diện tách biệt trên theo Hegel phải nhìn nhận không thể có quan điểm nào hoàn hảo hơn quan điểm của Kant.

Hegel không xóa bỏ vấn đề nhận thức, nhưng thay đổi hẳn quan niệm nhận thức. Trước hết Hegel nhìn nhận chỉ có một thực tại và thực tại duy nhất đó là tinh thần. Nhưng ở khởi điểm, tinh thần chưa biết mình là tinh thần, chưa tự giác là tinh thần, vì tinh thần chỉ biết mình là tinh thần ở tận cùng lịch sử, một diễn biến lâu dài gồm nhiều giai đoạn. Nói cách khác, tinh thần không ở trạng thái im lìm và hoàn tất ngay từ khởi điểm và phải trải qua một lịch trình diễn tiến trong lịch sử để đạt tới tự giác.

Vậy tất cả mọi sự của thực tại: thế giới vật chất, nhà nước, văn minh, tôn giáo, nghệ thuật, triết lý… chẳng qua chỉ là những biểu lộ của tinh thần trong lịch sử diễn tiến hướng về tự giác. Do đó khi tinh thần tìm hiểu thế giới bên ngoài, lịch sử, không phải là tìm hiểu một thực tại khác mình vì không bao giờ hai thực tại khác nhau về bản chất, có thể hiểu nhau mà chỉ là tinh thần tự tìm hiểu mình qua những biểu lộ của chính mình.

Trong viễn tượng đó, nhận thức triết lý không còn phải là giải thích tại sao và bằng cách nào lý trí, tinh thần biết được thế giới bên ngoài hoặc xác định những điều kiện có thể nhận thức như Kant đã làm mà là mô tả những biểu lộ xuất hiện của tinh thần trong lịch trình diễn tiến của nó. Những biểu lộ này cũng từ tinh thần mà ra, tách khỏi tinh thần, trở thành khách quan.

Quan niệm trên đưa đến nhận xét căn bản sau đây: tinh thần không thể tự giác nếu không trở thành khác mình bằng những biểu lộ bên ngoài. Cũng như con người chỉ biết mình là một vật sáng tạo khi đứng trước một tác phẩm, công trình sáng tạo của mình. Tác phẩm là kết quả sinh hoạt sáng tạo của ta, tuy do ta mà ra nhưng đã tách khỏi ta và trở thành khác ta.

Hiện tượng tách khỏi mình, trở thành khác mình Hegel gọi là vong thân. Nhưng vong thân cũng là một điều kiện cần thiết và chỉ có đánh mất mình trong những biểu lộ của mình, tinh thần mới biết được những khả năng, giá trị của mình, mới biết mình. Thực ra việc đánh mất mình ở đây chỉ tạm thời, vì tinh thần sẽ phục hồi tất cả những biểu lộ, sản phẩm của vận chuyển trong lịch sử quá trình diễn tiến ở tận cùng lịch sử, và nhất là không có nghĩa như từ ngữ muốn chỉ thị, vì việc đánh mất mình, chính là một cách phong phú hóa mình. Do đó, vong thân là cần thiết để tinh thần có thể tự giác và chỉ là một giai đoạn trong lịch trình diễn tiến, vì vong thân sẽ chấm dứt khi tinh thần đạt đến giai đoạn chót thu hồi được thực ngã và hoàn toàn tự giác là tinh thần tuyệt đối.

Đến Marx khái niệm vong thân mang một nội dung cụ thể không còn phải tinh thần trừu tượng vong thân như Hegel hiểu, nhưng là con người bằng xương bằng thịt, sống trong những hoàn cảnh lịch sử, chế độ xã hội nhất định bị mất bản thân, giá trị làm người. Tình trạng vong thân cũng không phải là hình thức “khách thể hóa cần thiết để tiến tới chỗ hoàn thiện, trái lại bày tỏ một sa đọa suy đồi thật sự”.

Vong thân xuất hiện dưới nhiều hình thức: tôn giáo, chính trị, pháp lý, triết lý, nhưng tất cả những vong thân, tôn giáo, chính trị, triết lý… đều bắt nguồn từ vong thân căn bản là vong thân kinh tế của con người lao động, sản xuất. Cũng như Hegel, Marx coi con người là một vật lao động và cần lao là yếu tính của con người. Sự làm việc bao hàm dự định và mục đích. Dự định làm việc nhằm thực hiện mục đích, thỏa mãn những nhu cầu sinh sống đồng thời nhằm phát triển con người, nhân hóa con người, phong phú hóa con người. Nói cách khác những sản phẩm con người lao động làm ra thuộc về con người sản xuất và nhằm thực hiện những mục tiêu mà hắn dự định.

Con người lao động vong thân khi những sản phẩm mình làm ra không thuộc về mình, không nhằm thực hiện những mục tiêu, những dự định, trái lại bị người khác tước đoạt nhằm thực hiện những mục tiêu của họ.

Do đó, người làm việc bị tách khỏi những kết quả sự làm việc của mình, bị tách khỏi chính sự làm việc của mình vì nó không còn nhằm thực hiện những dự định của mình và sau cùng bị tách khỏi cả những người khác, trở thành thù địch với mình vì người khác đã chiếm đoạt công lao sự làm việc của mình. Đáng lẽ lao động sản xuất là một sinh hoạt để con người nhận biết mình là người, như vật sáng tạo, một giá trị làm người trước sản phẩm do mình làm ra thì lại một dịp đánh mất bản ngã, giá trị làm người và ném con người vào tình cảnh vong thân trở thành xa lạ, thù địch với người khác, với thiên nhiên, với chính mình.

Nhìn một cách cụ thể, người lao động bị vong thân trong những chế độ nô lệ, phong kiến và nhất là trong chế độ tư bản. Những chế độ này là nguồn gốc sự mất mát, thua thiệt của người làm việc. Thay vì nhằm phát triển những giá trị nhân loại, thăng tiến con người bằng những sinh hoạt kinh tế, những chế độ trên, nhất là tư bản đã lấy tư lợi làm tiêu chuẩn cho mọi sinh hoạt lao động, do đó đã biến con người sản xuất thành một dụng cụ sản xuất như cái máy, cái cày và biến sức lao động thành hàng hóa đổi chác theo luật thị trường.

Marx đã viết những đoạn rất nghiêm khắc để mô tả và kết án sự bóc lột lao động trong những chế độ trên, nguyên nhân tình cảnh vong thân của người làm việc.

Trước hết, người lao động bị tách rời khỏi những kết quả sự làm việc. “Người thợ càng nghèo khi càng sản xuất nhiều và hơn nữa, sản phẩm sự làm việc càng văn minh, người thợ càng trơ trẽn, mọi rợ. Lao động càng mạnh, người thợ càng yếu, lao động càng thông minh người thợ càng không được sử dụng trí khôn và trở thành nô lệ thiên nhiên. Lao động làm ra sự đẹp đẽ nhưng đối với người thợ nó chỉ đem lại sự đui què. Lao động làm ra tinh thần nhưng đối với người thợ nó chỉ đưa đến sự sa đọa thành con vật”. Nói tóm lại. “sản phẩm lao động thế nào thì chắc chắn người thợ không được như thế. Người thợ trở thành một món hàng rẻ nếu nó càng sản xuất được nhiều hàng hóa”.

Sau là sự phân ly giữa con người với chính hoạt động làm ăn của mình. Lao động ở ngoài người thợ, nghĩa là không còn thuộc bản chất người thợ, vậy người thợ không phải là mình khi làm việc, người thợ như tự phủ nhận trong khi làm việc, không phát triển năng lực thể xác hay tinh thần nhưng là kìm hãm thể xác và phá hủy tinh thần trong sự làm việc. Cho nên người thợ cảm thấy thoải mái như ở nhà mình ngoài giờ làm việc, còn trong lúc làm việc, người thợ cảm thấy ngoài mình. Sự làm việc của người thợ không phả là tự ý nhưng là bị bó buộc. Do đó sự làm việc không có nghĩa là làm thỏa mãn những nhu cầu. Tính cách xa lạ của sự làm việc xuất hiện trong sự kiện sau đây: nếu không bị bó buộc người ta trốn tránh làm việc như trốn dịch. Cho nên, hoạt động của người thợ là sự tiêu diệt chính mình.

