Cân đối lợi ích trong khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường

Đoan Trang thực hiệnPháp luật TP Hồ Chí Minh
02:38' CH - Thứ sáu, 20/03/2015

Hỏi: Theo ông, cho đến giờ đóng góp của ngành tài nguyên trong cơ cấu vốn của Việt Nam có nhiều không?

Trả lời: Tôi nghĩ là rất nhiều. Không có một thống kê công khai nào về chuyện này, bởi vì bất kỳ chính phủ nào cũng có những thứ chi phí không nói được. Chúng ta phàn nàn rằng chúng ta không có một báo cáo tài chính công khai minh bạch là chúng ta nói lý thuyết thôi. Tất cả các chính phủ đều không minh bạch nổi. Cho nên mới có chuyện Hy Lạp vỡ nợ. Chính phủ với tư cách là người đại diện đất nước buộc phải tự cân đối chuyện này. Và để giải quyết quan hệ với xã hội, làm cho xã hội yên tâm, thì chính phủ phải minh bạch và hợp lý trong quá trình này. Sự hợp lý chính là công cụ tốt nhất để tiệm cận tới khái niệm minh bạch. Dùng công cụ khấu hao trong khai thác tài nguyên như là một quá trình giải quyết sự mất cân đối giữa khai thác và hoàn nguyên, đấy là giải pháp có tính chất chiến lược.

Hỏi: Theo ông, lực lượng bảo vệ môi trường gồm những gì?

Trả lời: Đầu tiên phải là công cụ chế tài và công cụ thực thi các quyết định có chất lượng chế tài. Các hình phạt bao giờ cũng phải lớn hơn cái lợi mang lại. Hiện nay mọi sự phạt của chúng ta đều ở mức phạt hành chính và do đó phạt được xem như một loại chi phí cho quá trình kinh doanh chứ không phải là biện pháp tác động một cách sống còn đến sự tồn tại của một doanh nghiệp. Cho nên người ta sẵn sàng hạch toán tiền phạt. Vậy phải phạt thế nào để người ta không hạch toán nổi và phải có sự minh bạch thì hình phạt ấy mới có tác dụng khuyến dụ. Nếu xem phạt như một biện pháp hỗ trợ quá trình chống cạnh tranh không lành mạnh mà phạt người này, không phạt người kia thì chẳng có tác dụng gì cả. Tôi lấy ví dụ, nhiều chục năm trước hãng Lockheed Martin là một hãng rất lớn, chỉ vì họ dính đến một vụ hối lộ cho chính phủ Hàn Quốc mà họ gần như phá sản và trở thành một hãng sản xuất máy bay nhỏ. Gần đây do sự cải tiến, do sự vươn tới các công nghiệp quốc phòng khác, họ mới lấy lại được địa vị sau hàng chục năm. Cho nên, phải làm thế nào để sự trừng phạt liên quan đến sự tồn vong của một doanh nghiệp phạm luật chứ không phải để biến phạt thành một quá trình hạch toán của doanh nghiệp và quá trình tăng cường nguồn thu của nhà nước.

Hỏi: Theo ông, đóng góp của ngành tài nguyên trong một nền kinh tế thế nào là hợp lý?

Trả lời: Nó đóng góp bao nhiêu là tuỳ thuộc vào nhu cầu, vào khả năng chiến lược, khả năng lâu dài của nguồn tài nguyên, tuỳ thuộc vào việc đánh giá cái địa vị tương lai của tài nguyên. Có những loại tài nguyên mà cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ nó có thể không còn giá trị nữa thì phải khai thác nhanh. Nhưng với những tài nguyên có giá trị phát triển trong một tương lai phát triển công nghệ nào đó thì phải làm chậm quá trình khai thác lại. Vì thế cho nên Bộ Khoa học và Công nghệ mới có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này. Nhiệm vụ của Bộ Khoa học và Công nghệ là phải xây dựng các biểu đồ diễn biến giá trị của tất cả các loại tài nguyên mà chúng ta có.

Hỏi: Ở các nước khác, người ta có làm được việc ấy không?

