 | Thông tin liên quan: Văn hóa phật giáo nền tảng của văn hóa Việt Nam 01/01/1900 12:00' AM Giáo sư Thái Kim Lan hiện đang dạy tại Đại học Ludwig- maximilian, Munich, Đức về Triết học và Phật học và là Chủ tịch Trung tâm giao lưu văn hóa Đức - Châu Á. Chúng tôi có buổi trò chuyện với Bà về những vấn đề của văn hóa Phật giáo Việt Nam. Khoanh tay kính cẩn cúi đầu16/03/2010 09:05' AM Cũng còn những chỗ thiêng liêng con người cần cúi đầu. Cũng cong những người mà ta phải vòng tay kính cẩn. Cũng còn những giá trị mà ta phải nâng niu tôn trọng. Cũng còn những chốn mà bước chân đến ta phải giữ được vẻ thanh sạch tôn nghiêm. Vì sao Phạm Quỳnh đặt tên báo là Nam Phong và thường dùng bút hiệu Thượng Chi?20/01/2010 03:12' PM Ngay trong số 1 ra tháng 7 năm 1917 của Nam Phong Văn học-Khoa học tạp chí, Phạm Quỳnh đã viết Mấy nhời nói đầu giới thiệu nội dung tạp chí mới xuất bản. Cuối phần I, ông cảm xúc thốt lên lời cảm thán: “Ôi! trong sách có câu: Gió phương nam ấm áp, khá lấy giải được cái lòng hờn giận của dân ta! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Ước gì bản báo cũng khiến được các bạn đọc báo có cái cảm giác như cái cảm giác gió Nam Phong! Bởi thế, đặt tên báo.” Muốn sống...15/12/2009 04:07' PM Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn Chuyện một đêm một ngày15/12/2009 03:00' PM Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đương ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên khi ở phía dưới. Phần 2: Phật lí uyên nguyên06/11/2009 03:21' PM Nghiệp báo, luân hồi, yếm thế, khổ hạnh - đó là mấy cái mầm lớn của đạo Phật manh nha ra từ đó; sau này rồi mỗi ngày một lớn lên, nhưng gốc cũng ở trong đạo Phệ-đà cả. Phần I: Phật tổ sự tích04/11/2009 06:34' AM Một nhà làm sách Nhật Bản có nói rằng: “Hai cái nguồn lớn của văn hóa Đông Á ta là Khổng giáo và Phật giáo. Ngày nay dẫu ta theo đòi văn minh học thuật Thái Tây, ta cũng chớ nên quên nguồn gốc cũ”. Ý nghĩa hoa sen trong Phật giáo26/10/2009 02:51' PM Hoa sen đẹp hương thơm tinh khiết, nên được mọi người ưa chuộng. Ấn Độ giáo có truyền thuyết cho rằng lúc khởi đầu vũ trụ một hoa sen mọc lên từ rốn của thần Vishnu, giữa hoa có Phạm thiên ngói kiết già. Hoa sen lại là một trong tám biểu tượng của Phật giáo, khó có thể kể hết kinh sách Phật giáo nói về hoa sen, sau đây chỉ là khái lược... Hệ thống thế giới quan Phật giáo - Các sơ đồ giáo lý26/08/2009 02:51' PM Trước khi chuyển sang nghiên cứu những phần quan trọng nhất trong hệ thống thế giới quan Phật giáo, chúng ta cần phải xác định điểm xuất phát mà từ đó các Phật tử lập luận về những vấn đề xuất hiện trong khi suy tư triết học và chỉ ra cơ cấu chung của các hệ thống của họ. Sau đó, chúng ta mới đả động đến vấn đề đặt Phật giáo vào trào lưu triết học nào: Phật giáo là chủ nghĩa thực tại hay chủ nghĩa duy tâm, là duy vật hay duy linh hay là một trào lưu nào khác. Những vấn đề triết học Phật giáo - Siêu hình học18/08/2009 02:06' PM Việc nghiên cứu triết học Phật giáo trên cơ sở những văn bản hệ thống được giữ lại trong các bản dịch Trung quốc đã chiếu luồng sáng mới vào những vấn đề thế giới quan Phật giáo được biết ở Âu