Triết học nước Pháp

Henri Bergson - Phạm Quỳnh dịchThượng Chi văn tập - Bộ Quốc gia Giáo dục (1962)
02:24' CH - Thứ bảy, 08/11/2014

Trong bài bàn về “văn minh học thuật nước Pháp”, đã có nói qua ít lời về triết học nước Pháp. Nhưng muốn biết rõ công nghiệp người Pháp về đường triết học, thời phải thuộc lịch sử triết học ở nước Pháp từ đầu Cận đại đến giờ. Những sách thuật về lịch sử ấy cũng nhiều, nhưng không sách nào vắn tắt mà đầy đủ, sáng suốt mà sâu xa bằng tập “pháp quốc triết học đại quan” (La philosophie francaise) của Henri Bergson. Ông là một nhà triết học trứ danh nhất trong thế giới bây giờ. Phàm người trí thức trong các nước, đều có chịu cảm hóa của tư tưởng ông. Vì học thuyết của ông chủ trương sự hoạt động phấn khởi, lấy cái sức sáng tạo biến hóa làm nguyên động lực của vũ trụ, thật là hợp với thời đại tư tưởng tự do này. Năm 1915, bộ Giáo dục nước Pháp muốn tham dự cuộc đấu xảo vạn quốc ở San Francisco bên Mỹ một cách đặc biệt, định biên tập một bộ sách kể công nghiệp nước Pháp trong các khoa học đời nay, đề là “Học thuật nước Pháp” (La Science francaise), gồm các nhà bác học trong nước, mỗi người chuyên thuật một khoa, người nói về giáo dục, kẻ bàn về xã hội, người này kể thiên văn học, người kia thuật địa chất học họp lại như bức gấm trăm hoa, tóm tắt được hết cái công phu học vấn của nước Pháp trong thế kỷ mới này. Phần “triết học” là thuộc về Bergson tự thuật, chính là tập “Triết học đại quan” này. Nay muốn giới thiệu triết học nước Pháp cho các học giả Việt Nam, tưởng không gì bằng lược dịch ra quốc văn tập sách này: muốn nhập môn khoa triết lý, không thầy nào đích đáng bằng.

***

I

Địa vị nước Pháp trong lịch sử tiến hóa của triết học đời nay thật là rõ ràng lắm: nước Pháp là nước có cái công khởi xướng rất lớn, các nước khác không phải là không có những nhà triết học đại tài, nhưng không đâu cái nguồn triết học được đều đặn liên tiếp bằng ở nước Pháp. Các nước khác hoặc nghiên cứu một lý tưởng sâu hơn, hoặc kết cấu những tài liệu khéo hơn, hoặc phát triển một phương pháp rộng hơn; nhưng thường thường lý tưởng ấy tài liệu ấy, phương pháp ấy, nguyên do tự nước Pháp đem lại cả. Đây không thể thuật được hết các học thuyết, kể được hết các tên người xưa đến nay. Phải lựa chọn nhưng điều cốt yếu và cố phân giải cho rõ những đặc tính của tư tưởng triết học nước Pháp. Phải xét vì đâu mà tư tưởng ấy có tài sáng tạo, có sức ảnh hưởng mạnh như thế.

Cả triết học cận đại bắt đầu tự Descartes. Học thuyết của ông không thể tóm tắt được: ngày nay khoa học triết học tiến được bước nào, xét trong học thuyết ấy lại rõ ra một phương diện mới thành ra học thuyết ấy ví như một công trình thiên nhiên, cứu xét không bao giờ cùng. Nhưng khoa giải phẫu học muốn xét một cơ quan hay một tổ chức nào trong thân thể người ta, phải cắt ra từng lớp một, vậy thì ta cũng bắt chước mà đem học thuyết của Descartes “giải phẫu” ra từng lớp, lớp nọ đến lớp kia, càng tiến càng sâu vậy.

Nay xét một lớp thứ nhất thì thấy gọi là cái “triết học những quan niệm rõ ràng phân biệt” (philosophie des idées claires et distinctes). Triết học này đã có công giúp cho tư tưởng đời nay thoát khỏi vòng độc đoán, biết lấy sự “phân minh” mà quan niệm về chân lý.

Xét xuống một lớp nữa mà suy nghĩ kỹ về nghĩa chữ “phân minh” thời thấy tựu trung có hàm hẳn một phương pháp về triết học. Descartes là nhà triết học, lại vừa là nhà số học nữa. Ông đã từng sáng nghĩ ra một phép kỷ hà học mới, ông rất tinh thông những phương pháp về số học. Phương pháp ấy ông muốn đem ứng dụng ra triết học, nên lấy sự rõ ràng đích xác làm cốt.

Lại xét sâu xuống một lớp nữa mà suy nghĩ kỹ về phương pháp số học ứng dụng ra triết học, thời thấy tựu trung lại gồm một quan niệm chung về vũ trụ. Cứ phương pháp ấy thì vũ trụ tức là một bộ máy lớn, vận động theo những phép tắc số học. Lý thuyết ấy thật là mở đường lối, đặt khuôn phép cho khoa lý học đời nay. Các nhà triết học về sau xướng lên những học thuyết thuộc về “cơ giới đích” chính là tổ thuật tư tưởng Descartes cả.

René Descartes (1596-1650)

Lại sâu một tầng nữa, dưới quan niệm về vũ trụ ấy thấy một quan niệm về linh tính người ta, tức Descartes gọi là cái “trí tư tưởng” của người ta. Ông muốn giải phẫu phân tích cái trí tư tưởng ấy ra từng phần tử phân minh, chính là mở đường cho các nhà triết học về sau như Locke, Condillac. Ông lại xướng lên rằng tư tưởng ấy vốn là thuộc về “tiên thiên”, vốn có từ trước, thế giới hiện tượng là thuộc về “hậu thiên” sau một phụ vào, thế giới ấy chẳng qua là tiêu biểu cho linh tính mà thôi. Chủ nghĩa duy tâm đời nay là phát nguyên tự đó, thứ nhứt là chủ nghĩa duy tâm của các nhà triết học Đức.

Sau nữa, trong cái thuyết về trí tư tưởng ấy, lại còn hàm có ý muốn đem sự tư tưởng tùy theo về ý chí. Bởi thế nên các phái triết học thuộc về ý chí về thế kỷ thứ 19 đều có liên lạc với triết học của Descartes cả. Cũng bởi thế mà có người cho triết học của ông là một triết học chủ tự do.

Xét như vậy thì Descartes thật là tị tổ cả các phái triết học đời nay. Lại xét về một phương diện khác thời tuy học thuyết của ông có giống ít nhiều với các học thuyết đời Cổ đại cùng đời Trung cổ, nhưng phần cốt yếu là tự sáng kiến của ông, không phải sở đắc ở cái thuyết ấy. Biot là một nhà số học lý học trứ danh, đã từng khen kỷ hà học của Descartes, nói rằng học của ông là cái học không tiền khoáng hậu.

II

Tuy triết học của Descartes là bao hàm cả các học thuyết đời nay, nhưng có chủ nghĩa duy lý là phần rõ rệt hơn cả, phàm tư tưởng triết lý về các đời sau đều lấy đó làm chốt. Song ngoài chủ nghĩa ấy, trong triết học đời nay còn có một tư trào nữa, thường bị chủ nghĩa ấy che lấp đi mất. Tư trào này là tư trào thuộc về “tình”, chữ “tình” đây phải hiểu theo nghĩa rộng của các nhà tư tưởng về thế kỷ thử 17 là nghĩa phàm cảm giác không cần phải suy lý, cứ trực tiếp mà biết. Tư trào “duy tình” ấy cũng là khởi nguyên tự một nhà triết học nước Pháp, như cái tư trào “duy lý” trên kia. Nhà triết học ấy là Pascal (1623-1662). Ông đề xướng một lối triết học không thuộc về lý tính mà thuộc về tâm tình. Ông cho rằng sự suy lý thường hay thiên về “tri khúc chiết” (esprit de géomérie), có cái tính cách số học, phải lấy “trí tinh nhuệ” (esprit de finesse) mà bổ cứu lại. Tuy nhiên, lối triết học ấy dẫu không phải là “duy lý”, nhưng cũng không phải là sự huyền tư mặc tưởng mơ hồ, vì những tư tưởng ấy vẫn có công hiệu rõ ràng, có thể tự kiểm điểm được. Như vậy thời Pascal quả chính là tị tổ các phái triết học lấy tình cảm làm chủ, cũng tức như Descartes là tị tổ các phái triết học lấy lý tính làm cốt. Phàm triết học đời nay là chia theo hai cái chủ nghĩa ấy đều phát nguyên tự nước pháp tiêu biểu bằng hai nhân vật trứ danh, là Descartes và Pascal.

Hai ông ấy đều phản đối cái lối siêu hình học của người Hi Lạp ngày xưa. Nhưng trí người Âu trong mấy mươi đời đã lấy cái học ý làm đồ ăn nuôi mình, không thể nhất đán bỏ ngay đi được. Triết học Hi lạp, nhất là triết học của Aristote là cái học duy nhất của đời Trung cổ. Đến đời Phục hưng, thịnh hành nhất cũng lại là triết học của Platon.

Vậy thời sau Descartes tất có người muốn điều hòa triết học của ông với triết học cổ điển của Hi lạp. Vả nhà triết học thường có khuynh hướng muốn tổ chức tư tưởng của mình thành “hệ thống”, mà học thuyết của Platon cùng Aritstote chính là hai “hệ thống” tuyệt phẩm, đời sau ai cũng phải lấy đó làm khuôn mẫu. Như vậy thì triết học cũ của người Hi lạp vẫn còn lợi dụng được nhiều. Bởi đó mà sau Descartes, nhà triết học Hà Lan Spinoza, nhà triết học Đức Leibniz; tuy phát minh được nhiều tư tưởng mới, nhưng đại để cũng là điều hòa triết học của ông với triết học của Aristote ngày xưa. Đặc tính của triết học nước Pháp vẫn là không hứng những công trình kết cấu lớn về siêu hình học, sau đây sẽ xét vì cớ gì; nhưng khi nào hứng thời tổ chức cũng chẳng kém gì triết học các nước. Xem như học thuyết của Malebranche thì đủ biết. Học thuyết này thật là một hệ thống hoàn toàn, chẳng kém gì các hệ thống của Spinoza hay là Leibniz. Tác giả cũng chủ điều hòa cái học của Descartes với cái học cũ của Hi Lạp. Nhưng cái lâu đài tư tưởng đã kết cấu nên thật là vĩ đại mà trang nghiêm.

Malebranche lại còn hơn các nhà kia là trong hệ thống của ông, không phải chỉ có một phần siêu hình học mà thôi, lại còn kiêm cả phần tâm lý học, đạo đức học rất đích đáng nữa, khiến cho dù bộ phận trên có không đủ tận tín, bộ phận dưới cũng vẫn còn có giá trị. Đó chính là một đặc sắc của triết học nước pháp; triết học nước Pháp dù có tổ chức thành hệ thống cũng không mắc cái tật độc đoán, không hề đem sự thực mà uốn nắn cố ép cho vào khuôn hệ thống của mình, thành ra những vật liệu dùng để dựng lên cái lâu đài lý tưởng, ngoài cái lâu đài ấy vẫn còn dùng việc khác được. Lâu đài ấy dù phá đi nữa, những mảnh còn lại cũng vẫn là hữu dụng.

III

Descartes, Pascal, Malebranche, đó là ba tên lớn trong triết học nước Pháp về thế kỷ thứ 17. Ba ông là ba bậc mô phạm chung của các phái triết học đã xuất hiện trong cận đại.

Về thế kỷ thứ 18, sức sáng tạo của triết học nước Pháp cũng vẫn mạnh như thế. Nhưng đây cũng không thể kể hết được. Chỉ thuật qua mấy học thuyết quan trọng nhất, cùng kể mấy tên chính mà thôi.

Ngày nay trong giới triết học mới bắt đầu biết đến công nghiệp của Lamarck (1744 -1829), ông là nhà bác vật kiêm triết học; chính ông đã khởi xướng ra cái thuyết tiến hóa (théorie de l’évolutiol) Chính ông là người trước nhất đã sáng nghĩ ra suy diễn đến cùng cái lý tưởng rằng các giống sinh vật là bởi giống nọ biến hóa mà thành ra giống kia. Nhà bác vật nước Anh Darwin sau này cũng đề xướng một thuyết như thế: nói vậy không phải là để giảm danh dự của Darwin đâu. Ông này tuy ra sau, nhưng đã có công nghiên cứu về thực tế kỹ hơn, nhất là đã có công phát minh ra lẽ “sinh tồn cạnh tranh” cùng phép “vạn vật đào thải”. Nhưng cạnh tranh cùng đào thải cũng là mới giải được cách biến đổi thế nào, chưa giải được cớ sở dĩ làm sao mà biến đổi, chính Darwin cũng phải chịu như thế. Trước Darwin, Lamarck đã từng giảng lẽ biến đổi các giống vật cũng phân minh như thế, mà lại cố tìm để giải nguyên nhân thế nào nữa.

Ngày nay có nhà bác vật lại trở về cái học cũ của Lamarck, hoặc để điều hòa cái học ấy với cái học của Darwin, hoặc để cải lương “Lạp học” (Lamarckisme) mà thay vào “Đạt học” (Darwinisme). Xem thế thời biết nước Pháp về thế kỷ thứ 18, bởi tay Lamarck đã cống hiến cho khoa học và triết học một nguyên tắc lớn để lý hội cái “thế giới hữu cơ”, cũng tức như về thế kỷ trước, bởi tay Descartes đã cống hiến cho khoa học và triết học một nguyên tắc lớn để lý hội cái “thế giới vô cơ” vậy.

Vả trước Lamarck, nước Pháp cũng đã có nhiều nhà bác vật như Buffon (1707-1788), Bonnet (1720-1793), nghiên cứu về các giống vật, về lẽ sinh hoạt, phát minh được nhiều điều mới lạ, tức cũng là mở đường sẵn cho Lamarck.

Đại để các học giả Pháp về thế kỷ thứ 18 là sưu tập tài liệu để cho thế kỷ sau dựng lên các học thuyết về vạn vật. Trên vừa nói thuyết tiến hóa tức là vấn đề về căn nguyên các giống vật. Còn vấn đề về sự quan hệ của tinh thần (l'esprit) với vật chất (la malière) cũng do các nhà triết học Pháp về thế kỷ thứ 18 khởi xướng lên. Tuy phần nhiều là thiên về mặt “duy vật”, nhưng cách biện thuyết phân minh tường tận, khiến cho muốn giải ra mặt khác cũng được. Nên nhớ mấy tên như La Mettrie (1709-1751) Cabanis (1757-1808) v.v...

Học thuyết của các nhà ấy thực là khai đường mở lối cho môn học mới gọi là tâm sinh lý học (psycho physiologie), phát đạt trong thế kỷ thứ 19. Nhưng không những một môn học mới ấy, chính ngay khoa tâm lý học cũng khai nguyên tự các nhà triết học Pháp về thế kỷ thứ 18 nhất là Condillac (1715-1780). Ông này tuy có chịu ảnh hưởng ít nhiều nhà triết học nước Anh Locke, nhưng chính Locke cũng đã chịu ảnh hưởng của Descartes trước.

Đây không nói đến triết học về xã hội, triết học này là thuộc về xã hội học rồi. Nhưng ai chẳng biết rằng nước Pháp về thế kỷ thứ 18 đã gây dựng ra khoa chính trị học khởi xướng lên những tư tưởng làm biến đổi cả xã hội. Montesquieu (1689 -1755), Turgot (1727-1781), Condorcet (1743-1794) nghiên cứu những lý tưởng về pháp luật, về chính thể, về sự tiến bộ của loài người, v.v..., Diderot (1713-1784), d’Alembert (1717-1783), La Mettrie (1709 -1751), Helvetius (1715-1771), d’Holbach (1723 -1789), thì chủ trương cái tư trào muốn lấy “lý” (la raison) mà hoán cải nhân loại, đưa nhân loại vào thời kỳ máy móc.

Nhưng mà thế lực mạnh nhất trong lịch sử tư tưởng nước Pháp từ Descartes đến giờ, thực là thế lực của Jean-Jacques Rousseau (1712-1778).

Ông gây nên cuộc biến cách trong cõi triết học thực tế cũng sâu và cũng mạnh bằng cuộc biến cách của Descartes trong cõi triết học thuần lý. Nhất thống các vấn đề, ông đều sát hạch lại cả. Phàm cái gì là ước lệ, là cựu truyền, là phương tiện của người ta đặt ra, ông phá đổ đi hết. Ông muốn gây dựng lại xã hội, cải tạo lại luân lý, sắp đặt lại phép giáo dục, sửa sang lại cả đời người theo một nguyên tắc thiên nhiên. Dù không chịu tư tưởng ông, cũng phải phục phương pháp của ông. Vì phương pháp ấy là thuộc về tình cảm, tức là phương pháp “duy tình” của Pascal khi xưa, nhưng đem đến cực điểm. Tuy tư tưởng của ông không dựng thành “hệ thống”, nhưng các nhà triết học về thế kỷ thứ 19, nhất là các nhà triết học Đức, đều chịu ảnh hưởng ông sâu xa lắm, không những triết học, đến mĩ thuật, văn chương cũng bị cảm hóa như thế. Công nghiệp ông về đường tư tưởng, thực là mỗi thời đại lại thấy xuất hiện ra một phương diện mới. Hiện nay ta vẫn còn kế thừa công nghiệp ấy.

IV

Ấy đại khái lịch sử triết học nước Pháp trong hai thế kỷ thứ 17 và 18 như vậy. Đó mới gọi là lược thuật qua loa thôi, không thể kể được hết nhà tư tưởng các phái, chỉ nói đến những người trứ danh nhất mà thôi. Thế mà cũng được bấy nhiều tên rồi. Đến thế kỷ thứ 19 này lại còn nhiều hơn nữa. Vì trong thế kỷ này, không có một văn sĩ Pháp nào là không có phần trong công triết học nước Pháp.

Hai thế kỷ trước là đề xướng ra các khoa học thuần lý cùng các khoa học thuộc về vật chất vô cơ như số học, trọng học, thiên văn học, vật lý học, hóa học thế kỷ thứ 19 này lại nghiên cứu thêm các khoa học thuộc về sự sinh hoạt nữa: không những sự sinh hoạt của vật chất hữu cơ, mà đến cả sự sinh hoạt của nhân quần xã hội nữa.

Về các môn đó, người Pháp cũng vẫn có công khởi xướng. Phương pháp để học là do người Pháp phát minh ra; một phần kết quả của sự học cũng là bởi người Pháp gây nên. Hai học giả trứ danh nhất trong thời kỳ này là Claude Bernard (1813-1878) và Auguste Comte (1798-1857).

Claude Bernard có làm một bộ sách đề là “Thực nghiệm y học tổng luận” (Inlroduclion à la médecine expérimetable: sách ấy đối với các khoa học thực nghiệm, giá trị cũng chẳng kém gì sách “Phương pháp luận” (Dis cours de la méthode) của Descartes đối với các khoa học thuần lý. Tức là sách một nhà sinh lý học đại tài tự hỏi mình về phương pháp học của mình, lấy sự kinh nghiệm riêng mà đặt thành phép tắc để giúp cho việc thí nghiệm nghiên cứu về sau. Sự thí nghiệm về khoa học như Claude Bernard đã định như thế, thực là một bài vấn đáp của người ta với tạo vật. Người ta hỏi tạo vật thế này, tạo vật đáp lại thế kia, khiến cho người ta lại phải hỏi ra thế khác, tạo vật cũng lại đáp ra thế khác nữa, càng hỏi càng kỳ, càng đáp càng lạ, vấn đáp vô cùng. Vậy thì khoa học không phải là sự thực, cũng không phải là tư tưởng; khoa học là tư tưởng của người ta cùng với sự thực của tạo vật giúp lẫn nhau mà làm nên, cho nên bao giờ cũng chỉ là tiêu biểu cho hiện tượng mà thôi. Điều cốt yếu trong học thuyết của Claude Bernard là cho rằng “lý” của người ta với “lý” của tạo vật thực là cách xa nhau lắm (1). Về phương diện ấy thì ông chính là khai đường mở lối cho cái triết học “duy thực” (pragmatisme) ngày nay.

Auguste Comte 1798-1857

Sách “Thực tiễn triết học” (Cours de Philosophie positive) của Auguste Comte là một công trình lớn lao trong triết bọc đời nay. Từ ông Comte phát ra cái lý tưởng rằng các khoa học phải có trật tự, bắt đầu từ số học mà cùng tận đến xã hội học thì lý tưởng ấy đã thâm nhập vào trong trí não người ta mà thành một chân lý tuyệt đối. Tuy cái xã hội học của ông có một đôi chỗ ngày nay có thể biện bác được, nhưng ông thực là đã có công sáng tạo ra môn học ấy. Ông đặt cho nó có chương trình, có phạm vi nhất định để người sau cứ thế mà theo. Ông cũng là một nhà cải cách trong tư tưởng như Socrate ngày xưa, cũng lấy câu của Socrate: “Phải tự biết lấy mình” (Connais toi toi même) làm châm ngôn, nhưng không dùng câu ấy đối với cá nhân, mà lại dùng đối với xã hội, cho rằng mục đích tối cao của sự học vấn, nhất là của triết học là phải nghiên cứu cho biết cách người ta ăn ở trong xã hội thế nào. Ông tuy chủ trương cái triết học gọi là “thực tiễn chủ nghĩa” (positivisme), tuy tự xưng là phản đối mọi sự học vấn siêu hình, nhưng tâm hồn trí não ông thực là tâm hồn trí não một nhà siêu hình học, đời sau cho ông đã phá đổ thần thánh các tôn giáo cũ là chỉ để lập ra một tôn giáo mới, đặt ra một vị thần mới, là thần “Nhân loại”. Ông yêu mến sùng trọng loài người đến thế là cùng.

Mới xét thì tưởng triết học của Renan (1823-1892) không giống gì với triết học Auguste Comte. Nhưng thực ra thì Renan cũng một lòng thờ nhân loại như Auguste Comte, duy thờ ra một cách khác thôi. Ông cảm hóa người đương thời một cách rất đằm thắm và rất sâu xa, là bởi nhiều lẽ. Một là bởi văn chương ông tuyệt phẩm, văn chương ấy không biết có còn gọi là văn chương được nữa không, vì đọc câu văn tựa hồ như quên cả rằng trong văn có dùng đến lời đến chữ, mà tưởng như tư tưởng của tác giả tự rót vào tư tưởng của ta vậy. Lại chủ nghĩa lạc quan về lịch sử của ông cũng thích hợp với thế kỷ thứ 19 này, là thế kỷ đã khôi phục và mở mang các khoa học về lịch sử. Ông cho lịch sử là biên chép cái công tiến bộ của loài người, sự tiến bộ ấy từ xưa đến nay không bao giờ dứt, mà từ nay đến sau cũng không bao giờ cùng. Ông lại cho rằng sử học có thể đem thay vì triết học, thay vì tôn giáo được. Bởi thế mà ảnh hưởng ông trong thế kỷ thứ 19 này thực là sâu xa vô cùng.

Còn một nhà triết học nữa, ảnh hưởng trong nước Pháp cũng mạnh bằng Renan, mà ngoài nước Pháp có lẽ lại mạnh hơn nữa. Nhà triết học ấy là Taine (1828-1893). Ông giốc lòng tin sự học vấn, nhất là các môn học về người ta. Ông muốn đem phương pháp của vật lý học mà dùng để nghiên cứu những sự nghiệp của loài người, như văn chương, mĩ thuật, lịch sử. Ông lại cảm hóa cái học của các tiền triết nhiều, cũng tin lẽ tất nhiên trong vũ trụ như Spinoza, tin sức tư tưởng của người ta như Aristote và Platon ngày xưa. Như thế thì ra ông cũng thiên về siêu hình học cũ. Nhưng ông hạn chế cái siêu hình học ấy trong vòng nhân loại cùng những công việc của loài người mà thôi. Học thuyết của ông không giống học thuyết của Auguste Comtee, như học thuyết Renan. Thế mà người ta thường liệt ông vào phái “thực tiễn” cũng như Renan, không phải là không có lẽ. Vì cái “triết học” thực nghiệm tuy có thể định nghĩa ra nhiều cách được, nhưng rút lại cũng chỉ là một quan niệm về vũ trụ lấy người ta làm trung tâm. Như vậy thì dù Auguste Comte, Renan, hay Taine cũng cùng một quan niệm ấy cả, nên tuy không giống nhau mà đều có thể cho là thuộc về phạm vi triết học thực tiễn cả.

Trở lên đã xét hai phương diện triết học về sinh vật và triết học về xã hội trong thế kỷ thứ 19, thấy phần nhiều là bởi công người Pháp gây dựng ra. Ngoài hai môn học ấy, còn có một môn nữa, riêng cho thế kỷ thứ 19 này, là tâm lý học. Không phải rằng các thời đại trước, nhất là ở Pháp, Anh cùng Ecosse, không đã từng có nhiều nhà tâm lý học sâu sắc. Nhưng mà sự quan sát về nội tâm người ta, từ xưa đến nay chỉ chủ xét những trạng thái thường mà thôi, nên chưa vào sâu được trong tâm giới, nhất là vào cõi xa xôi u ám gọi là cõi “tiềm thức” (subconscience).

Đến thế kỷ thứ 19, tuy vẫn còn giữ những phương pháp quan sát cũ về nội tâm, nhưng lại dùng thêm hai phép nữa: một là phép đo lường của các nhà thí nghiệm, hai làm phép chẩn đoán của các nhà bệnh học để nghiên cứu những biến trạng trong tâm tính. Trong hai phép ấy thì phép đo lường dùng ở nước Đức nhiều hơn; tuy cũng là một phương pháp hay, nhưng thật không ích lợi cho sự học mấy. Đến như phép chuẩn đoán về bệnh học thì hiện thanh hiệu được nhiều lắm, có lẽ sau này còn có kết quả nhiều hơn nữa. Phép ấy khởi nguyên tự nước Pháp, mà cũng thịnh hành nhất là ở nước Pháp. Xướng ra trước tự mấy nhà y học chuyên môn bệnh thần kinh về đầu thế kỷ thứ 19, đến Moreau de Tours mới thành hẳn một biệt phái về tâm lý học. Tự bấy giờ ở nước Pháp vẫn có những danh sư chuyên trị về khoa ấy, hoặc là nhân bệnh học mà chuyển sang tâm lý học, hoặc là nhân tâm lý học mà đổi ra học các bệnh thuộc về tinh thần. Có mấy nhà trứ danh nên ghi nhớ là Charcot, Ribot, Pierre Janet, Georges Dumas.

V

Triết học nước Pháp về thế kỷ thứ 19 chia ra hai phần. Một phần mới thuật đó là chuyên chú về mặt sinh lý cùng tâm lý. Còn một phần nữa vẫn kế thừa học thống các đời trước mà lấy vạn vật, linh tính người ta làm mục đích cho sự tư tưởng.

Về đầu thế kỷ thứ 19, nước Pháp đã có một nhà siêu hình học lỗi lạc nhất tự đời Descartes, cùng Malebranche đến giờ: Maine de Brian (1766-1824). Học thuyết của ông khi mới xuất hiện không có mấy người biết, nhưng từ đấy đến nay ảnh hưởng mỗi ngày một rộng thêm ra. Cái đường lối ông đã mở ra có lẽ chính là đường lối của siêu hình học tất phải đi đến. Người ta thường gọi ông là “ông Kant của nước Pháp”, nhưng tư tưởng của ông thật là trái với tư tưởng nhà triết học Đức. Nhà triết học Đức cho rằng trí tuệ người ta không thể tới cõi tuyệt đối; ông thì nói rằng trí tuệ người ta có thể tới được cõi tuyệt đối được, nên lấy tuyệt đối làm mục đích cho tư tưởng mình. Như khi người ta gắng sức làm việc gì, biết rằng mình gắng sức, biết rằng sự gắng sức ấy ở mình mà ra, thế thì sự biết ấy không phải là sự biết thường, chính là một sự biết đặc biệt, vì không phải biết cái hiện tượng ở ngoài là sự gắng sức, mà biết cái chân tưởng ở trong là cái tự đó mà sinh ra gắng sức; chân tướng ấy tức Kant gọi “bản thể” (la réalité en soi) mà nói rằng người ta không bao giờ biết được. Nói rút lại thì siêu hình học của Maine de Brian là muốn cho trí tuệ người ta càng ngày càng xét sâu trong cõi “nội tâm”, tất thấy càng ngày càng tự cao minh lên, cho đến đạt tới cõi “tuyệt đối” của trời đất. Ông phát ra tư tưởng ấy, suy diễn cho đến cùng, không phải chỉ chủ tâm lập thành một học thuyết, xây lên một cái lâu đài lý tưởng mà thôi.

Maine de Biran (1766-1824)

Muốn nghiệm xem cái học của Maine de Biran có giống cái học của Pascal không, thì xét ngay học thuyết của Ravais-son là người vừa tổ thuật Pascal, vừa kế thừa Maine de Brian, lại vừa ham triết học cổ, mỹ thuật cổ của Hi lạp, thật là một mình gồm cả tư tưởng của mấy thời đại. Xem đó thì biết các nhà triết học Pháp, tuy mỗi người vẫn có một học thuyết riêng, nhưng không phải là không thừa tiếp một cổ điển trong nước, kế thiệu một học thống từ xưa. Như Descartes tuy là phản đối triết học cổ đại, nhưng chính cái học của ông vẫn có điều độ, có trật tự, là hai đặc tính của triết học cổ Hi lạp. Ravaisson cũng là người đã biểu dương phát triển cái phần mĩ thuật cổ điển trong triết học nước Pháp. Chính ông này đã xướng lên một cái triết học riêng lấy bằng phàm sự vật càng đẹp bao nhiêu càng gần với chân lý bấy nhiêu, thật là tổ thuật cái tư tưởng mĩ thuật của người Hi-lạp đời xưa.

Đọc đến tên ông Ravaisson, không thể quên được tên ông Lachelier; ông cũng là một nhà tư tưởng trứ danh, có ảnh hưởng trong thế kỷ thứ 19. Giữa hồi Victor Cousin (1792-1867) xướng chủ nghĩa triết trung (éclectisme), muốn điều hòa các phái mà làm cho ngưng trệ cái nguồn tư tưởng của nước pháp trong mấy mươi năm, nhờ có ông xuất hiện ra mà đánh thức cái hồn triết học ở các học đường trong nước. Bài luận văn tiến sĩ của ông đề là “Bàn về căn bản của phép qui nạp” (Sur le fondement de l’induction), thực là một bộ sách tuyệt tác. Học thuyết của ông tuy xưng là kế thừa ông Kant, nhưng thực ra ngoài “duy tâm luận” (idéalisme) của Kant, còn mở đường cho một “thực thể luận” (réalisme) lối mới, hơi giống như “bản thể luận” của Maine de Brian. Lachelier lại là một nhà dạy học có tài; đã lấy tư tưởng cao mà rèn đúc được bao nhiêu học trò, nhờ ông sau này nổi tiếng cũng nhiều.

Boutroux thời xướng ra cái thuyết rằng phàm người ta gọi là “phép của tạo vật” ấy cũng thuộc về “tương đối” mà thôi (contingence des lois de la nature), không có tính cách tuyệt đối, nghĩa là không phải nhất định, tùy sự ngẫu nhiên mà thay đổi. Một nhà số học đại danh là Henri Poincaré tuy thuyết minh ra cách khác mà cũng kết luận như vậy. Ông nói rằng thần trí ta cứ muốn đặt phép tắc cho vũ trụ, nhưng mà chính ta, chính cái học của ta cũng không theo được phép tắc ấy, vì chính ta, chính cái học của ta đều không có tính cách gì tuyệt đối nhất định cả. Trong phái này còn có Milhaud, Edouard le Roy nữa. Học thuyết của Edouard le Roy có khuynh hướng về đạo đức tôn giáo.

Đến như Liard thì muốn điều hòa cái học siêu hình với cái học thực nghiệm khiến cho tư tưởng người ta được quân bình. Fouillée cũng theo một tôn chỉ như thế. Ông là nhà tâm lý học, xã hội học, lại vừa là nhà luận lý có tài, đã từng xướng ra một cái thuyết gợi là “ý lực thuyết” (théorie des idées forces), lấy rằng phàm lý tưởng thâm thiết đều tự nó có sức mạnh thực hành ra được. Sự học của ông rộng lắm, không có một vấn đề nào thuộc về lý tưởng hay thuộc về thực tế mà ông không từng xét đến, phát minh được nhiều ý kiến mới lạ. Học trò ông là Guyau lại là một nhà tư tưởng đại tài. Guyau lập thuyết rằng người ta phải phát triển cái sức sinh hoạt trong người cho cực hoàn toàn, thời tự nhiên đến được cõi tuyệt phẩm trong đạo lý.

Mấy nhà ấy là những nhà triết học cận thời. Nay gọi là kể qua mà thôi, không thể nói về mỗi nhà cho tường tận được. Trong thế kỷ thứ 19 còn hai nhà trứ danh nữa chưa kịp nói đến là Renouvier và Cournot.

Renouvier thời khởi điểm tự chủ nghĩa phê phán (criticisme) của Kant, rồi tiến lên mãi mà kết luận đến nghĩa tự do, dựng ra một nền luân lý rất có ảnh hưởng đến tư tưởng đương thời.

Cournot thì bắt đầu tự số học, rồi đặt ra một chủ nghĩa phê phán lối mới, khác với Kant vì lối này vừa xét cả hình, và xét cả chất của trí thức, nghĩa là cả phương phép, cả kết quả của sự học nữa. Nhờ chủ nghĩa phê phán ấy mà ông đã phát minh ra được nhiều tư tưởng mới lạ sâu sắc, thực có thể liệt vào bậc các nhà triết học đại danh đời nay.

Sau hết cũng nên nói mấy lời về triết học của tác giả bài này (tức là ông Bergson). Tác giả có soạn sách “Sáng tạo đích tiến hóa luận” (l' Evolution créatrice) muốn đem siêu hình học vào trường thực nghiệm, vừa dùng thực học vừa dùng ý thức, vừa dùng cái sức trực giác (intuition) của người ta để mong dựng nên một nền triết học mới, có thể 1ý hội được vừa các 1ý tưởng phổ thông, vừa những sự là thực đặc biệt. Triết học mà được như thế thì cũng đích xác bằng khoa học, chẳng kém gì; cũng mỗi ngày một tiến lên như khoa học, mỗi ngày thêm những kết quả mới vào kết quả cũ đã tính. Nhưng triết học ấy còn có một mục đích nữa, bởi đó mà phân biệt với khoa học, là muốn cho trí biết người ra mỗi ngày một rộng thêm ra, phá cả lề lối khuôn phép sẵn mà khuếch trương mãi ra, khiến cho tư tưởng người ta có thể bồng bột đến vô cùng.

IV

Nay đã lược thuật các nhà triết học pháp, cốt tiêu biểu là phần mới lạ trong học thuyết của mỗi nhà, cho biết mỗi người đã cống hiến cho cái công tư tưởng chung của nhân loại được những gì. Bây giờ lại thử xét xem các nhà ấy có những tính cách gì giống nhau, những tính cách ấy gồm lại tức là phần đặc sắc của triết học nước Pháp.

Tính cách rõ rệt hơn cả là đọc sách vở các nhà ấy thấy lối văn thật giản dị. Trừ về nửa sau thế kỷ thứ 19, trong một khoảng hai ba mươi năm, có mấy nhà triết học chịu ảnh hưởng ở ngoài, dùng một lối văn kỳ khu trắc trở, thực là trái với đặc tính sáng sủa của quốc văn, còn thì suốt triết học nước Pháp từ xưa đến nay vẫn lấy một điều này làm tôn chỉ, là không có một lý tưởng nào, dù sâu sắc, dù nhiệm màu đến đâu mà lại không thể đem ra diễn bằng lời nói thường của mọi người được. Nhà triết học Pháp không phải chỉ làm sách cho một hạng chuyên môn xem: thực là muốn nói cho cả mọi người đều hiểu. Muốn thấu triệt căn để tư tưởng của các bậc ấy, cố nhiên phải là nhà triết học, tay bác học mới được; nhưng muốn đọc được những sách cốt yếu của các bậc ấy để lấy bổ ích cho tư tuởng riêng của mình, thì phàm người học thức là có thể hiểu được. Mỗi khi các bậc ấy phải dùng lời văn mới để diễn tư tưởng mới, thì không như ở các nước khác đặt ra những danh từ riêng, cách đặt chữ mới ấy chẳng qua là dùng những tiếng còn sống sượng để chỉ những tư tưởng còn mập mờ, nhưng lấy những tiếng thông thường mà khéo xếp đặt thành ra nghĩa mới, khá diễn được những tư tưởng thâm trầm huyền diệu. Bởi thế mà nhưng danh gia như Descartes, Pascal, Rousseau kể đại khái mấy nhà đó thôi dù nghiên cứu lý tưởng (như Descartes), hay dù dào dạt cảm tình (như Pascal, Rousseau), thực đã có công to với quốc văn, giúp cho tiếng Pháp được thêm sắc xảo mạnh mẽ ra. Vì một tư tưởng nẩy ra trong trí não tất phải phân tích ra cực tinh vi, mới có thể phô diễn ra bằng lời nói được. Các nhà triết học Pháp, kẻ ít người nhiều, đều có tư cách riêng biết phân tích tư tưởng như thế cả.

Tư cách ấy cũng tức là một đặc tính của triết học pháp từ xưa đến nay.

Những lời văn mới là hình thể ở ngoài, xét đến cốt cách ở trong thì thấy triết học Pháp còn có những đặc tính khác nữa như sau này:

- Trước hết triết học Pháp bao giờ cũng có quan hệ mật thiết với các khoa học thực nghiệm. Ở các nước khác thi thảng hoặc có nhà triết học kiêm khoa học, hay nhà khoa học kiêm triết học, nhưng những người như thế, thực là ít lắm, họa may mới có một đôi người, như ở nước Đức, tuy có ông Leibniz vừa là nhà đại triết học vừa là nhà số học có tài, nhưng xét ra sự tiến hóa của triết học Đức trong tiền bán thế kỷ thứ 19 không có quan hệ gì với các khoa học thực nghiệm khác. Triết học nước Pháp thì không thế; triết học với khoa học vẫn là liên tiếp với nhau, nương tựa lẫn nhau. Như trong học thuyết của Descartes, phần triết học với phần số học thực đã hóa hợp với nhau, khó phân biệt được kỷ hà học của ông là bởi siêu hình học mà ra, hay là siêu hình học của ông là bởi kỷ hà học mà ra, Pascal thì nguyên là nhà số học tuyệt luân, nhà lý học đại tài, rồi mới thành nhà triết học lỗi lạc. Triết học Pháp về thế kỷ thứ 18 phần nhiều là châu tuần trong phạm vi số học, lý học, y học (như d’Alembert, La Mettrie, Bonnet, Cabanis, v.v...) Về thế kỷ thứ 19, mấy nhà đại tư tưởng như Auguste Comte, Cournot, Benouvier v.v... cũng là xuất thân số học rồi mới đến triết học. Henri Poincaré thì thực là một tay số học tuyệt luân. Lại Claude Bernard đã dựng ra triết học về phép thực nghiệm chính là người sáng lập ra khoa sinh lý học. Đến những nhà triết học trong thế kỷ mới rồi, chỉ chuyên quan sát về nội tâm người ta, cũng thấy thường tham bác các khoa thực học khác, như sinh lý học, thần kinh bệnh học v.v... để chứng nghiệm không phải học những sự huyền ảo vô bằng. Maine de Biran là người khởi xướng ra phép nội quan cũng thấy chuộng thực học như thế. Nói rút lại thì ở nước Pháp triết học với khoa học rất có liên lạc với nhau, đó là một sự thường từ xưa đến nay; tức cũng lại là một đặc tính của triết học Pháp.

- Còn một tính cách nữa, tuy không phải riêng cho triết học nước Pháp, nhưng rõ ràng hiển nhiên hơn ở các nước, là tính chuộng tâm lý học, ưa quan sát về nội tâm người ta. Một tính đó, chắc chưa đủ tiêu biểu được học thống nước Pháp, vì cái tư cách biết tự cứu xét tâm tính mình, rồi nhân cứu xét tâm tính người, thì người Anh người Mỹ cũng có bằng người Pháp, nhưng ví so sánh với các nhà triết học Đức, thì thấy các nhà ấy, dù những danh gia (như Leibniz, Kant), cũng chưa từng thấy sở trường về tâm lý, họa chỉ là trừ một Schopenhauer là nhà thuần lý học mà có kiêm cả tâm lý học nữa. Đến như các nhà triết học Pháp, thì không có một bậc đại danh nào là không tỏ tường về khoa tâm lý. Chẳng cần phải nói ai cũng biết trong sách Descartes, Malebranche có lắm đoạn nghiên cứu về tâm lý rất tinh vi, xen lẫn với những đoạn thuyết lý về siêu hình rất màu nhiệm. Lại xem như Pascal, dù nghiên cứu về vật lý số học, triết học, hay quan sát những chốn u ẩn trong tâm tính người ta, cũng là sáng suốt mà sâu sắc cả. Con dillac thì vừa là nhà luân lý học, vừa là nhà tâm lý học. Đến những bậc như Rousseau, Maine de Biran thì đã là những tay phá thiên hoang về tâm lý, sáng tạo ra các phương pháp nội quan. Suốt thế kỷ thứ 17, 18, cái công của triết học Pháp cứu xét về nội tâm người ta, thực là mở đường sẵn cho các khoa tâm lý thực nghiệm về thế kỷ thứ 19 sau này. Đến thế kỷ ấy nữa, những nhà có công gây dựng ra các khoa ấy cũng là người Pháp cả (như Moreau de Tours, Charcot, Ribot). Vả phương pháp của các nhà ấy, chính nhờ phương pháp ấy, tâm lý học đời nay mới phát minh được nhiều điều quan trọng cũng là do phép nội quan của các tiền triết suy rộng ra mà thôi. Vì phàm tâm lý học bao giờ cũng phải dùng đến “ý thức” là cái trí biết của người ta, nhưng tâm lý học ngày nay khác xưa là không những xét người ta khi bình thường mạnh khỏe, mà xét cả trong khi bệnh trạng nữa, để biết cái tâm lý lúc biến, lúc thường thế nào.

Đó là hai đặc tính cốt yếu của triết học nước Pháp.

Hai đặc tính ấy điều hòa với nhau mà gây cho triết học Pháp một cái hình dung riêng. Nhờ đó mà triết học Pháp thu gồm được cả cái chân tướng bề ngoài là chân tướng của vật lý học cùng cái chân tướng bề trong là chân tướng của tâm lý học. Cũng bởi đó mà triết học Pháp không ưa kết cấu tư tưởng thành “hệ thống” cho chủ nghĩa độc đoán cùng chủ nghĩa phê bình của triết học Đức là những lý thuyết sai lầm quá đáng cả. Không phải rằng người pháp không có tài kết cấu khéo. Nhưng các nhà triết học Pháp dường như tự nghĩ rằng cái công tổ chức học thuyết thành hệ thống không có gì, vì lấy một lý tưởng suy cho đến cùng tưởng cũng dễ lắm, khó ấy là biết suy đến đâu là nên thôi, đi đến đâu là nên rẽ, mà biết thế thì tất phải nghiên cứu sâu các khoa thực học, tiếp xúc luôn với cõi thực tế mới có thể được. Pascal đã từng nói người ta có một cái “trí khúc triết” (esprit géomestrique) không đủ, nhà triết học phải có thêm cái “trí tinh nhuệ” (esprit de finesse) nữa mới được. Descartes là nhà siêu hình học lỗi lạc như vậy cũng tự nói bình sinh không có để tâm chuyên trị về siêu hình học, là có ý nói không có dụng tâm về việc tổ chức, kết cấu trong lý tưởng, việc ấy là tự nhiên nó thành, hoặc giả nói: triết học mà không dựng thành “hệ thống” thì chẳng phải là sai mục đích ư? Vì mục đích của triết học tức là bao gồm, thống nhất cả sự thực.

- Xin đáp rằng: triết học bao giờ cũng chủ sự thống nhất. Duy chỉ không nên dùng lối thường, là cái lối lấy một lý tưởng tiêu biểu lên, làm như cái khung cái khuôn, rồi miễn cuỡng thu cả sự vật vào trong đó, gọi thế là một hệ là thống, không biết rằng mình lấy lý tưởng ấy, người ta cũng có thể lấy 1ý tuởng khác đối lại được, mà cứ dùng cách đó cũng dựng thành một học thuyết có hệ thống chẳng kém gì; hai học thuyết có thể đem ra đối nhau vô cùng, khó phân biệt được phải trái, vì không bằng cứ vào đâu mà kiểm điểm được. Như vậy thì triết học thành một trò du hí, một cuộc không đàm, một đám những nhà thuyết lý ngồi cãi xuông với nhau, không bổ ích gì. Lại phải biết rằng lý tưởng là một phần tử của trí thức người ta, mà trí thức người ta cũng lại là một phần tử của toàn thể vũ trụ; lấy một bộ phận của một bộ phận, gồm sao được toàn thể sự vật? Thống nhất sự vật là một việc khó khăn, lâu dài và phiền phức: trí tư tưởng của người ta không phải là đem chân tướng mà rút lại cho vừa khuôn một lý tưởng riêng của mình, nhưng phải tự khuếch trương ra cho mỗi ngày gồm được một phần to hơn trong chân tướng. Nhưng muốn được thế, phải công phu tích lũy trong mấy mươi đời. Hiện nay, chức vụ của mỗi nhà triết học là phải gây lấy một quan niệm về vạn vật ; trong quan niệm ấy, có thể đúng được một vài phần, còn ngoại giả là tạm thời giả thiết cả mà thôi. Quan niệm đó muốn gọi là một “hệ thống” cũng được, nhưng nguyên tắc của nó không thể nhất định được, phải là một nguyên tắc nhất định, phải là một nguyên tắc uyển chuyển, có thể khuếch trương đến vô cùng được. Thiết tưởng tôn chỉ của triết học Pháp là thế. Tôn chỉ ấy mãi đến sau này mới công nhiên phát biểu ra. Nhưng sở dĩ xuất hiện chậm thế, chính là bởi có mật thiết với tinh thần nước Pháp, mà tinh thần nước Pháp thì vốn uyển chuyển hoạt động, không có tính cách cứng cỏi như cái máy vô hồn; tinh thần ấy lại có tính “vị tha” nữa, không ưa những công cuộc kết cấu riêng của từng người mà chỉ vị công lý công nghĩa cả loài người.

Bởi mấy tính cách vừa kể đó mà triết học Pháp tự xưa đến nay vẫn có tài sáng nghĩ, sáng tạo ra tư tưởng mới. Bởi triết học Pháp xưa nay bao giờ cũng dùng lời nói thường của mọi người, nên không thành ra như cái độc quyền của một phái chuyên môn ; người thường ai cũng có thể kiểm xét, nên không thể cách tuyệt với cái tri thức thông thường trong xã hội. Nhà triết học lại thường là nhà tâm lý, sinh lý, vật lý, số học, nên triết học vẫn liên tiếp với thực học, mà không cách biệt với việc đời. Vì không xa cách với việc đời, thường liên tiếp với thực học không cách tuyệt với tri thức thông thường, nên triết học ấy thường được dồi dào phong phú; cũng vì thế mà khