Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 57.226.686
Số người trực tuyến: 566
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Phật giáo lược khảo

Phần 3: Phật giáo lịch sử

Phạm Quỳnh
Phạm Quỳnh-Luận giải văn học và triết học/ Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
   
09:00' AM - Thứ tư, 11/11/2009

Ấy đạo Phật qua đời nọ sang đời kia, từng nhiều phen phải đốn tỏa, nhưng rồi lại khởi phục được ngay. Đạo Phật ở Trung Quốc thật là có cái nghị lực phi thường vậy. Tuy bọn học thức phần nhiều theo Nho, mà trong dân gian bao giờ cũng mộ Phật. Bởi lẽ đó nên mãi đến cận đại, phàm vua triều nào ra khai quốc cũng in lại bộ Tam tàng, lấy làm việc cẩn trọng, hoặc là thành tâm, hoặc là chiều đời, chủ ý là để thu phục nhân tâm. Vua đầu nhà Tống in kinh năm 972; vua đầu nhà Nguyên năm 1285-1287; vua đầu nhà Minh năm 1368. Nhà Thanh đối với Phật giáo có ý lãnh đạm, là vì đã nhờ bọn Nho mà gây dựng được cơ đồ, nên phải chiều nhà Nho hơn các đời khác. Song các vua Thanh không thể tuyệt nhiên không giúp cho đạo Phật là đạo gốc trong dân gian lại vừa là đạo gốc của nhà Minh nữa. Nên năm 1725, 1737 cũng in lại bộ Tam tàng (1).

Phật giáo ở Việt Nam. - Muốn khảo lịch sử Phật giáo ở nước ta thật khó lắm, vì sách vở không có. Bên Tàu sách gì cũng lưu truyền được mãi mãi, bên ta không sách gì truyền được trọn vẹn tới hơn trăm năm. Cứ xem như trong bộ Lịch triều hiến chương của cụ Phan Huy Chú, có mục “Văn tịch chí” nói về những sách người Việt Nam ta làm mà hồi bấy giờ cụ còn được biết: bộ Lịch triều hiến chương biên tập tự đầu bản triều, cách nay chừng trăm năm, mà bao nhiêu những sách kể trong mục ấy ngày nay hầu hết không còn gì nữa, không ai nhớ đến tên nữa: ấy thư tịch ở nước mình tiêu diệt mau như vậy, ghê thay! Bởi thế nên sự khảo cứu rất là khó khăn. Vẫn biết rằng đã có quốc sử, nhưng sử chép khuyết lược lắm, và cũng nhiều việc không biết bằng cứ ở đâu. Như khảo về Phật giáo mà tra trong sử ta thời không được mấy tí, chỉ biết rằng nước ta về đời Lí - Trần vua quan cho chí dân gian mộ đạo Phật lắm, nhưng đạo Phật thâu nhập nước ta từ bao giờ, duyên cách những thế nào, thời sử không nói.

Có lẽ sau này có nhiều nhà hiếu học dụng công sưu tầm lấy những đoạn giản tân biên của đời trước, thứ nhất là những thệ phả, bi kí của các chùa, thời họa may bấy giờ mới có thể chép được lịch sử Phật giáo ở nước ta cho tường tận vậy. Chứ ngày nay thời tài liệu còn ít lắm, chưa thể nào chép được. Hiện kí giả chỉ mới biết có sách Kiên văn tiểu lục của cụ Lê Quý Đôn trong có một mục “thuyền dật kí”, nói về mấy bậc cao tăng ở nước ta thời Bắc thuộc (về nhà Tấn, nhà Đường) cho đến đời nhà Lí - Trần là đời Phật giáo toàn thịnh ở nước ta. Xem đó thời về đầu nhà Đường (đầu thế kỉ thứ 7) Phật giáo ở nước ta đã thịnh, vậy thời có lẽ đạo Phật truyền sang Việt Nam đã lâu rồi. Vả từ thế kỉ thứ nhất ta nội thuộc Tàu luôn, nước ta với nước Tàu cũng như một, người Tàu sang ở bên này nhiều, chắc về đời Lục triều (tự thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ sáu) đã đem đạo Phật sang rồi, nhưng có lẽ Phật giáo chưa truyền ra dân gian và mới là tôn giáo của một phần người Tàu ở đây mà thôi. Đến đời nhà Đường đô hộ, sách chép rằng nước ta có mấy ông cao tăng như Vô Ngại Thượng Nhân, Phụng Định Pháp sư, Duy Giám Pháp sư, những nhà làm thơ có tiếng ở nhà Đường thường có họa thi tặng. Lại trong sách Đường Cao tăng truyện của ông sư Tàu tên là Nghĩa Tĩnh (tức Tây dịch là Vi tsing), có thuật truyện một ông Cao tăng đất Giao Chỉ tên là Vận Kỳ Pháp sư đã từng đi sang Thiên Trúc cầu kinh. Nhưng mà các bậc cao tăng ấy có phải là người Việt Nam hay là người Tàu? Tôi tưởng các ông có lẽ là người Tàu hoặc là giòng dõi người Tàu ở đây, chứ chưa phải là người bản thổ. Tôi có nhớ năm xưa được xem một bài văn bia ở một cái chùa về tỉnh Phúc Yên, bài ấy đề niên hiệu nhà Lí, hồi bấy giờ đạo Phật đương toàn thịnh. thế mà xét ra lời văn còn vụng lắm, tuy dùng chữ Phật nhiều mà dùng chưa được thoát, chắc là của một ông sư ta làm. Giữa đời nhà Lí (vào khoảng thế kỉ thứ mười, mười một), người nước ta học chữ Hán chắc đã khá mà làm văn vụng như vậy, thời đủ biết không có lẽ ba bốn trăm năm về trước người mình đã có những bậc cao tăng vừa thâm Hán học, vừa thâm Phật học, đến nỗi các danh sĩ nhà Đường phải kính trọng.