Sở dĩ người làm việc cảm thấy sự làm việc xa lạ, chống đối lại mình vì sự làm việc không còn ý nghĩa gì đối với người làm việc. Nếu lao động là yếu tính của con người, người là người vì biết lao động sản xuất và lao động sản xuất nhằm thực hiện yếu tính làm người, thì người lao động bị vong thân là người đã phải lấy yếu tính của mình làm phương tiện bảo đảm sinh sống. Khi “Sự làm việc sinh hoạt thân thiết, do sản xuất của con người đã trở thành phương tiện, con người lao động sẽ chỉ cảm thấy tự do trong những sinh hoạt thú vật: ăn uống, sinh đẻ mà thôi, còn trong những sinh hoạt nhân loại nghĩa là trong lao động làm cho con người khác hẳn thú vật, người lao động cảm thấy mình là thú vật, người lao động cảm thấy mình là thú vật. Do đó cái thú vật trở thành nhân loại và cái nhân loại thú vật”. Nếu con người là một vật lao động, lao động cũng tạo cho con người một ý nghĩa sống. Nhưng con người không thể gán cho mình một ý nghĩa sống. Cho nên, khi ý nghĩa sống thực không còn dựa trên sinh hoạt lao động, con người vong thân phải tạo ra những ý nghĩa sống dựa trên những ước mơ ảo tưởng, những thế giới huyền bí không thực để tìm một niềm an ủi, một lối thoát. Đó là những quan niệm triết lý, những tôn giáo, những triết lý và tôn giáo này chỉ là một hình thức vong thân khác bắt nguồn từ vong thân cần lao. Sự lầm than vật chất tạo ra lầm than tôn giáo “Lầm than tôn giáo một đằng vừa là biểu lộ của lầm than thực sự, là linh hồn của thế giới không hồn, cũng như là tinh thần của một thời đại thiếu tinh thần đó là thuốc phiện của dân chúng.

Vậy trong lối nhìn của Marx con người bị vong thân về kinh tế, trong sự làm việc, sẽ bị vong thân về toàn thể cuộc đời, vì tất cả những xuất phát từ hoàn cảnh vong thân kinh tế căn bản trên như tư tưởng, nghệ thuật, tình cảm, tôn giáo… đều không thực, xa rời yếu tính thực sự của con người. Do đó, khái niệm vong thân mang một ý nghĩa luân lý vì đã rõ khi ý thức được tình cảnh vong thân, con người không thể chấp nhận nó và phải tìm cách chấm dứt, xóa bỏ vong thân. Sở dĩ không thể chấp nhận tình cảnh vong thân, vì con người là một vật đáng lẽ phải sống cho mình, như thể bản thân, cuộc đời mình là của mình, thuộc về mình thì lại bị mất bản thân, ý nghĩa cuộc đời, phải sống cho người khác như thể bản thân, cuộc đời mình không còn thuộc về mình.

Khái niệm vong thân cũng còn đượm tính chất bi đát vì sự phân ly đáng lẽ không thể phân ly. Con người bị vong thân không được sống cho mình, trở thành một phương tiện, dụng cụ, thú vật, sống cho người khác, phục vụ người khác, nhưng nếu nó là phương tiện dụng cụ thực sự thì không sao và cũng không có vong thân vì phương tiện dụng cụ thiết yếu có cho con người, không có hiện hữu riêng, đằng này, con người bị giản lược vào vai trò dụng cụ nhưng vẫn là người, không phải dụng cụ, do đó mới có bi đát vì một sự giản lược đáng lẽ không thể giản lược, một sự tách biệt đáng lẽ không thể tách biệt. Đó là cái bi đát của tình cảnh ly dị trong hôn nhân, một sự phân ly đáng lẽ ra thể phân ly. Cho nên đối với Marx vong thân không phải chỉ là một khái niệm triết học dùng để tìm hiểu cuộc đời và chỉ hiểu cuộc đời như một tri thức. Nhưng là một lợi khí tranh đấu cách mạng nhằm gây dựng ý thức cách mạng của người lao động bị vong thân và ý thức cách mạng đưa đến hành động cách mạng nhằm chấm dứt tình cảnh vong thân để thực hiện sự làm hòa giữa người với người, giữa người với thiên nhiên và giữa người với chính mình.

Chấm dứt tình cảnh phân ly là tiêu diệt những chế độ xã hội duy trì sự bóc lột sức lao động và một khi đã xóa bỏ được sự bóc lột lao động, nguồn gốc vong thân kinh tế, cũng sẽ xóa những vong thân tùy thuộc vào vong thân kinh tế như tôn giáo và triết lý chính trị.

Vong thân dựa trên bóc lột

Quan niệm của Marx về vong thân cho thấy sở dĩ con người bị vong thân là vì có sự bóc lột kinh tế. Do đó vong thân dựa trên bóc lột kinh tế, nhưng vượt khỏi bóc lột kinh tế vì bao gồm cả những hậu quả không có tính cách kinh tế (ý thức hệ, tôn giáo, triết lý, chính trị) do bóc lột kinh tế mà ra. Hiện tượng bóc lột kinh tế cũng không phải chỉ tạo ra những tình cảnh vong thân cho những người bị bóc lột mà cho cả những người bóc lột.

Những người bị bóc lột không phải chỉ ở giới lao động thợ thuyền mà bao gồm tất cả những người làm công, làm thuê hoặc bằng lao động chân tay như thợ thuyền, nông dan, đi ở thuê, nô lệ hoặc bằng lao động trí óc như thư ký, nhà văn, nghệ sĩ… cũng có thể dùng khái niệm vong thân dựa trên sự bóc lột kinh tế theo nghĩa của Marx để tìm hiểu hoàn cảnh của người dân thuộc địa và thân phận người gái điếm.

Người làm công

Người làm công có thể rơi vào tình cảnh vong thân khi bị bóc lột sức lao động. Người làm công là người không có dụng cụ sản xuất, không phải là chủ (chủ đất, ruộng, vườn…), phương tiện giao thông như ô tô, xe lửa, xe đò… hoặc không có vốn nển chỉ có thể đi làm thuê, nghĩa là bán sức lao động, đổi chác sự làm việc để sinh sống. Có bóc lột lao động khi quan hệ chủ người làm công không hợp lý, bất công. Người làm công bị bóc lột khi làm mà không được hưởng kết quả sự làm việc của mình, hoặc được hưởng không tương xứng với công lao của mình hoặc trầm trọng hơn nữa, không được làm vì quyền quyết định ở trong tay người chủ, người thuê.

Tình cảnh trên thường trở thành tất yếu, người làm công không không chấp nhận quyết định của người thuê mình mặc dù việc thuê mướn bất công là bóc lột, vì không có cách nào khác để sinh sống, tình cảnh bóc lột cũng có thể kéo dài và trở thành thường xuyên, trường kỳ.

Người làm công bị bóc lột buộc phải chấp nhận sự bóc lột, nhưng vẫn tìm một lối thoát. Lối thoát đó không phải đẻ lôi kéo người bị bóc lột ra khỏi tình cảnh bóc lột mà chỉ làm cho họ chấp nhận tình cảnh đó bằng cách biện hộ cho nó, để người làm công bị bóc lột có thể sống bằng chịu đựng. Ý nghĩa đó không thay đổi cuộc đời bị bóc lột mà chỉ biện hộ cho nó mà thôi, nghĩa là nhằm duy trì nó, củng cố nó. Chẳng hạn một gia đình nông dân nghèo túng ở thôn quê, người chồng đi cày cấy thuê, vì nhà nghèo không có lấy một mảnh ruộng. Làm suốt ngày, quanh năm mà vẫn không đủ ăn. Người vợ cũng phải đi làm mướn, con cái đông, đứa gái lớn ở nhà giúp cha mẹ, còn đứa nhỏ phải cho đi làm công trong một gia đình ngoài tỉnh. Nhà cửa túng bấn, con cái đau ốm luôn, hai ba đứa nhỏ mới sinh bị bệnh chết, những đứa lớn không được đi học vì không có tiền trả học phí và phải làm đỡ những việc lặt vặt… Trong làng, gia đình thuộc thành phần cùng đinh không có chức vụ gì thường bị khinh bỉ, đôi khi còn bị bắt nạt, áp bức, uất ức, tủi nhục, nhưng không làm gì được vì thấp cổ bé họng.