châu, đồng thời đặt ra một loạt những vấn đề mới mà cho đến nay vẫn còn chưa được đưa ra trong các công trình về Phật giáo. Nhiều cái đã không có thể biết vì hoặc thiếu những tài liệu, hoặc tài liệu hiện có không được sử dụng. Quan niệm về nhận thức trong triết học phật giáo Việt Nam13/08/2009 10:27' AM Quá trình hình thành quan niệm lý luận về nhận thức luận trong các học thuyết triết học thường diễn ra thông qua mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Trong triết học Phật giáo, giữa bản thể và nhận thức có quan hệ không tách rời. Biểu hiện của quan hệ ấy ở chỗ tính “không” của bản thể, cũng như tính vô thường, nhân quả của thế giới hiện tượng chỉ được nhận thức thông qua mối quan hệ với “tâm”. Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân Tông19/03/2009 02:24' PM Theo tác giả, Trần Nhân Tông là người đã tập đại thành tư tưởng thiền học của một số thiền sư Việt Nam trước đó, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm và qua đó, đánh dấu một bước hoàn tất quá trình Việt Nam hoá Phật giáo. Để làm sáng tỏ vấn đề này, trước hết, tác giả phân tích tiền đề thiền học của Trần Nhân Tông cùng những thiền sư đã có ảnh hưởng lớn đến Trần Nhân Tông. Tiếp đó, tác giả phân tích ba vấn đề đặc sắc trong tư tưởng của Trần Nhân Tông: quan niệm tâm chính là Phật, học thuyết vô niệm và tinh thần nhập thế tích cực. Chân lý Phật giáo và văn hóa xã hội nhân văn06/02/2009 05:02' PM Phật giáo được khai sinh từ chiếc nôi là thành Ca Tỳ La Vệ (thuộc nước Ấn Độ bây giờ), trải qua hơn 2.500 năm lịch sử đầy những thăng trầm, có lúc tưởng như đã biến mất hẳn ngay trên bản địa. Nhưng Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển rộng rãi khắp nơi. Cô Kiều với tôi14/01/2009 03:56' PM Nhưng, không ngờ, đó là những giây phút cuối cùng ông sống và viết tại biệt thự Hoa Đường xinh đẹp, bên con sông An Cựu nhỏ hiền hòa, nắng đục, mưa trong. Ông không thể ngờ là bài viết yêu thích nhất lại là bài viết cuối đời của mình, sẽ mãi mãi dở dang ở ngay nơi mới bắt đầu khơi mạch văn… Không và sắc26/12/2008 05:33' PM Mới nghe cái tên Không và Sắc, thoạt đầu chúng ta có cảm giác đây là một tiểu thuyết huyền ảo, đầy hư - thực và sẽ khó đọc. Tuy nhiên, sự thật không phải như thế, bởi Không và Sắc là một tiểu thuyết có nét duyên rất riêng và khá hấp dẫn. |
Ấy đạo Phật qua đời nọ sang đời kia, từng nhiều phen phải đốn tỏa, nhưng rồi lại khởi phục được ngay. Đạo Phật ở Trung Quốc thật là có cái nghị lực phi thường vậy. Tuy bọn học thức phần nhiều theo Nho, mà trong dân gian bao giờ cũng mộ Phật. Bởi lẽ đó nên mãi đến cận đại, phàm vua triều nào ra khai quốc cũng in lại bộ Tam tàng, lấy làm việc cẩn trọng, hoặc là thành tâm, hoặc là chiều đời, chủ ý là để thu phục nhân tâm. Vua đầu nhà Tống in kinh năm 972; vua đầu nhà Nguyên năm 1285-1287; vua đầu nhà Minh năm 1368. Nhà Thanh đối với Phật giáo có ý lãnh đạm, là vì đã nhờ bọn Nho mà gây dựng được cơ đồ, nên phải chiều nhà Nho hơn các đời khác. Song các vua Thanh không thể tuyệt nhiên không giúp cho đạo Phật là đạo gốc trong dân gian lại vừa là đạo gốc của nhà Minh nữa. Nên năm 1725, 1737 cũng in lại bộ Tam tàng (1).