Trả lời: Người ta luôn luôn phỏng đoán. Toàn bộ các quá trình khoa học trên đời này là phỏng đoán. Chúng ta đòi hỏi nó chính xác thì không được, nhưng phỏng đoán để chính phủ có căn cứ xây dựng chiến lược vĩ mô cho mỗi loại tài nguyên thì phải làm. Chúng ta không có công cụ khoa học để chính phủ có thể xây dựng chiến lược vĩ mô dài hạn cho mỗi một loại tài nguyên, vì thế chúng ta khai thác một cách hú họa theo nhu cầu thị trường trước mắt mà không có chiến lược.

Hỏi: Ông có nói rằng chưa bao giờ chúng ta khai thác tài nguyên một cách rầm rộ như giai đoạn hiện nay, tức là so với thời thuộc địa vẫn là hơn?

Trả lời: Đúng. Chúng ta khai thác trên qui mô lớn hơn nhiều so với thời thực dân, vì nhu cầu phát triển của chúng ta nhanh hơn nhiều, lớn hơn nhiều so với thời kỳ thực dân. Thời thực dân chưa ai nghĩ rằng phải khai thác cái bể than dưới lòng sông Hồng. Trong tương lai nếu chúng ta làm việc ấy là chúng ta có thể phá hoại toàn bộ nền văn minh sông Hồng, nhưng chúng ta vẫn phải nghĩ. Trong quá trình đang suy nghĩ thì những anh mau mồm mau miệng lại nói ra và gieo vào trong xã hội tất cả những mối lo lắng không đáng có. Chúng ta chưa kịp chứng minh với xã hội là làm như thế có lợi gì, có hại gì và giải quyết cái hại ấy bằng cách nào, thì chúng ta reo vang là chúng ta tìm được bể than sông Hồng và chúng ta nói ngay đến kế hoạch khai thác nó. Tức là chúng ta nhìn tất cả các con mồi cùng một lúc và nói to về khát vọng vồ mồi cùng một lúc, mặc dù có khi trên thực tế chúng ta chưa làm. Việc đó gieo một nỗi lo lắng không cần thiết cho xã hội. Chúng ta phải nói rõ với mọi người rằng chúng ta sẽ thăm dò xem thế nào. Chúng ta phải làm thử, khai thác thử rồi chúng ta mới có kết luận xem nếu đốt rỗng ruột toàn bộ cái châu thổ này thì nó thành cái gì. Chúng ta không nói như thế. Chúng ta chỉ nói đấy là một nguồn lợi, mà đã là một nguồn lợi thì lắm người nhòm ngó và người dân sẽ cảm thấy lo ngại. Hàng trăm, hàng nghìn suy đoán sẽ tạo ra sự phân vân, sự rối loạn không cần thiết.

Hỏi: Theo ông có cần xây dựng một chiến lược tài nguyên trong đó có tính đến cả chiến lược của các nước khác?

Trả lời: Tất cả các nền kinh tế thành công đều được xây dựng trên cơ sở đánh giá chiến lược của các thị trường liên quan. Mặc dù đến năm 1995, chính phủ Hoa Kỳ mới dỡ bỏ cấm vận và thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường, nhưng ngày từ năm 1985, nhiều công ty của Hoa Kỳ đã đến Việt Nam để nghiên cứu rồi. Năm 1987 tôi có làm việc với Citibank để nghiên cứu hợp tác với Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng luật cho các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Ông Cao Sĩ Kiêm có hỏi Phó Chủ tịch Ngân hàng Citibank là tại sao ông lại quan tâm đến Luật Ngân hàng Việt Nam. Ông ta trả lời rằng: "Trong thế giới hiện đại, bất kỳ bộ luật nào tương tự như thế này đều là ngôi nhà chung của tất cả các nhà kinh doanh, trong đó có chúng tôi. Chúng tôi quan tâm đến Luật Ngân hàng Việt Nam như là quan tâm đến việc thiết kế ngôi nhà mà chúng tôi sẽ sinh sống ở đó". Các quốc gia không chỉ quan tâm mà còn tham gia vào quá trình thiết kế các chương trình vĩ mô cho các loại hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của quốc gia khác.

Hỏi: Xét trên phương diện địa kinh tế của Việt Nam thì theo ông tài nguyên nào nên được chú ý trong dài hạn?

Trả lời: Có ba thứ nổi bật: dầu khí, đất đai và nước. Có một loại tài nguyên nữa là tài nguyên biển thì chúng ta đang có tranh chấp và phải nói rằng tiềm năng của lực lượng vũ trang của chúng ta chưa đủ mạnh để chúng ta có thể khai thác mà vẫn bảo vệ được sự yên ổn. Cho nên việc khai thác tài nguyên biển có lẽ phải đi chậm hơn và phải dựa trên cơ sở đánh giá chiến lược tài nguyên biển của các quốc gia lân cận. Đấy là loại tài nguyên có chất lượng đa quốc gia. Những loại tài nguyên như vậy buộc phải có chiến lược khai thác dựa trên chính sách đối ngoại và dựa trên sự đánh giá cả các chính sách đối ngoại của các quốc gia khác. Mỗi một loại tài nguyên phải có những chương trình khác nhau. Tài nguyên đất đai thì liên quan đến an ninh quốc phòng, liên quan đến lãnh thổ, đến sự cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp. Gần đây tôi có đọc một bài viết rằng vấn đề lương thực trở thành vấn đề chính trị của thế kỷ XXI, bởi vì vào những năm 40 của thế kỷ này, thế giới sẽ thiếu lương thực. Do sự khô hạn do sự dâng lên của mực nước biển thì diện tích canh tác toàn cầu sẽ co lại và do đó lương thực trở thành vấn đề chiến lược toàn cầu. Cho nên trong cân đối tài nguyên đất đai, đối với trong nước thì chúng ta phải cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp, cân đối khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và đô thị; đối với quốc tế thì chúng ta phải tính đến tình trạng khan hiếm lương thực của thế kỷ. Tài nguyên nước cũng là tài nguyên đa quốc gia, nó liên quan đến các quốc gia thượng nguồn, cho nên phải có chiến lược khôn khéo gắn chặt với chính sách đối ngoại. Chính sách đối ngoại không đủ sáng suốt, không đủ cương quyết, không đủ kinh nghiệm thì loại tài nguyên ấy sẽ trở thành tài nguyên phụ thuộc. Khi chúng ta trở thành nước phụ thuộc quốc tế về tài nguyên thì chúng ta sẽ dần dần trở thành quốc gia phụ thuộc, thậm chí dưới phụ thuộc. Ngay cả tài nguyên dầu khí cũng có tranh chấp. Nhìn chung, những tài nguyên có tính chất chiến lược đều vướng phải vấn đề đa quốc gia. Tài nguyên nước và tài nguyên dầu khí vướng một cách trực tiếp, còn tài nguyên đất đai thì vướng một cách gián tiếp vào vấn đề cân đối toàn cầu về tình trạng lương thực trong thế kỷ XXI. Cho nên, mọi tài nguyên có chất lượng chiến lược đều lệ thuộc vào chính sách đối ngoại, lệ thuộc vào tầm nhìn.

Qua các bạn, tôi đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ nên có một phác đồ mô tả toàn bộ diễn biến về giá trị kinh tế của tất cả các tài nguyên mà Việt Nam có để làm nền tảng cho chính phủ của chúng ta xây dựng chính sách vĩ mô một cách ổn định đối với mỗi một loại tài nguyên. Cái mà chúng ta có hiện nay mới chỉ là đánh giá thị trường, đánh giá sự dao động giá cả của các nguyên liệu trong ngắn hạn. Chúng ta không phỏng đoán được trong một quá trình 50 năm thì giá nguyên liệu ấy dao động thế nào, địa vị công nghiệp của từng loại nguyên liệu là như thế nào. Xây dựng chiến lược bán hàng 100 năm khác với xây dựng chiến lược 100 năm cho quá trình khai thác một loại tài nguyên.

Hỏi: Ở những nền kinh tế từng phải xuất khẩu tài nguyên do thiếu vốn, người ta thoát khỏi tình trạng đó như thế nào?

Trả lời: Phát triển khoa học công nghệ để tăng cường năng lực sản xuất ở trong nước và gia tăng giá trị của sản phẩm có nguồn gốc tài nguyên để xuất đi, đó là chiến lược của các quốc gia để ra khỏi tình trạng bán tài nguyên thô.

Cân đối lợi ích trong khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,