Tuy nhiên, cuộc sống nghèo cực đen tối, lầm than đó rút cuộc gia đình vẫn ráng chịu đựng và tìm an ủi trong những quan niệm sống có thể làm cho gia đình bằng long với số phận mình. Hoặc gia đình tin rằng đó là cái số trời đã định cho mình, nên đành phải chịu vì làm sao có thể chống lại được số trời. Hoặc gia đình theo thuyết luân hồi, cho rằng sở dĩ kiếp này mình khổ vì kiếp trước đã ăn ở không lương thiện nên đành phải chịu quả báo. Hoặc gia đình theo những tôn giáo tin có đời sau hạnh phúc và đời này nếu có khổ cực thì chẳng qua đó chỉ là sự thử thách lập công để xứng đáng được phúc đời sau. Hoặc gia đình nghĩ rằng mình nghèo từ đời cha ông trở về trước, cả họ tổ tiên của mình vẫn nghèo đói, nên bây giờ gia đình nghèo là điều tự nhiên có gì phải than trách. Những lối thoát trên biện hộ cho sức bóc lột và duy trì nó vì gia đình đã tưởng sự lầm thancuar mình bắt nguồn từ những lý do trên. Gia đình rơi vào tình cảnh vong thân. Vong thân dặ trên sự bóc lột kinh tế, nhưng vượt sự bóc lột vì bao quát cả những hậu quả do sự bóc lột gây ra. Gia đình trên đã bị vong thân vì không thấy rằng sở dĩ mình bị nghèo túng không phải tại trời phật, số kiếp gì cả mà chỉ tại một chế độ xã hội bất công, một quan hệ sản xuất không hợp lý và có thể chấm dứt được sự nghèo túng cùng khổ nếu xóa bỏ quan hệ sản xuất không hợp lý và chế độ xã hội bất công.

Vong thân trầm trọng, bi đát hơn sự bóc lột vì người bị bóc lột không biết mình bị bóc lột và bằng lòng chấp nhận sự bóc lột do những niềm tin này nọ. Do đó để giải tỏa sự uất ức, bất mãn, để đề phòng sự phản kháng, nổi loạn cách mạng, của người nô lệ người bị bóc lột, không cần nhà tù, lính canh võ lực vì chính người nô lệ, người bị bóc lột đã tự cầm tù mình, tự giam hãm mình trong tình trạng lầm than đen tối bằng những niềm tin quan niệm vong thân.
Con người bị vong thân hoàn toàn, vì sống trong một hoàn cảnh phi nân, trong những niềm tin huyền diệu mà vẫn tưởng đó là hoàn cảnh tự nhiên, ý nghĩa cuộc đời thực sự của mình.

Không phải chỉ những người lao động chân tay mới bị vong thân mà cả những người lao động trí óc, làm những nghề vẫn gọi là tự do, hơn nữa chính tình cảnh vong thân của những người lao động trí thức này mới trầm trọng vì hình thức vong thân tế nhị tinh vi hơn. Người lao động trí óc như nhà biên khảo, người văn nghệ sĩ, nghệ công, nhà giáo, quan tòa, luật sư… sáng tạo ra sản phẩm tinh thần, một giá trị luận lý nghệ thuật… Do đó có thể in mình đã thực hiện được cái phần cao quý nhất của con người, cái giá trị tốt đẹp nhất của địa vị làm người, đã phục vụ được nhân loại, chân lý, nghệ thuật chân chính… nhưng nếu một người lao động trí óc không có phương tiện tự túc để sáng tác, không đủ điều kiện để sinh sống và phải làm ăn trong một chế độ xã hội coi tham vọng là động cơ và lấy tư liệu làm mục đích, mộ người lao động trí óc cũng chỉ có thể là một người làm công, làm thuê, bán sức lao động của mình cho kẻ khác do đó cũng bị tách kho kết quả sự làm việc trí thức của mình và đánh mất bản thân trong sự làm việc, vì sự làm việc không thực sự phát huy những vẻ đẹp, giá trị cao quý của con người như mình tin tưởng, mà chỉ phục vụ cho những mục tiêu của người khác dựa trên ích kỷ tư lợi, tham vọng… Chẳng hạn một người viết sách vì không có phương tiện, phản bán tác phẩm cho một nhà xuất bản. Nhà xuất bản, nhà in là một nhà buôn và nhà buôn trong một xã hội lấy tư lợi làm cứu cánh sẽ không xét sách có phản ứng chân lý hay không và có đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Cái gì nói trong sách không quan hệ bằng cái đó có bán được hay không, nghĩa là món hàng sách có giá hay không và có giá ở đây không phải là giá trí tự tại của nó, giá trị vô giá của tinh thần mà là giá theo khả năng đáp ứng thị hiếu của xã hội bị vong thân trong vòng cạnh tranh của tư lợi.

Do đó, người viết không được tự do viết cái gì mình muốn, mà chỉ được tự do viết cái gì mà nhà buôn sách yêu cầu, nghĩa là những gì xã hội muốn vì hoặc là không có tiền in sách, hoặc là có tiền in nhưng không có người mua.

Viết theo đòi hỏi “phiếu đặt hàng” của nhà buôn sách, theo thị hiếu của xã hội, người lao động trí óc chẳng qua cũng chỉ là một người làm công, làm thuê của nhà xuất bản và ít khi có quyền quyết định về giá cả tác phẩm, nghĩa là được hưởng xứng đáng kết quả sự làm việc của mình và nhất là sự làm việc không nhằm thực hiện những mục tiêu cao đẹp mà mình mong muốn.

Hoặc nhà xuất bản, nghĩa là xã hội, dựa trên tư lợi có thể đón nhận thứ tác phẩm chẳng những không chiều theo thị hiếu xã hội mà còn tố cáo, phản kháng, chống đối xã hội. Nhưng trong trường hợp này, sự chấp nhận thực ra cũng chỉ biểu lộ một đòi hỏi, nhu cầu đặc biệt của xã hội đó mà thôi. Xã hội, nhất là những thế lực chính trị, kinh tài chi phối xã hội đó không sự gì món hàng văn hóa đối lập mà còn coi nó rất hữu ích vì nó biện hộ cho chế độ bằng cách che dấu nền tảng phi nhân dựa trên những giá trị tinh thần, luân lý cao cả giả tạo. Xã hội không sợ thứ hàng văn hóa phản kháng vì nó chẳng nguy hại gì, trái lại xã hội có thể tự hào vì đã để cho những món hàng đó ra đời, phổ biến truyền thống đề cao những giá trị đạo đức, những lý tưởng cao quý.

Xã hội không những để mặc mà còn ca tụng người trí thức vì thái độ trí thức cao cả của họ mời họ dự những buổi tiếp tân, tiệc trà để chứng tỏ xã hội chấp nhận, quý trọng họ, xã hội xử như thế hẳn là khéo léo hơn cấm đoán hoặc bỏ tù họ và đằng khác cũng hiệu nghiệm hơn vì để tạo cho người trí thức những niềm tin, để họ tự giam hãm họ trong những niềm tin ảo tưởng đó. Người tri thức sẽ thấy mình quan trọng, sẽ tự nhận đóng vai trò cao cả trong xã hội.

Người lao động trí óc bị bóc lột và bị vong thân vì không thấy rằng mình thực sự phục vụ cho một chế độ phi nhân trên phương diện văn hóa, ý thức hệ, đóng vai trò biện hộ cho nó và cũng không biết rằng mình chỉ đã lấy sự bất lực hèn kém của mình làm sự cao cả và niềm hãnh diện.

Cho nên, trong một xã hội vong thân vì những quan hệ giữa người với người về hoạt động kinh tế đã bị chi phối bởi mục đích tư lợi dưới hình thức bóc lột không còn có nghề gì tránh khỏi cảnh vong thân, kể cả những nghề lao động trí óc vì những nghề đó không thể tự lập, biệt lập với đời sống kinh tế, sinh hoạt sản xuất để chỉ phục vụ tinh thần đạo lý, mà phải bám víu vào sinh hoạt sản xuất và chịu sự chi phối của nó.

Trước Marx, Adam Smith nhà kinh tế người Anh đã tỏ vẻ khinh bỉ những nghề mệnh danh là “cao cả” và không ngần ngại châm biếm, chế diễu khi đề cập đến người công chức, quân nhân, nghệ sĩ, linh mục, quan tòa, luật sư mà ông so sánh công việc của họ giống công việc của người ở giúp việc trong nhà, nghĩa là những người làm thuê.