Phật giáo ở Việt Nam. - Muốn khảo lịch sử Phật giáo ở nước ta thật khó lắm, vì sách vở không có. Bên Tàu sách gì cũng lưu truyền được mãi mãi, bên ta không sách gì truyền được trọn vẹn tới hơn trăm năm. Cứ xem như trong bộ Lịch triều hiến chương của cụ Phan Huy Chú, có mục “Văn tịch chí” nói về những sách người Việt Nam ta làm mà hồi bấy giờ cụ còn được biết: bộ Lịch triều hiến chương biên tập tự đầu bản triều, cách nay chừng trăm năm, mà bao nhiêu những sách kể trong mục ấy ngày nay hầu hết không còn gì nữa, không ai nhớ đến tên nữa: ấy thư tịch ở nước mình tiêu diệt mau như vậy, ghê thay! Bởi thế nên sự khảo cứu rất là khó khăn. Vẫn biết rằng đã có quốc sử, nhưng sử chép khuyết lược lắm, và cũng nhiều việc không biết bằng cứ ở đâu. Như khảo về Phật giáo mà tra trong sử ta thời không được mấy tí, chỉ biết rằng nước ta về đời Lí - Trần vua quan cho chí dân gian mộ đạo Phật lắm, nhưng đạo Phật thâu nhập nước ta từ bao giờ, duyên cách những thế nào, thời sử không nói.
Có lẽ sau này có nhiều nhà hiếu học dụng công sưu tầm lấy những đoạn giản tân biên của đời trước, thứ nhất là những thệ phả, bi kí của các chùa, thời họa may bấy giờ mới có thể chép được lịch sử Phật giáo ở nước ta cho tường tận vậy. Chứ ngày nay thời tài liệu còn ít lắm, chưa thể nào chép được. Hiện kí giả chỉ mới biết có sách Kiên văn tiểu lục của cụ Lê Quý Đôn trong có một mục “thuyền dật kí”, nói về mấy bậc cao tăng ở nước ta thời Bắc thuộc (về nhà Tấn, nhà Đường) cho đến đời nhà Lí - Trần là đời Phật giáo toàn thịnh ở nước ta. Xem đó thời về đầu nhà Đường (đầu thế kỉ thứ 7) Phật giáo ở nước ta đã thịnh, vậy thời có lẽ đạo Phật truyền sang Việt Nam đã lâu rồi. Vả từ thế kỉ thứ nhất ta nội thuộc Tàu luôn, nước ta với nước Tàu cũng như một, người Tàu sang ở bên này nhiều, chắc về đời Lục triều (tự thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ sáu) đã đem đạo Phật sang rồi, nhưng có lẽ Phật giáo chưa truyền ra dân gian và mới là tôn giáo của một phần người Tàu ở đây mà thôi. Đến đời nhà Đường đô hộ, sách chép rằng nước ta có mấy ông cao tăng như Vô Ngại Thượng Nhân, Phụng Định Pháp sư, Duy Giám Pháp sư, những nhà làm thơ có tiếng ở nhà Đường thường có họa thi tặng. Lại trong sách Đường Cao tăng truyện của ông sư Tàu tên là Nghĩa Tĩnh (tức Tây dịch là Vi tsing), có thuật truyện một ông Cao tăng đất Giao Chỉ tên là Vận Kỳ Pháp sư đã từng đi sang Thiên Trúc cầu kinh. Nhưng mà các bậc cao tăng ấy có phải là người Việt Nam hay là người Tàu? Tôi tưởng các ông có lẽ là người Tàu hoặc là giòng dõi người Tàu ở đây, chứ chưa phải là người bản thổ. Tôi có nhớ năm xưa được xem một bài văn bia ở một cái chùa về tỉnh Phúc Yên, bài ấy đề niên hiệu nhà Lí, hồi bấy giờ đạo Phật đương toàn thịnh. thế mà xét ra lời văn còn vụng lắm, tuy dùng chữ Phật nhiều mà dùng chưa được thoát, chắc là của một ông sư ta làm. Giữa đời nhà Lí (vào khoảng thế kỉ thứ mười, mười một), người nước ta học chữ Hán chắc đã khá mà làm văn vụng như vậy, thời đủ biết không có lẽ ba bốn trăm năm về trước người mình đã có những bậc cao tăng vừa thâm Hán học, vừa thâm Phật học, đến nỗi các danh sĩ nhà Đường phải kính trọng.
Đến khi nước ta thoát li nước Tàu mà độc lập, bắt đầu từ nhà Đinh, bấy giờ Phật giáo chắc đã truyền bá trong dân gian. Vua Đinh Tiên hoàng (968) mới định giai phẩm các tăng đạo. Khi ấy có những sư như ông Ngô Chân Lưu, Trương Ma Ni là có tiếng, vua cho hai ông ấy làm chức tăng thống và tăng lục. - Sư nước ta thấy chép trong quốc sử, trước từ hai ông ấy vậy.
Đời vua Lê Đại Hành, năm Thiên phúc thứ 8 (980), sử nhà Tống là Lí Giải sang Nam, vua Lê sai hai ông sư là Lạc Thuận và Khuông Việt tiếp đón, sư thường ngâm vịnh xướng họa với Tống sứ, Tống sứ lấy làm phục.
Đời vua Lí Thái tổ (l009) thời rất trọng đạo Phật, có ban y phục cho các nhà sư, mộ dân làm tăng ni, dựng ra cung Thái Thanh, lập ra chùa Vạn Tuế. Sử chép đời nhà Lí tăng đạo đầy chốn dân gian, chùa chiền khắp trong thiên hạ. Những sư có tiếng đời Lí là những ông sau này: Bảo Tính, Minh Tâm, Vạn Hạnh, Minh Không có phép thuật chữa bệnh cho vua Lí Thần tôn, Đạo Hạnh tu luyện ở núi Phật tích (tức là núi chùa Thày, ở Sơn Tây), Giác Hải. Đến đời nhà Trần đạo Phật vẫn còn thịnh. Vua Nhân tôn là thiên tử cũng đi tu làm Đại sĩ, bà Hoàng hậu đi tu làm sư cô, các hàng vương công đi tu làm tăng chúng. Đời Trần có ông sư Huyền Quang làng Vạn Tải, huyện Gia Bình, Bắc Ninh, lên chín tuổi đã hay văn thơ, có tập thơ Ngọc tiên truyền ở đời. Tục truyền ông đỗ Trạng nguyên, rồi từ quan đi tu, nhưng ông Lê Quý Đôn cho là không phải, vì xét trong sách ông Hoàng Đức Lượng ở đời Hồng đức có chép sự tích và thơ ông ở tập Trích diễm thời không nói ông đỗ gì, đời Hồng đức cách đời Trần không xa, tưởng chắc là không lầm.
Nhà Trần lại có một ông sư trứ danh nữa là ông Pháp Loa, người thôn Đồng Hòa, làng Cửa La, huyện Nam Sách, sinh giữa niên hiệu Thiên Long (1264). Khi vua Nhân tôn ngự ra Nam sách gặp sư, khen là có đạo, và tứ danh là Hỉ-lai. Sau ông tu ở Kì Lâm, đổi tên là Pháp Loa. Trong sử chép khi vua Nhân tôn hóa ở Ngọa Vân am, chỉ có một mình ông Pháp Loa trông nom việc thiêu hóa. Sau ông lên tu ở chùa Yên Tử, ông Huyền Quang cũng lên theo, lập ra viện Quỳnh Lâm, am Hồ Thiên, am Chân Lạc, và chùa Thanh Mai. Cảnh chùa Yên Tử ngày nay hãy còn, bây giờ thuộc tỉnh Quảng Yên, thật là một nơi cổ tích có tiếng của nước ta. Vua Nhân tôn khi vào tu ở đấy tự hiệu là Giác Hoàng. Sau gọi “Trúc Lâm tam tổ”, tức là: đệ nhất tổ Giác Hoàng; đệ nhị tổ Pháp Loa; đệ tam tổ Huyền Quang vậy. Nay ở Yên Tử còn có chùa Thiên Trúc thờ ba tổ, đời xưa có tiếng lắm, nên có câu rằng:
Dù ai quyết chí tu hành, Có về Yên Tử mới đành lòng tu!
Đời nhà Lê, đạo Phật đã kém thịnh, nhưng cũng có nhiều vị sư có tiếng. Thứ nhất là ông Hương Hải, tục gọi là “Tổ Cầu” người làng Áng Độ, huyện Chân Phúc; khi mười tám tuổi đã đỗ hương cống, vào làm văn chức, rồi ra từ phủ Triệu Phong. Hai mươi lăm tuổi bèn từ quan đi tu, có theo học ông Viên Cảnh và ông Đại Thâm Viên Giác. Sư có vào tu ở Thuận Hóa (Huế), người quy đến hàng nghìn, sau vì chúa Nguyễn có ý ngờ, bèn ra ngoài Sơn Nam, ở chùa Nguyệt Đường, bây giờ là niên hiệu Chính hòa (1683) nhà Lê. Sư có làm nhiều câu kệ thâm thúy lắm.
Khoảng năm Chính hòa Vĩnh thịnh (1680 -1705), lại có ông Như Đức ở chùa Lân Đỗng, huyện Đông Triều, giới luật cũng tinh nghiêm lắm. Về niên hiệu Bảo thái, lại có ông Như Nguyệt, là môn đồ ông Hương Hải, cũng là người chân tu.
Tự đấy về sau, cả khoảng Lê mạt Nguyễn sơ, thời không có sách khảo nữa. Nhưng cũng là bắt đầu đạo Phật đã suy, cho đến bao giờ vậy.
* * *
Kí giả viết xong bài này, cũng muốn kết luận mấy câu về Phật giáo. Nhưng bài đã dài lắm rồi, vả như trên kia đã nói, mục đích là định làm một bài khảo cứu, không phải là định bình phẩm về đạo Phật vậy. Nay nhân mới đọc quyển sách của một văn sĩ nước Pháp, bàn về Phật giáo, thấy có mấy câu phán đoán đạo Phật cũng hay, lược dịch ra đây, gọi là thay vì lời kết luận vậy:
“Đạo Phật là gì? Đạo Phật là câu hát não nùng để ru ngủ cho những dân chán đời ở cõi Đông phương, ru cho êm giấc mộng nghìn năm.
“Mà câu hát ấy, từ hai mươi lăm thế kỉ đến giờ cũng đã từng ru cho biết bao nhiêu kẻ sầu não đau lòng!
“Nào những người đa sầu đa cảm, ngán nỗi đời mà cam lòng đợi chết, nào những kẻ học giả thâm trầm, cậy sự thế mà mơ màng tịch diệt, nên chắp tay mà vái lạy Phật đà. Lại những người kia nữa, số nhiều biết bao nhiêu, sống ở đời mà ghét căm sự sống, khác nào như một phường kèn thảm, thổi sau một đám rước to, chạy quanh trên vũ đài thế giới, nên lên giọng mà ngợi khen thày Mâu-ni đã đắc đạo. Thày là tôn sư của các người. Dù giọng các người căm tức mà ngạo mạn, hay than khóc mà nỉ non, thâm trầm mà trịnh trọng, hay nức nở mà kêu oan, bài than vãn cũng là một, mà bài ấy là Phật đã xướng lên.
“Lại những bậc triết nhân yếm thế, các ngài nên tôn trọng Phật đà. Ngày nay các ngài băn khoăn trong dạ, xưa kia Phật đã khắc khoải trong lòng. Các ngài làm môn đồ Phật, cũng không mất giá chi. Cổ lai những người được cái thiên chức làm hướng đạo cho loài người vào trong cõi siêu nhân loại, không phải là có nhiều. Tưởng thế cũng là đủ: cái bí tàng của tạo vật, biết chút thế cũng đủ sống...
“Nhưng mà Phật dạy sống là sự khổ vô lường; mà bọn ta thời lại lấy sống là của báu vô giá; của ấy ta cần phải ra công kinh lí, hết sức tăng gia, dù phải nhọc nhằn mới được, quyết đấu mới nên, ta cũng chẳng nề. Thử nhìn khắp quanh mình, đâu đâu cũng chỉ thấy vì ham muốn sống mà phải chiến đấu cạnh tranh. Các dân tộc, các quốc gia, các hạng người trong xã hội, cho chí từng người với nhau, nhất thiết chỉ vì muốn sống, mà phải tranh giành nhau rất kịch liệt. Nhất thiết chỉ nghĩ làm thế nào sinh tồn được, chống cự được, chiếm đoạt được; nhất thiết chỉ ghê một điều là phải chịu thua kém vậy...” (2).
(1920)
(2) Gastor Riou, L'Ennui de Bouddha
(l) xét bộ Tam tàng (Tripitaka) của Tàu hoàn bị lắm.Bao nhiêu kinh sách của Ấn Độ dịch ra chữ Tàu được hết, có nhiều sách nguyên bản Ấn Độ đã mất, chỉ còn dịch bản của Tàu. Hiện nay Tam tàng Tàu có hai bản in đủ nhất: “Nam tàng” là bản in ở Nam Kinh năm 1368 - 1398; “Bắc tàng” là bản in ở Bắc Kinh năm 1403 - 1424. Đại khái phân mục ra như sau này, xem đó thời dư biết kinh sách Phật nhiều dường nào:
A - Kinh Tàng (Sutra-pitaka).
I. Kinh Đại thừa (Mahâyâna-sutra):
1. Bát nhã bộ (Padjnâpâramita-sutra).......:.....................:........... 22 bộ 2. Bảo tịch bộ (Ratnakuta-sutra) .....................................................38 – 3. Đại tập bộ (Mahâsannipâta-sutra)..............................................26 – 4. Hoa nghiêm bộ (Avatamsâka-sutra)............................................26 – 5. Nát bàn bộ (Nirvâna-sutra) .........................................................13 – 6. Nhũng kinh trong dịch năm bộ trên.........................................250 – 7. Những kinh đơn dịch năm bộ trên …………………………...166 -
II. Kinh Tiểu thừa (Hinâyana-sutra):
1. A hàm bộ (Âgama-sutra)............................................................137 – 2. Các kinh đơn dịch ......................................................................103 –
III. Các kinh Đại tiểu thừa mới nhập bộ tự đời Tống Nguyên ......................................................................299 –
B - Luật tàng (Vinaya-pitaka):
I. Đại thừa luật (Mahayâna-vinaya)...............................................25- II. Tiểu thừa luật (Hinâyana-vinaya) .............................................60-
C- Luận tàng (Abhidharma-pitaka):
I. Đại thừa Luận (Mahayâna-abhidharma)....................................94 – II. Tiểu thừa Luận (Hinayâna-abhidharma) ..................................37- III. Các sách mới nhập Luật tàng từ đời Tống Nguyên ..................23-
D - Tạp tàng (Samyukta-pitaka):
I. Sách của các thành hiển Tây thổ soạn .........................................47- II. Sách của người Trung Quốc trước thuật...................................154- a) Các sách tục nhập Tàng tự đời Minh...........................................36- b) Các sách Bắc tàng khuyết mà Nam tàng còn................................5- c) Tổng cộng .................................................................................. 1662 bộ Nguồn:
Phạm Quỳnh-Luận giải văn học và triết học/ Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây Số lượt đọc:
701
-
Cập nhật lần cuối:
11/11/2009 05:15:44 PM
Ý kiến của bạn về bài viết:Có tín ngưỡng nhưng không được dị đoan18/07/2010 08:09' AM Vừa là một chiến sĩ cách mạng với nhiều hoạt động thực tế, Phan Bội Châu còn là một nhà tư tưởng dân chủ lớn với nhiều tác phẩm xuất sắc để đời. Trong bài báo nhỏ này, chúng tôi chỉ muốn đề cập tới một số trích đoạn di thảo (chữ Hán viết tay) của Phan Bội Châu viết về những cái hại của thói mê tín dị đoan.... Trái tim của thế giới không có trái tim02/07/2010 10:42' AM Mác cho rằng tôn giáo là "tiếng thở dài", là “trái tim", là "tinh thần", là "thuốc phiện"… tất cả những từ đó hầu như cùng một ý nhưng được diễn đạt khác nhau. “Thuốc phiện" đương nhiên là không tốt rồi, nhưng ở đây Mác cũng chỉ coi nó như là một cái gì đó làm giảm bớt nỗi đau khổ của người dân. Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 1)29/06/2010 08:01' AM Loạt bài này tóm tắt các suy nghĩ về phương pháp giải quyết vấn đề (viết tắt là ppgq, problem solving) và Tứ Diệu Đế – nói cách khác hơn là suy nghĩ về tư duy (think of thinking). Nội dung các phần sau dựa nhiều vào kinh nghiệm kỹ thuật, ngôn ngữ, giáo dục (sư phạm) và nhất là từ sự quan sát và suy nghĩ cá nhân qua những hoạt động hàng ngày... Đạo Phật giúp giới trẻ tiến thân có nhân cách31/05/2010 02:28' PM Tiến sĩ Thái Kim Lan là một Phật tử, chuyên dạy so sánh triết học Đông
- Tây, từng dấn thân trong cuộc vận động mùa Phật Đản 1963. Đã hơn 40
năm, mỗi khi có việc có thể làm Phật sự chị đều tự nguyện góp sức. Và
lần này, trong chương trình của 'Tuần Văn hóa Phật giáo' có một cuộc
đối thoại với thế hệ trẻ, chị đã nhận lời chủ trì. Sau buổi tọa đàm, PV
Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Thái Kim Lan. Những lợi ích của tri túc31/05/2010 02:07' PM Ngày nọ, một ông vua đến viếng thăm Bụt và đặt một câu hỏi: “Khi trẫm nhìn vào những đệ tử của ngài, trẫm cảm nhận được sự bình an, sự vui vẻ và màu da chói sáng của họ. Trẫm cũng nghe rằng họ chỉ ăn mỗi ngày một bữa, nhưng thực sự trẫm không thể nào hiểu nổi làm sao họ có thể duy trì một đời sống như thế này?”. Triết học Hy Lạp và thần học thiên chúa giáo29/04/2010 05:19' PM Nhiều học giả nói với chúng tôi rằng các triết gia ngoại đạo Flato và Aristotle giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của thần học Cơ Đốc giáo. Augustine mắc nợ Plato nhiều ý tưởng, còn Aquinas tìm thấy cơ sở triết học của mình nơi Aristotle. Điều này nghe thật kỳ quặc. Làm thế nào mà những vị thánh và nhà thần học Cơ Đốc giáo này lại đi tìm nền tảng tư tưởng của họ nơi các triết gia ngoại đạo không hề tin vào Thượng Đế của Cơ Đốc giáo hay những tín lý Cơ Đốc giáo? Tứ diệu đế - từ góc độ phương pháp luận khoa học28/04/2010 12:13' PM Khi còn nhỏ, những câu chuyện cổ tích mà bà và mẹ kể về Bụt đã để lại trong lòng tôi hình ảnh một ông cụ râu tóc bạc phơ đầy từ bi, luôn hiện ra đúng lúc, đúng chỗ, dùng phép lạ cứu giúp muôn chúng sinh qua mọi cảnh khổ nạn... Văn hóa phật giáo nền tảng của văn hóa Việt Nam09/04/2010 07:48' AM Giáo sư Thái Kim Lan hiện đang dạy tại Đại học Ludwig- maximilian, Munich, Đức về Triết học và Phật học và là Chủ tịch Trung tâm giao lưu văn hóa Đức - Châu Á. Chúng tôi có buổi trò chuyện với Bà về những vấn đề của văn hóa Phật giáo Việt Nam. Bài khác: Phần 2: Phật lí uyên nguyên06/11/2009 03:21' PM Nghiệp báo, luân hồi, yếm thế, khổ hạnh - đó là mấy cái mầm lớn của đạo Phật manh nha ra từ đó; sau này