Đến khi nước ta thoát li nước Tàu mà độc lập, bắt đầu từ nhà Đinh, bấy giờ Phật giáo chắc đã truyền bá trong dân gian. Vua Đinh Tiên hoàng (968) mới định giai phẩm các tăng đạo. Khi ấy có những sư như ông Ngô Chân Lưu, Trương Ma Ni là có tiếng, vua cho hai ông ấy làm chức tăng thống và tăng lục. - Sư nước ta thấy chép trong quốc sử, trước từ hai ông ấy vậy.

Đời vua Lê Đại Hành, năm Thiên phúc thứ 8 (980), sử nhà Tống là Lí Giải sang Nam, vua Lê sai hai ông sư là Lạc Thuận và Khuông Việt tiếp đón, sư thường ngâm vịnh xướng họa với Tống sứ, Tống sứ lấy làm phục.

Đời vua Lí Thái tổ (l009) thời rất trọng đạo Phật, có ban y phục cho các nhà sư, mộ dân làm tăng ni, dựng ra cung Thái Thanh, lập ra chùa Vạn Tuế. Sử chép đời nhà Lí tăng đạo đầy chốn dân gian, chùa chiền khắp trong thiên hạ. Những sư có tiếng đời Lí là những ông sau này: Bảo Tính, Minh Tâm, Vạn Hạnh, Minh Không có phép thuật chữa bệnh cho vua Lí Thần tôn, Đạo Hạnh tu luyện ở núi Phật tích (tức là núi chùa Thày, ở Sơn Tây), Giác Hải. Đến đời nhà Trần đạo Phật vẫn còn thịnh. Vua Nhân tôn là thiên tử cũng đi tu làm Đại sĩ, bà Hoàng hậu đi tu làm sư cô, các hàng vương công đi tu làm tăng chúng. Đời Trần có ông sư Huyền Quang làng Vạn Tải, huyện Gia Bình, Bắc Ninh, lên chín tuổi đã hay văn thơ, có tập thơ Ngọc tiên truyền ở đời. Tục truyền ông đỗ Trạng nguyên, rồi từ quan đi tu, nhưng ông Lê Quý Đôn cho là không phải, vì xét trong sách ông Hoàng Đức Lượng ở đời Hồng đức có chép sự tích và thơ ông ở tập Trích diễm thời không nói ông đỗ gì, đời Hồng đức cách đời Trần không xa, tưởng chắc là không lầm.

Nhà Trần lại có một ông sư trứ danh nữa là ông Pháp Loa, người thôn Đồng Hòa, làng Cửa La, huyện Nam Sách, sinh giữa niên hiệu Thiên Long (1264). Khi vua Nhân tôn ngự ra Nam sách gặp sư, khen là có đạo, và tứ danh là Hỉ-lai. Sau ông tu ở Kì Lâm, đổi tên là Pháp Loa. Trong sử chép khi vua Nhân tôn hóa ở Ngọa Vân am, chỉ có một mình ông Pháp Loa trông nom việc thiêu hóa. Sau ông lên tu ở chùa Yên Tử, ông Huyền Quang cũng lên theo, lập ra viện Quỳnh Lâm, am Hồ Thiên, am Chân Lạc, và chùa Thanh Mai. Cảnh chùa Yên Tử ngày nay hãy còn, bây giờ thuộc tỉnh Quảng Yên, thật là một nơi cổ tích có tiếng của nước ta. Vua Nhân tôn khi vào tu ở đấy tự hiệu là Giác Hoàng. Sau gọi “Trúc Lâm tam tổ”, tức là: đệ nhất tổ Giác Hoàng; đệ nhị tổ Pháp Loa; đệ tam tổ Huyền Quang vậy. Nay ở Yên Tử còn có chùa Thiên Trúc thờ ba tổ, đời xưa có tiếng lắm, nên có câu rằng:

Dù ai quyết chí tu hành,
Có về Yên Tử mới đành lòng tu!