Đến Marx, Marx phô bày những liên hệ giữa những nghề cao cả với những tệ đoan xã hội là nền tảng đồng thời cũng là lý do tồn tại của những nghề cao cả đó. Marx đã gắn liền những nghề trên với những lầm than do một xã hội vong thân đẻ ra. Hơn nữa, chính những lầm than đó nuôi dưỡng những nghề cao cả trên “Người ta có thể nói bệnh tật tạo ra thầy thuốc, sự ngu dân tạo ra giáo sư nhà văn, sự tầm thường tạo ra thi sĩ và họa sĩ, sự vô luân nhà luân lý, sự mê tín nhà tu giảng thuyết và sự bất an vua chúa quan quyền”.

Marx đã lấy một ví dụ điển hình để bày tỏ mối liên hệ giữa một hiện tượng sa đọa xã hội với tất cả những nghề cao cả sống nhờ hiện tượng đó, đó là hiện tượng tội phạm “Nhà triết học tạo ra tư tưởng, nhà thi sĩ tạo ra thơ, ông mục sư tạo ra bài giảng và nhà giáo những lời biên khảo… cũng như phạm nhân tạo ra tội phạm. Phạm nhân không những tạo ra tội phạm mà còn tạo ra hình luật, và do đó, giáo sư dạy hình luật và đến cả bộ sách không thể tránh được mà vị giáo sư đã dùng hình để tung giảng khóa của mình ra thị trường với tư cách là một món hàng.

Cũng như cả một hệ thống tư pháp, cảnh sát dựa trên sự hiện hữu của tội phạm và phạm nhân, cả một ngành sáng tác văn học nghệ thuật tìm nguồn cảm hứng trong những xúc động luân lý và thẩm mỹ mà phạm nhân đã gợi ở nơi quần chúng. Tội phạm trở thành một động lực thúc đẩy tăng gia sản xuất, tạo điều kiện cho xã hội trưởng giả giải quyết được một phần nhân số không có công ăn việc làm bằng cách cho họ các nghề chống lại tội phạm và phạm nhân.
“Bằng những cách xâm phạm luôn luôn đến tư hữu, tội phạm luôn luôn gây tạo những biện pháp bảo vệ mới và những hậu quả của những biện pháp đó cũng có tính cách sản xuất như những vụ đình công tác dụng trên việc sáng chế máy móc”.

Người dân thuộc địa

Đối với Marx, vong thân từ sự bóc lột kinh tế và chỉ cốt yếu ở tại chức năng sản xuất, nhưng tình cảnh người dân thuộc địa mất nước, bị ngoại bang đô hộ, thống trị, không những làm cho họ mất bản thân về phương diện làm ăn, mà còn mất cả về hoàn cảnh sinh sống, đất đứng tự nhiên của mình (mất chủ quyền, ngôn ngữ, phong tục…). Người thợ ở nước mẹ tư bản chỉ bị bóc lột sức lao động do chính đồng bào họ, trái lại người dân ở nước thuộc địa, không những bị bóc lột sức lao động mà còn bị bốc lột chính trị, văn hóa do người ngoại quốc.

Do đó người dân thuộc địa không những cảm thấy xa lạ với sinh hoạt làm ăn, bị phân ly với những kết quả sự làm việc của mình, mà còn cảm thấy xa lạ với đất nước của mình, trở thành khách trong chính nhà ở của mình.

Sự vong thân là triệt để, vì vong thân cần lao bao quát cả vong quốc, vong bản.

Mỗi người sống đều cần một không gian cư ngụ là cái nhà, đất nước, dân tộc, nghãi là một mảnh đất, một cộng đồng cùng chung một văn hóa, lịch sử, tiếng nói. Con người sinh ra, lớn lên, làm ăn và chết đi trong không gian cư ngụ của mình. Người dân thuộc địa mất không gian cư ngụ, nhưng không phải bị đuổi ra khỏi không gian cư ngụ, mà chỉ mất quyền làm chủ trong không gian cư ngụ của mình.

Cho nên tình cảnh của người dân thuộc địa vừa là một tình cảnh làm thuê, làm công vừa là một tình cảnh đi ở nhờ ngay trên đất nước của mình. Hoàn cảnh đi làm thuê đi ở nhờ tạo nên một tâm tình đi làm thuê, đi ở nhờ phản ảnh vong thân vì mục đích làm việc, sự sinh sống không còn nhằm phục vụ người làm việc. Chẳng hạn người công chức trong công sở chỉ làm lấy lệ, một cách bó buộc vì chỉ làm thuê cho người ngoại quốc, không phải làm cho mình cho người mình, nên tội gì lo lắng đến lợi ích của người khác. Người dân thuộc địa không thấy cần bảo vệ, tôn trọng công ích, của chung như không làm bẩn vườn hoa, công viên, không ăn cắp những đồ dùng công cộng, vì vườn hoa công viên không còn phải là của mình, mình chỉ đến ngồi nhờ, đường phố, nhà giây thép là của người ta, kẻ ngoại bang bóc lột thống trị mình, nên cần phải bảo vệ giữ gìn.

Sự sa đọa tinh thần trên đã hẳn bắt nguồn từ tình cảnh làm thuê ở nhờ và xa hơn nữa, từ tình cảnh mất nước, mất chủ quyền trên đất nước mình.

Toàn thể người dân bản xứ thuộc địa rơi vào tình cảnh vong quốc, vong thân nhưng đặc biệt người dân bản xứ thuộc địa có ăn học. Thực dân cần một từng lớp trung gian để thực hiện chính sách bóc lột, thống trị, bằng cách tạo điều kiện ăn học cho một thiểu số người bản xứ. Thiểu số này công tác với thực dân để bóc lột thống trị đồng bào của họ. Đang làm nô lệ, họ trở thành kẻ được giải phóng, nhưng không phải giải phóng khỏi tình trạng nô lệ mà chỉ là người bị đẩy vào tình trạng lệ thuộc sâu hơn, vì khi thực dân chia phần thống trị bóc lột cho họ trả lại vai ông chủ thì không phải đó là cái mình trước đây của họ, vai ông chủ của người không mất nước mà là mặc cho họ một cái mình thực dân, chia sẻ vai ông chủ là người ngoài cho họ. Do đó, sự mất bản thân, nơi người có học được cộng tác với thực dân, trầm trọng hơn nơi người dân hoàn toàn bị áp bức.

Sự vong thân còn trầm trọng hơn nữa đối với số người được ăn học trở thành tri thức, nhà văn hóa, vì họ mất bản thân mất nước và mất gốc hoàn toàn khi họ chấp nhận văn hóa của kẻ thống trị coi ngôn ngữ của thực dân là tiếng nói tự nhiên của mình, đồng thời khinh bỉ văn hóa tiếng nói của mình.

Tính cách vong thân thuộc địa dựa trên vong quốc, vong bản làm tổn thương nhiều đến khía cạnh tình cảm của con người, do đó khi người dân thuộc địa ý thức được tình cảnh vong thân của mình và vùng lên chống thực dân nhằm chấm dứt vong thân của mình và vùng lên chống thực dân nhằm chấm dứt vong thân, sự quật khởi trước hết được biểu lộ bằng tính tự do dân tộc, ý thức quốc gia. Người dân thuộc địa cũng bị áp bức bóc lột như người thợ ở mẫu quốc nhưng dân thuộc địa còn cảm thấy mình bị bóc lột áp bức vì là người da vàng, da đen, vì dân tộc Á Đông, Phi châu cho nên sự vùng dậy trước hết cũng xuất phát từ ý thức về màu da, dân tộc nhằ đòi lại quyền sống của dân tộc độc lập, quyền làm người bình đẳng của một sắc da, nói cách khác giải phóng chính trị đi trước cách mạng xã hội nhằm chấm dứt bóc lột kinh tế.

Thực dân cũ hay thực dân mới cũng vẫn cùng một bản chất xâm lược, bóc lột và thống trị và cách thống trị bóc lột của thực dân mới chỉ tinh vi, tế nhị, khéo léo hơn mà thôi, do đó càng nguy hiểm và dễ lường gạt hơn.

Người gái điếm

Người đàn bà bị vong thân trong hoàn cảnh phái tính của mình khi tất cả con người chỉ còn là một cái xác, một xác thịt đối tượng của cái nhìn, dụng cụ thỏa mãn dục tính của người khác. Người đàn bà vì nhu cầu sinh sống, phải làm việc bằng cách bán thân xác mình cho người khác như một món hàng theo giá thị trường: Cung nhiều cầu ít, giá rẻ, cung ít cầu nhiều, giá cao. Có nhiều cách bán, trước hết bán dưới hình thức phô trương, biểu diễn thân xác trong những trường hợp: hoa hậu, đào kép, minh tinh… Những chủ hãng phim, phòng trà, tiệm nhảy khai thác thân xác đàn bà như một cái vốn để hốt bạc. Họ là bọn con buôn, buôn một thứ hàng đặc biệt là thịt người đàn bà, ngụy trang sau bộ mặt trình diễn nghệ thuật, nhưng thật ra chẳng có nghệ thuật gì cả. Nghệ thuật chân chính dùng thân xác để biểu lộ một tình tự, một ý tưởng, để người xem ngắm nhìn thưởng thức bộ mông, bộ ngực, đùi người đàn bà như một xác thịt…

Cách bán thân đồi trụy hơn cả là hiến thân. Ở đây thân xác không còn phải chỉ là đối tượng để nhìn ngắm mà còn là phương tiện thỏa mãn dục tính của người đàn ông mua dâm.

Dục tính không còn nhằm phát huy con người như một mục đích trong quan hệ hôn nhân, gia đình, mà trở thành thú tính thuần túy giản lược con người vào hàng thú vật.

Người đàn bà đĩ điếm bị vong thân vì đã mất tư cách làm người, vì thân xác, điều kiện ở đời và làm người của mình đã trở thành sở hữu của người khác. Vong thân, vì thân xác không còn là xác tôi, tôi là thân xác tôi, tôi hiện hữu trong thân xác tôi, như là tôi, nhưng chỉ còn là cái xác cho người khác.

Thực ra vong thân về thân xác cũng thường bắt nguồn từ bóc lột kinh tế. Chỉ thay đổi đối tượng, một đằng là thân xác, một đằng là sức lao động.

Người giàu có

Khái niệm vong thân giả thiết khái niệm có cho mình như là giá trị và vong thân là đánh mất, bị mất cái có đó. Cái hiểu như bản thân, bản ngã, hữu thể là dự phóng nguồn gốc những cái có như dụng cụ, đồ dùng, của cải.

Người bị vong thân là người bị bóc lột những cái gì do họ làm ra , đồng thời cũng bị bóc lột cả cái đó là bản thân hữu thể, nguồn gốc những cái có, vì sự làm việc là yếu tính của hữu thể, của con người cũng như quê hương, đất nước, hoàn cảnh sinh sống ngôn ngữ và thân xác là những cái thiết thân, gắn bó với con người, với hữu thể vì một người không thể sống không có quê hương, ngôn ngữ và thân xác.

Nhưng không phải chỉ người bị bóc lột cả về cái có lẫn cái thiết thân, bản thân rơi vào tình cảnh vong thân, mà cả người bị bóc lột. Người bóc lột trở thành giàu có bị vong thân vì những cái họ có do bóc lột người khác (đồng tiền của cải) đồng thời của dự định bóc lột, tham vọng chiếm đoạt gắn liền với bản thân, hữu thể của họ, là nguồn gốc sự bóc lột.

Cho nên, như Marx đã nói, đó là sự mất mát toàn diện về con người, vì kẻ bóc lột và kẻ bị bóc lột cả hai trong chế độ lấy tư lợi làm mục đích, đều xô đẩy vào tình cảnh vong thân.
Người giàu có đánh mất bản ngã của mình khi trở thành lệ thuộc đồng tiền, của cải, dụng cụ, sự vật, vì kiếm tiền muốn có của đã là mục đích cuộc đời của họ trong khi đáng lẽ, việc kiếm tiền chỉ là phương tiện để cho con người thực hiện những cứu cánh nhân loại, phát huy con người.

Đáng lẽ con người dùng tiền, thì lại để đồng tiền dùng con người, làm chủ con người, điều khiển mọi sinh hoạt cuộc đời. Người giàu có, bám víu vào của cải, tìm cách chiếm đoạt bằng bóc lột, rồi lo lắng bảo vệ giữ gìn của cải, trở thành nô lệ của cải. Đó là sự sa đọa vong thân của con người vào vật chất, của cải, đồ dùng.

Trước hết, tham vọng của cải, tư hữu chi phối hoàn toàn hữu thể của người có của vì lúc nào cũng chỉ muốn có và biến mọi sự thành thái có của mình, thuộc về mình như tư hữu. “Tư hữu đã làm chúng ta trở nên thô bỉ, thiển cận đến nỗi một đồ vật gì chỉ là đồ vật nếu chúng ta có nó như là một tư sản hay tức khắc chiếm được nó như ăn nó, uống nó, mặc nó, tóm lại sử dụng được nó” (Marx).

Chiếm đoạt được rồi, người có của có thể chỉ lo lắng bảo vệ, giữ của, không dám dùng nó vì quý trọng của cải, tôn sùng của cải. Càng quý bao nhiêu, càng không dám dùng bấy nhiêu. Do đó của cải trở thành thần linh, ông chủ và người có của, ông chủ, trở thành tín hữu nô lệ.

Hoặc người có của đem dùng nó để mua những cái không thể mua được, nhưng cái vô giá, thuộc về tương giao nhân loại, lĩnh vực giá trị tinh thần, luân lý, thẩm mỹ. Ở đây Marx đã viết những lời tố cáo thật đanh thép sự sa đọa của những tương giao nhân loại, những giá trị tinh thần, luân lý, khi chúng trở thành những món hàng để mua bán, đổi chác.

Sự đổi chác cũng có một lịch sử, nó đã trải qua nhiều giai đoạn. Có thời như thời Trung Cổ, người ta chỉ trao đổi những gì thừa thãi, thặng dư, do sự sản xuất quá mức tiêu thụ.

Rồi đến thời không những cái thừa thãi mà ngay cả mọi sản phẩm sinh hoạt kỹ nghệ đều chuyển vào thương mại và do đó toàn bộ sản xuất lệ thuộc sự buôn bán.

“Sau cùng đến thời mà tất cả những gì con người thường vẫn coi như thể là người đụng chạm đến cũng trở thành đồ hàng để đổi chác, buôn bán và bị xúc phạm. Đó là thời mà những gì từ trước đến nay chỉ để thông cảm chứ không bao giờ để đổi chác, chỉ để cho biếu chứ không để bán, chỉ để nhận lãnh chứ không phải mua như đức tính, tình yêu, khoa học… Tất cả những cái đó nay đều chuyển qua ngành thương mại. Đó là thời sa đọa toàn diện, thời mua chuộc phổ biến hay nói theo danh từ kinh tế học đó là thời mà mọi sự tinh thần hay vật chất, vì đã trở nên đồ hàng đổi chác đều bị mang ra thị trường để định giá hết”.

Trong bản thảo “Kinh tế triết lý”, Marx cũng đã dành nhiều trang để tố cáo nền văn minh tiền bạc.

Theo Marx, tiền bạc đáng lẽ chỉ có một công dụng là trao đổi, buôn bán hàng hóa, nay đã trở thành một giá trị tự tại một mục đích tối hậu một ông chủ đầy uy quyền, một thần linh quyền bính vô song vì nó có thể mua được hết, chinh phục được hết, đồng thời có thể mua được tiên như câu “Có tiền mua tiên cũng được”. Sự sa đọa của con người vào đồng tiền của trầm trọng hơn sự sa đọa vào tôn giáo. Vì ở bình diện tôn giáo, người bị vong thân nhưng là thứ vong thân được biểu hiện bằng hình ảnh, đức tính cao cả của đấng tuyệt đối (Chúa, Phật).
Còn ở đây đồng tiền chỉ là thứ thần dược được chế tạo bằng vật liệu tầm thường như giấy, kim loại…

“Tiền bạc, vì nó có thể mua được mọi thứ, có thể có mọi thứ nên đã trở thành đồ vật theo nghĩa cao nhất. Tính chất phổ biến của việc có của là sức mạnh vô song của nó”.

Marx trích lại một đoạn của Shakespeare trong “Timon của Nhã Điển”, mô tả quyền lực của Thần Tiền:

“Vàng, châu báu lấp lánh. Không, hỡi các vị thần tôi không cầu khẩn các ngài một cách vô ích đâu: Có nhiều vàng bạc, tôi có thể làm đen ra trắng, xấu thành đẹp, ác thành thiện, già trẻ lại, hèn nhát trở lên can đảm, tầm thường thành cao cả. Nó lôi kéo thầy cả ra khỏ bàn thờ, nó lôi kéo bọn người vừa đang ốm, đang ngái ngủ ra khỏi giường. Cái cảnh nô lệ đỏ chót này kiến tạo hay tháo gỡ những giây liên lạc linh thiêng nó ban phúc cho kẻ mất phúc, nó làm cho hủi phong trở lên dễ thương, nó đề cao kẻ cắp và cho nó ngôi thứ, ảnh hưởng trong hội đồng kỳ cựu, nó đưa những nhân tình đến góa bụa già nua, nó đem lại cho người góa bụa bị sa thải một cách chán chường một tuổi trẻ tháng năm đầy hương thơm. Thứ đồ kim loại khốn nạn, con đĩ điếm tầm thường của loài người, mày làm mù quáng các dân tộc”.

Với đồng tiền có thể mua được mọi sự, kể cả những cái vô giá (giá trị tinh thần) và do đó làm nhơ bẩn làm mất giá những cái vô giá đó đi.

“Đồng tiền đối với tôi thế nào, điều gì tôi có thể trả được nghĩa là có thể dùng tiền ma được thì đó là của chính tôi, người có tiền”.

“Quyền lực của tôi cũng lớn lao như sức mạnh của đồng tiền”

“Những đặc quyền của tiền bạc cũng là những đặc quyền, những thế lực thực sự của tôi và người có của. Tôi là gì và tôi có thể được gì, không phải do cá tính của tôi định đoạt, nếu tôi xấu, tôi vẫn có thể mua được người đàn bà đẹp nhất, vậy tôi không xấu và hậu quả của sự xấu xí, cái sức lực làm cho người ta xua đuổi nó đã bị đồng tiền mua. Nếu tôi bất loại, nhưng có tiền tôi vẫn sắm được tay chân. Vậy tôi không phải là người bất toại. Tôi là một người xấu, bất lương, vô liêm sỉ, bẩn thỉu nhưng vì đồng tiền được kính trọng vì đồng tiền là thứ quý giá hơn cả nên người có tiền cũng tốt. Đồng tiền làm cho tôi không còn mang tiếng là bất lương và do đó tôi có thể được coi như người lương thiện, tôi không có tài năng, tinh thần gì hết những đồng tiền là tinh thần đích thật của mọi sự, vậy làm sao người có tiền có thể thiếu tài năng, tinh thần được. Đằng khác, đồng tiền còn có thể mua chuộc được cả những người có tinh thần và người có quyền trên những kẻ có tinh thần lại không phải là người “tinh thần” cao hơn là người có tinh thần hay sao?

“Nhờ đồng tiền tôi có thể có tất cả những gì lòng tôi áo ước, vậy tôi không thể có tất cả những quyền lực nhân loại đó hay sao? Đồng tiền há chẳng biến đổi tất cả những gì không thể thành có thể hay sao?”

“Đồng tiền, không những mua được tất cả mà còn biến cái không thể thành cái có thể, dung hòa những đối lập hay đối lập những dung hòa, vậy đồng tiền là chúa tể mọi sự…”

Những người nghèo khổ đã hẳn là có những mơ ước nhưng chỉ vì thiếu tiền mà họ không thực hiện được những mơ ước, thành ra đó chỉ là những biểu tượng không thực. Chỉ có những người có tiền mới có những mơ ước coi như là thực tế.

Đồng tiền quy định cái có thể, những năng khiếu, khuynh hướng. Nếu tôi thích học nhưng không có tiền, tất nhiên tôi trở nên không có khuynh hướng thích học và ngược lại nếu tôi có tiền dù tôi không có khuynh hướng hiesu học hay không, tôi vẫn có thể học (một cách dễ dàng).

Marx đã viết trong viễn tượng đó: “Khi tôi có khiếu học nhưng không có đủ điều kiện cần thiết, tôi trở thành không có khiếu học nghĩa là không có khiếu học hiệu nghiệm và đích thực. Nhưng nếu tôi thực sự không có khiếu học, nhưng tôi có tiền và muốn học, vậy tôi có khiếu học hiệu nghiệm”.

Đồng tiền thay đổi sự xấu thành tốt, làm đảo lộn mọi giá trị, ngoài ra đồng tiền còn thay đổi “sự trung tín thành bất trung tình yêu ra thù hận, oán ghét ra yêu đương, nhân đức ra xấu nết, xấu nết ra nhân đức, tớ thành chủ, chủ thành tớ, dốt nên khôn, khôn nên dốt.

“Người có của muốn sự can đảm trở thành can đảm mặc dầu hắn hèn nhát. Bởi vì đồng tiền không chỉ đổi chác lấy một số lượng nhất định, những sức lực nhân loại mà còn cả thế giới khách quan nhân loại và thiên nhiên, vậy nó có thể đổi - nếu xét theo quan điểm người có tiền - một đặc tính có trái ngược nhau và đối với mọi sự khác. Đó là sự dung hòa những cái không thể, nó cưỡng ép những cái đối lập ôm hôn nhau. Hãy đặt người với tư cách là con người và giao thiệp với cuộc đời bằng một tương quan nhân loại, người đó chỉ có thể lấy tình yêu trao đổi tình yêu, lấy tín nhiệm trao đổi tín nhiệm…

“Nếu bạn muốn thưởng ngoạn nghệ thuật, bạn cần phải là một người đã có trau dồi nghệ thuật, nếu bạn muốn là người ảnh hưởng trên người khác, bạn phải là người thật sự kích thích và lôi kéo được người khác. Mỗi một liên lạc giữa bạn và người khác, với thiên nhiên, phải là một biểu lộ nhất định và tương xứng với đối tượng của ý chí bạn, của đời sống tư riêng đích thực của bạn. Nếu bạn yêu mà không làm cho người yêu của bạn yêu lại, nghĩa là nếu tình yêu với tư cách tình yêu không tạo ra tình yêu đáp lại, nếu khi biểu lộ đời sống của bạn với tư cách một người biết yêu bạn không làm cho bạn trở thành một người được yêu lại, thì tình yêu của bạn là bất lực và đó là một tai họa.

Nền văn minh trong chế độ tư bản lấy đồng tiền làm tiêu chuẩn cho bậc thang giá trị, có tiền thì được trọng nể có chức tước, địa vị và cả đến tình yêu, không tiền thì bị khinh bỉ bị mất cả tình yêu, địa vị… Đó là một nền văn minh trói buộc con người vào sự kiếm tiền. Đồng tiền làm sa đọa con người, vì tiền phải lạy lục, cầu khẩn một cách hèn hạ, vì tiền mà con người mất hết nhân phẩm.

Trong bộ “Tư bản” Marx còn nhận định rằng tôn giáo cũng không vượt khỏi ảnh hưởng của tiền bạc. Sức mạnh của đồng tiền là hình thức tuyệt đối và luôn luôn sẵn sàng cung cấp của cải. Marx viết:

“Vàng là một điều lạ lùng. Ai có nó sẽ làm chủ được mọi điều ước muốn. Với vàng bạc, người ta có thể mở cửa thiên đàng ch các linh hồn vòa (Colomb. Thư từ đảo Jamaique 1503) “Không có gì là không mua chuộc hay bôn bán được, không có gì chống lại sự luyện kim thuật đó kể cả xương thánh hay những đồ rất thánh. Cũng như mọi sự khác biệt giữa các thứ hàng hóa đều bị xóa nhòa trong đồng tiền, đồng tiền là yếu tố san bằng mọi sự, xóa bỏ mọi sự dị biệt.

Nói tóm lại: đồng tiền là sức mạnh tha hóa con người. Ý định của Marx là nhằm tiêu diệt lòng tham, tức là tiêu diệt tư hữu. Theo Marx con người có lòng tham vô đáy, lúc nào cũng muốn có, muốn biến thành của riêng những sự vật ở bên ngoài con người, muốn có, muốn biến thành của riêng những sự vật ở bên ngoài con người, muốn làm của tư tất cả những gì có thể được. Quyền tư hữu chính là phương thức để có của tư hữu và đó là nguyên nhân vong thân của người giàu có. Cho nên, theo Marx, nếu chỉ xóa bỏ phương thức mà thôi, chẳng giải quyết được gì hết, điều quan trọng là xóa bỏ tinh thần tư sản, óc tư hữu, tức là xóa bỏ lòng tham. Marx đã chống đối những người cộng sản tuy tranh đấu cho một xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn còn coi đồng tiền là động cơ của xã hội, những người này vẫn còn lòng tham, tính ghen tị, ước muốn thỏa mãn cá nhân riêng tư, Marx gọi những người đó “Cộng sản thô bỉ”.
Marx viết: Thứ cộng sản đó bằng cách phủ nhận ở khắp nơi nhân cách con người - chỉ là biểu hiện hợp lý của tư hữu tự nó đã là một phủ định. Lòng ghen tị trở thành một sức mạnh xã hội chỉ là hình thức che đậy lòng tham để được thỏa mãn một cách khác mà thôi. Cộng sản thô bỉ chỉ là sự hoàn tất lòng tham, muốn có của để hưởng thụ một mình và giữ lấy cho riêng mình như một thứ tư hữu. Cộng sản thô bỉ chỉ là sự hoàn tất lòng ganh tị muốn san bằng tất cả.

“Việc xóa bỏ tư hữu, nghĩa là sự phục hồi cụ thể con người đời sống nhân loại, con người khách quan, những công trình nhân loại cho con người và do con người không được hiểu theo một nghĩa hưởng thụ trực tiếp, độc quyền, theo nghĩa chiếm hữu, theo nghĩa có”.

Vong thân không dựa trên bóc lột

Ngày nay, từ ngữ vong thân đã vượt khỏi nghĩa nhất định của Hegel hay của Marx và mặc một nghĩa thật bao quát vì nó được dùng như một khái niệm trong ngôn ngữ triết lý, chính trị xã hội để chỉ mọi hình thức vong thân của con người hiện đại. Những vong thân này không còn dựa trên sự bóc lột kinh tế mà chỉ bày tỏ tình cảnh con người bị phân ly, tách biệt và cảm thấy xa lạ hoặc với hoàn cảnh sinh sống tự nhiên của mình hoặc với thế giới sự vật, đồ dùng chung quanh mình hoặc sau cùng với những người khác ở chung quanh mình hay bên cạnh mình.

Con người đánh mất hay bị mất bản ngã trong thế giới của mình, trong những tương quan với sự vật và người khác.

  • Đối với thế giới thiên nhiên, con người có thể cảm thấy thiên nhiên như thế giới đối nghịch xa lạ (không gian trong truyện của Camus) hoặc cảm thấy thiên nhiên như một đòi hỏi trong khi phải sống trong một thế giới giả tạo (người ở thành phố).
  • Đối với thế giới đồ vật (đồ vật chống lại con người trong vũ trụ tiểu thuyết của Kafka).
  • Đối với người khác: người khác trở thành thù địch với ta (thân phận người di cư tị nạn chính trị) hoặc sự sống chung là một giới hạn phủ nhận, tự do (nạn kẹt xe0 biến ta thành một vật trừu tượng (hiện tượng bàn giấy chủ nghĩa hoặc mối tương quan với người khác hiểu như một lệ thuộc (ngôn ngữ, gia đình, tình yêu…).

Chẳng hạn những người di cư, tị nạn vì lý do chính trị họ phải từ bỏ làng mạc, quê hương một cách đột ngột đến trú ngụ ở một nơi khác hoặc ở trong nước hay ở một nước khác. Việc ra đi đột ngột, đoi khi có tính cách tập thể chẳng khác nào một cây bị gió bão nhổ rễ hoặc bị đánh trồng ở nơi khác. Họ bị mất khung cảnh sống tự nhiên hoặc trường hợp đến cư ngụ ở nước khác, bị mất cả quê hương, tiếng nói, lịch sử, họ cảm thấy xa lạ trong khung cảnh sống mới và bị chia sẻ dằng co giữa hai đòi hỏi trái ngược: thích nghi, đồng hóa và duy trì cá tính.
Nếu họ thích nghi, hòa đồng hoàn toàn với địa phương họ cư ngụ, trở thành như địa phương, không phải là di cư, tình cảnh xa lạ sẽ giảm bớt và vong thân cũng giảm hay chấm dứt, nhưng điều đó lại có nghĩa như một bản bội lý do thúc đẩy họ ra đi. Họ vẫn là người di cư mới có thể làm chứng cho một tình trạng phân ly, chia rẽ người với người, hoặc mới có thể tượng trưng cho một phản kháng chống lại một áp bức, đè nén, bạo động chiếm đoạt.

Nhưng nếu họ cứ sống như người di cư, khác biệt với người địa phương mặc dầu ở giữa những người địa phương, nghĩa là từ chối thích nghi, họ sẽ càng cảm thấy xa lạ và hơn nữa tỵ hiềm đối địch với hoàn cảnh mới.

Thật ra, không bao giờ thích nghi, hòa đồng được hoàn toàn với cộng đồng mới, dù là đồng bào của mình vì người di cư vẫn không thể tránh khỏi bị người địa phương nhìn như người di cư. Khi mọi sự êm đẹp thì không sao, nhưng khi có dị nghị tranh chấp và nhất là khi bị khinh miệt, chà đạp, chèn ép, họ sẽ nhớ lại mình là di cư, sẽ cảm thấy sâu xa mình chỉ là người di cư, người đi ở nhờ đất người ta, nước người ta.

Những người Do Thái, Nga trắng tị nạn chính trị sau 1917, những người Mỹ da đen, gốc Phi Châu, dù đã ở lâu năm nước mình nhìn nhận là quê hương, quốc gia, dù trên pháp lý, họ là công dân, bình đẳng như mọi người khác nhưng họ vẫn cảm thấy không phải là người Mỹ, người Pháp hoàn toàn, nhất là khi bị chà đạp, khinh bỉ và họ phải biết thân phận mà chịu đựng nhường nhịn.

Người di cư còn luôn sống trong tình trạng tạm thời vì một biến cố mới, một thay đổi chính sách có thể buộc họ phải dời đi chỗ khác hoặc một tai nạn rủi ro như lụt lội, cháy nhà trong chốc lát tiêu hủy tất cả những gì họ mới xây dựng nên đưa họ trở lại tình trạng hai bàn tay trắng lúc ra đi, hoặc đoi khi họ được định cư, thực sự là được ở hẳn nhưng họ vẫn có cảm tưởng tạm thời vì vẫn chờ đợi ngày trở về quê hương cũ mà họ không bao giờ quên hẳn được, rồi rút cục cũng phải chôn xác nơi đất khách quê người.

Con người hiện đại còn có cảm tưởng xa lạ với thế giới đồ vật và với người khác chung quanh mình.

Trong tiểu thuyết của Kafka, đồ vật dụng cụ xuất hiện trước con mắt con người không phải như sẵn sàng chờ đợi thực hiện những dự định ước muốn của con người, nhưng chống lại con người như một không gian đối nghịch, mặc dù chúng được con người sáng chế ra. “Tôi bị tách biệt với mọi sự bằng một không gian với những giới hạn mà tôi không bao giờ đạt tới được” (Kafka). Chẳng hạn trong chuyện “Vụ án” của Kafka, nhân vật K đi khắp các phố, giữa những dãy nhà, lên cầu thang qua những hành lang, đi theo những bảng chỉ tên đường phố, nhà, nhưng hình như chúng không dẫn đến đâu như thể các phố không phải để cho K đi qua hay cầu thang để cho K bước lên. Mọi đồ vật, phương tiện như chống lại những dự định của chàng.

Trong tiểu thuyết của Camus thiên nhiên là không gian đối nghịch. Camus thường lấy sa mạc hoang vu, đồi núi khô khan, nắng cháy vùng Bắc phi làm khung cảnh cho nhiều tiểu thuyết của ông và người cảm thấy xa lạ, lưu đầy trong không gian đối nghịch đó.

Người ta cũng nói đến tình cảnh vong thân của người ở thành phố hiện đại, nhất là những đô thị lớn dân số hàng triệu người, đã trở thành một nhà tù lớn vì đời sống phải tuân theo những quy luật gắt gao về mọi phương diện kiến trúc, giao thông, sinh hoạt làm ăn. Do đó, con người thành thị mất khung cảnh tự nhiên, sống gò bó, quy ước, giả tạo, nhiều bệnh tật, hiện tượng xã hội, tâm lý không tahasy ở nông thôn bắt nguồn từ tình cảnh trên.

Quang cảnh chiều thứ bảy, chủ nhật, ngày nghỉ lễ, người thành phố đổ xô về thôn quê, rừng núi bờ biển bày tỏ nhu cầu thoát ly khỏi đời sống ngạt của thành thị để tìm lại sự thoải mái, thanh bình trong không khí của thiên nhiên, của thôn quê rừng núi.

Hoặc con người cảm thấy phân ly, xa lạ với đồng loại không thể không sống với người khác trong xã hội, nhưng người khác xã hội không chiều theo ý muốn của ta, không phục vụ những mục tiêu ta đề ra mà còn ngăn cản chống lại ta. Ta cảm thấy xa lạ ở giữa mọi người, không phải chỉ với người ngoài, không quen biết mà đôi khi cả người quen biết và thân thuộc nữa.

Trước hết, người khác xuất hiện như một phủ nhận dự định của ta, tiêu diệt tự do của ta. Chẳng hạn tôi muốn được tự do muốn đi đâu thì đi, muốn dừng lại ở chỗ nào thì dừng, nên tôi mua ô tô nhà. Khi có ô tô nhà, tôi tưởng rằng tôi sẽ khỏi phải mất thì giờ chờ đợi, khỏi phải những bó buộc, thiếu tiện nghi nếu dùng phương tiện chuyên chở công cộng xã hội vì xã hội xuất hiện như một cản trở tự do của tôi.

Nhưng đã hẳn những người khác cũng nghĩ như tôi và cũng mua xe nhà như tôi. Do đó xảy ra hiện tượng: xe nhà càng nhiều, đường càng kẹt, mất thì giờ và bực bội bất tiện như hay hơn phương tiện chuyên chở công cộng. Trước tình thế đó, tôi nghĩ vấn đề không còn phải là đến nơi định đến bằng con đường ngắn và được tự do thoải mái nhất, nhưng là tìm những đường ít xe hơn cả để tránh nạn kẹt xe, do đó chọn những con đường quanh dài mà đi không phải để mau đến nơi cho bằng phủ nhận được sự ngáng trở của tập thể biểu lộ qua sự giao thông.
Nhưng nhiều người khác cũng nghĩ lại như tôi, cũng tìm những con đường vắng để tránh nạn kẹt xe, kết quả là những sáng kiến mưu mẹo của tôi tạo ra để tự giải thoát, người khác cũng tìm ra được và những con đường vắng, những khúc quặt tiện lợi sau cùng cũng trở thành đông xe bất tiện.

Rút cuộc tôi phải nhìn nhận, cần một tổ chức chặt chẽ, hợp lý cho các xe nhà như tổ chức của các phương tiện chuyên chở công cộng. Và trong sự đầu hàng tập thể đó, chiếc xe nhà của tôi sẽ chỉ còn là một toa giữa những toa khác của đoàn xe đã trở thành con tàu trên xa lộ…

Hoặc người khác không nhìn nhận tôi như một cá nhân một con người với những nỗi niềm riêng tư, những giá trị đặc biệt. Tôi trở thành vô danh, vô ngã, một ai đó, một con số, một trường hợp chung… trong đám đông, tập thể, trong những tổ chức xã hội như tổ chức bàn giấy.

Khi tôi đến một công sở, tự giới thiệu với một nhân viên ngồi bàn giấy là để trình bày một việc riêng, một câu chuyện riêng, một yêu cầu riêng và muốn được đối xử như một người có những khó khăn, băn khoăn, ước muốn riêng tư, muốn được chú ý đặc biệt như thể chỉ có mình tôi, quyền lợi của tôi là lý do có mặt của nhân viên bàn giấy… Những người bàn giấy có thể không để ý đến tôi là ai, đối xử với tôi cũng như trăm nghìn người khác và coi trường hợp của tôi chẳng khác gì những trường hợp khác: không cần thiết cấp bách và phải theo luật lệ chung làm giấy tờ và chờ đợi như mọi người… hoặt tôi không được người khác hiểu như chính tôi hiểu về những việc tôi làm, những lời nói những địa vị, chức vụ tôi đảm nhận. Tôi bị người ta hiểu nhầm, ngộ nhận, mặc dù sự thật của tôi, về tôi rõ ràng, hiển nhiên đối với tôi.
Người ngoài không nhìn tôi theo chủ quan của tôi, nhưng căn cứ vào hoàn cảnh khách quan của tôi. Nếu tôi quen biết những ông lớn, thì dù thấy tôi không đi lại và biết rõ tôi không đi lại, người ta vẫn nghi như thường và còn nghi hơn nữa vì cho rằng tôi chỉ khôn khéo, kín đáo, sợ lỗ liễu nên không dám công khai đi lại mà thôi, nghĩa là tôi biết cầu cạnh, lợi dụng một cách khôn ngoan và do đó có thể ghét tôi hơn người công khai đi lại… ngộ nhận gắn liền với hoàn cảnh khách quan và tôi không tránh được ở trong những hoàn cảnh khách quan và tôi không tránh được ở trong những hoàn cảnh khách quan.

Trong trường hợp đó, người ta nói: Cái nhìn của người khác là tha hóa, đẩy tôi vào tình cảnh vong thân vì làm cho tôi trở thành xa lạ, thù địch với người khác.

Vong thân trong ngôn ngữ hiện đại đã được dùng để chỉ thị tất cả những hiện tượng phân ly, tách biệt, xa lạ đối nghịch dù bắt nguồn từ bóc lột kinh tế hay không. Vong thân của con người trong những hoàn cảnh sinh sống của mình (vô sản, thuộc địa, nô lệ, di cư người thành phố) trong những trường hợp tâm bệnh lý, những bệnh trí và mất bản ngã và lấy người khác làm bản ngã mình hoặc vong thân của những cái con người làm ra (tư tưởng, triết lý, văn chương nghệ thuật, kỹ thuật, đồ dùng, tổ chức xã hội).

Tiến thêm một bước nữa, người ta có thể coi là vong thân tất cả những quan hệ của con người với Thượng đế, với thiên nhiên, với xã hội, vì có quan hệ tức là không có tự trị, tự lập và lệ thuộc vào cái gì không phải là mình.

Nhưng nếu tương quan là vong thân thì phải chăng vong thân gắn liền với yếu tính con người, với bản chất làm người vì conn người thiết yếu ở đời với người khác. Ta không tự sinh ra nhwng do cha mẹ nghĩa là tùy thuộc người khác, vong thân sinh quán. Ta nói một tiếng do xã hội mà có, nghãi là của người khác: Vong thân ngôn ngữ? Ta muốn yêu và được yêu. Nhưng yêu là gì, nếu không phải là một tự thú ta không thể sống một mình, ta cần người khác, hòa đồng làm một với người khác mà ta yêu. Vong thân tình yêu?

Do đó, không thể hiểu vong thân như là bắt nguồn từ chính những quan hệ thiết yếu của phận làm người, vì đó là điều kiện tự nhiên của đời sống con người, nhưng chỉ nên coi vong thân như những trường hợp sa đọa luôn luôn có thể xảy ra, gắn liền với dự định của con người. Dự định có thể đưa tới sự phát huy con người, nhưng cũng có thể đẩy con người vòa sự suy đồi vong thân.

Vấn đề là làm sao thực hiện được sự phát huy con người hay ngăn chặn chấm dứt tình cảnh vong thân. Nhưng chỉ có hy vọng chấm dứt vong thân nếu quan niệm những vong thân là những tai nạn có thể xảy ra trên đường đời.

Vì nếu quan niệm vong thân bắt nguồn từ chính những điều kiện làm người thì chỉ còn một lối thoát là niềm tin tôn giáo, ở một cứu rỗi đời sau, hoạc chấp nhận thái độ bi quan tuyệt vọng hoàn toàn.

Như thế vong thân không còn là một khái niệm cách mạng có khả năng gây thức tỉnh và đưa tới hành động chấm dứt những tình cảnh vong thân, nhưng đã trở thành một khái niệm vong thân, đáng lẽ bao hàm một ý định tố cáo và một ước muốn chấm dứt vong thân, thì chính sách sinh hoạt nhận thức lại chỉ biểu lộ một hình thức vong thân khác, vong thân về tư tưởng.

Vong thân
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,