rồi mỗi ngày một lớn lên, nhưng gốc cũng ở trong đạo Phệ-đà cả. Phần I: Phật tổ sự tích04/11/2009 06:34' AM Một nhà làm sách Nhật Bản có nói rằng: “Hai cái nguồn lớn của văn hóa Đông Á ta là Khổng giáo và Phật giáo. Ngày nay dẫu ta theo đòi văn minh học thuật Thái Tây, ta cũng chớ nên quên nguồn gốc cũ”. Ý nghĩa hoa sen trong Phật giáo26/10/2009 02:51' PM Hoa sen đẹp hương thơm tinh khiết, nên được mọi người ưa chuộng. Ấn Độ giáo có truyền thuyết cho rằng lúc khởi đầu vũ trụ một hoa sen mọc lên từ rốn của thần Vishnu, giữa hoa có Phạm thiên ngói kiết già. Hoa sen lại là một trong tám biểu tượng của Phật giáo, khó có thể kể hết kinh sách Phật giáo nói về hoa sen, sau đây chỉ là khái lược... Giáo dục vu lan17/10/2009 08:35' AM Vu Lan là ngày báo hiếu. Chữ hiếu trong đạo Phật quan trọng đến nỗi chính đức Phật là người làm gương. Phật nói: Phật ra đời là để làm năm việc: chuyển pháp luân, độ cha mẹ, đem đức tin lại cho những kẻ không có đức tin, ai chưa có chí nguyện bồ tát thì làm cho họ có, và thọ ký làm Phật cho bồ tát. Phật nói như thế để trả lời cho tôn giả Ưu Tùy Ca Diếp khi tôn giả thấy ngài xoay người lại, ngồi hướng về kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Phật sắp trở về lại vương quốc để thuyết pháp cho cha sau khi chuyển pháp luân. Phật sẽ lên cung Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ. Cái thiêng tôn giáo28/09/2009 01:35' PM Ý tưởng về sự thiêng liêng đã xuất hiện khá sớm trong bước chuyển từ con người động vật thành con người xã hội. Ý tưởng ấy là sản phẩm của đời sống xã hội, khi nhu cầu gắn kết các thành viên của cộng đồng đòi hỏi một đức tin về nguồn gốc thánh thần và ý nghĩa cao quý của cuộc sống con người. Ảo tưởng tôn giáo và nhiệm vụ của lịch sử28/08/2009 06:38' AM Người nào đã đi tìm một tồn tại siêu nhân nào đó trong tính hiện thực ảo tưởng trên thượng giới mà chỉ tìm thấy có sự phản ánh của chính bản thân mình, thì người đó không còn mong muốn chỉ tìm thấy cái bề ngoài của bản thân mình, cái không-phải-là-con-người, ở nơi mà người đó đang tìm mà phải tìm tính hiện thực chân chính của mình. Hệ thống thế giới quan Phật giáo - Các sơ đồ giáo lý26/08/2009 02:51' PM Trước khi chuyển sang nghiên cứu những phần quan trọng nhất trong hệ thống thế giới quan Phật giáo, chúng ta cần phải xác định điểm xuất phát mà từ đó các Phật tử lập luận về những vấn đề xuất hiện trong khi suy tư triết học và chỉ ra cơ cấu chung của các hệ thống của họ. Sau đó, chúng ta mới đả động đến vấn đề đặt Phật giáo vào trào lưu triết học nào: Phật giáo là chủ nghĩa thực tại hay chủ nghĩa duy tâm, là duy vật hay duy linh hay là một trào lưu nào khác. Đôi điều luận về nhân quả- nghiệp báo24/08/2009 06:01' AM Mặc dù các tôn giáo nhất là Phật giáo đều nhấn mạnh đến vấn đề Nhân Quả - Nghiệp báo, song Luật Nhân quả không phải là của riêng một tôn giáo nào, nó là một luật của tự nhiên (Law of Nature). Đã là luật của tự nhiên thì ai cũng hiểu rằng không có một sức mạnh, hay ý chí nào can thiệp vào để bắt nó phải theo ý muốn của riêng mình cả. Nó sẽ vận hành theo đúng luật của nó, ai không biết hay cố tình không hiểu thì sẽ phải chịu tác động của luật, ví như một cái máy đang chạy mà một người cứ cho tay vào thì sẽ bị máy nghiền đứt, cho dù có kêu van xin xỏ cũng không được. |