Đời nhà Lê, đạo Phật đã kém thịnh, nhưng cũng có nhiều vị sư có tiếng. Thứ nhất là ông Hương Hải, tục gọi là “Tổ Cầu” người làng Áng Độ, huyện Chân Phúc; khi mười tám tuổi đã đỗ hương cống, vào làm văn chức, rồi ra từ phủ Triệu Phong. Hai mươi lăm tuổi bèn từ quan đi tu, có theo học ông Viên Cảnh và ông Đại Thâm Viên Giác. Sư có vào tu ở Thuận Hóa (Huế), người quy đến hàng nghìn, sau vì chúa Nguyễn có ý ngờ, bèn ra ngoài Sơn Nam, ở chùa Nguyệt Đường, bây giờ là niên hiệu Chính hòa (1683) nhà Lê. Sư có làm nhiều câu kệ thâm thúy lắm.

Khoảng năm Chính hòa Vĩnh thịnh (1680 -1705), lại có ông Như Đức ở chùa Lân Đỗng, huyện Đông Triều, giới luật cũng tinh nghiêm lắm. Về niên hiệu Bảo thái, lại có ông Như Nguyệt, là môn đồ ông Hương Hải, cũng là người chân tu.

Tự đấy về sau, cả khoảng Lê mạt Nguyễn sơ, thời không có sách khảo nữa. Nhưng cũng là bắt đầu đạo Phật đã suy, cho đến bao giờ vậy.

*
* *

Kí giả viết xong bài này, cũng muốn kết luận mấy câu về Phật giáo. Nhưng bài đã dài lắm rồi, vả như trên kia đã nói, mục đích là định làm một bài khảo cứu, không phải là định bình phẩm về đạo Phật vậy. Nay nhân mới đọc quyển sách của một văn sĩ nước Pháp, bàn về Phật giáo, thấy có mấy câu phán đoán đạo Phật cũng hay, lược dịch ra đây, gọi là thay vì lời kết luận vậy:

“Đạo Phật là gì? Đạo Phật là câu hát não nùng để ru ngủ cho những dân chán đời ở cõi Đông phương, ru cho êm giấc mộng nghìn năm.

“Mà câu hát ấy, từ hai mươi lăm thế kỉ đến giờ cũng đã từng ru cho biết bao nhiêu kẻ sầu não đau lòng!

“Nào những người đa sầu đa cảm, ngán nỗi đời mà cam lòng đợi chết, nào những kẻ học giả thâm trầm, cậy sự thế mà mơ màng tịch diệt, nên chắp tay mà vái lạy Phật đà. Lại những người kia nữa, số nhiều biết bao nhiêu, sống ở đời mà ghét căm sự sống, khác nào như một phường kèn thảm, thổi sau một đám rước to, chạy quanh trên vũ đài thế giới, nên lên giọng mà ngợi khen thày Mâu-ni đã đắc đạo. Thày là tôn sư của các người. Dù giọng các người căm tức mà ngạo mạn, hay than khóc mà nỉ non, thâm trầm mà trịnh trọng, hay nức nở mà kêu oan, bài than vãn cũng là một, mà bài ấy là Phật đã xướng lên.

“Lại những bậc triết nhân yếm thế, các ngài nên tôn trọng Phật đà. Ngày nay các ngài băn khoăn trong dạ, xưa kia Phật đã khắc khoải trong lòng. Các ngài làm môn đồ Phật, cũng không mất giá chi. Cổ lai những người được cái thiên chức làm hướng đạo cho loài người vào trong cõi siêu nhân loại, không phải là có nhiều. Tưởng thế cũng là đủ: cái bí tàng của tạo vật, biết chút thế cũng đủ sống...

“Nhưng mà Phật dạy sống là sự khổ vô lường; mà bọn ta thời lại lấy sống là của báu vô giá; của ấy ta cần phải ra công kinh lí, hết sức tăng gia, dù phải nhọc nhằn mới được, quyết đấu mới nên, ta cũng chẳng nề. Thử nhìn khắp quanh mình, đâu đâu cũng chỉ thấy vì ham muốn sống mà phải chiến đấu cạnh tranh. Các dân tộc, các quốc gia, các hạng người trong xã hội, cho chí từng người với nhau, nhất thiết chỉ vì muốn sống, mà phải tranh giành nhau rất kịch liệt. Nhất thiết chỉ nghĩ làm thế nào sinh tồn được, chống cự được, chiếm đoạt được; nhất thiết chỉ ghê một điều là phải chịu thua kém vậy...” (2).

(1920)

(2) Gastor Riou, L'Ennui de Bouddha


(l) xét bộ Tam tàng (Tripitaka) của Tàu hoàn bị lắm.Bao nhiêu kinh sách của Ấn Độ dịch ra chữ Tàu được hết, có nhiều sách nguyên bản Ấn Độ đã mất, chỉ còn dịch bản của Tàu. Hiện nay Tam tàng Tàu có hai bản in đủ nhất: “Nam tàng” là bản in ở Nam Kinh năm 1368 - 1398; “Bắc tàng” là bản in ở Bắc Kinh năm 1403 - 1424. Đại khái phân mục ra như sau này, xem đó thời dư biết kinh sách Phật nhiều dường nào:

A - Kinh Tàng (Sutra-pitaka).

I. Kinh Đại thừa (Mahâyâna-sutra):

1. Bát nhã bộ (Padjnâpâramita-sutra).......:.....................:........... 22 bộ
2. Bảo tịch bộ (Ratnakuta-sutra) .....................................................38 –
3. Đại tập bộ (Mahâsannipâta-sutra)..............................................26 –
4. Hoa nghiêm bộ (Avatamsâka-sutra)............................................26 –
5. Nát bàn bộ (Nirvâna-sutra) .........................................................13 –
6. Nhũng kinh trong dịch năm bộ trên.........................................250 –
7. Những kinh đơn dịch năm bộ trên …………………………...166 -

II. Kinh Tiểu thừa (Hinâyana-sutra):

1. A hàm bộ (Âgama-sutra)............................................................137 –
2. Các kinh đơn dịch ......................................................................103 –

III. Các kinh Đại tiểu thừa mới nhập bộ
tự đời Tống Nguyên ......................................................................
299 –

B - Luật tàng (Vinaya-pitaka):

I. Đại thừa luật (Mahayâna-vinaya)...............................................25-
II. Tiểu thừa luật (Hinâyana-vinaya) .............................................
60-

C- Luận tàng (Abhidharma-pitaka):

I. Đại thừa Luận (Mahayâna-abhidharma)....................................94 –
II. Tiểu thừa Luận (Hinayâna-abhidharma) ..................................37-
III. Các sách mới nhập Luật tàng từ đời Tống Nguyên ..................
23-

D - Tạp tàng (Samyukta-pitaka):

I. Sách của các thành hiển Tây thổ soạn .........................................47-
II. Sách của người Trung Quốc trước thuật...................................
154-
a) Các sách tục nhập Tàng tự đời Minh...........................................36-
b) Các sách Bắc tàng khuyết mà Nam tàng còn................................5-
c) Tổng cộng .................................................................................. 1662 bộ

Trang:  2/2«   1   2 
Số lượt đọc:  701  -  Cập nhật lần cuối:  11/11/2009 05:15:44 PM
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Bài khác:
Liên kết web
Olga Bergholtz

Kỷ niệm 100 năm sinh Olga Bergholtz (1910-1975) nữ nhà thơ, nhà văn Liên Xô. Bà nổi tiếng nhất với những tác phẩm sáng tác trong thời kỳ Leningrad bị bao vây. Bà đã vượt qua được những nỗi niềm tinh tế, vô tư lự của thế giới trong trẻo, vẫn mang nỗi đau riêng và cảm nhận riêng về thời cuộc, để viết về cuộc đời xung quanh, về tình yêu. Hơn thế, nhờ có nỗi đau cá nhân, bà có cảm nhận sâu sắc hơn về những nỗi đau và niềm hân hoan của nhiều người khác, của nhân dân, của dân tộc. Bà có câu thơ bất hủ "Không ai bị lãng quên và không điều gì bị quên lãng".

...

Tôi xin nói, các bạn ơi với cuộc sống riêng tôi,
Không thể có những tháng năm trên đời vô ích,
Không thể có những thông tin vô nghĩa, không mục đích,
Không thể có những con đường đi qua, nghĩa là, hóa không cần!
Không thể có những thế giới lạ xa, không thể không tiếp nhận,
Không thể có những tặng vật, bị hàm hồ cho đi một cách phân vân!
Cũng không thể có một tình yêu vô ích,
Kể cả những tình yêu bị dối lừa, đớn đau, bi kịch,
Thì chút ánh sáng trong veo, dẫu chỉ sáng chập chờn
Cũng suốt đời ở mãi cùng tôi!

Và có lẽ, chẳng bao giờ là quá muộn đâu,
Khi ta dám làm lại từ đầu trọn vẹn đời mình sống,
Dám bắt đầu lại từ đầu - một đường đi từ khởi thủy,
Và ứng xử làm sao, để nếu có quay nhìn quá khứ
Thì đừng phải ân hận xóa bỏ đi điều gì,
Dù là một tiếng kêu, hay chỉ một lời than!

(1962, Bằng Việt dịch)

Trang chủGiới thiệuLiên hệ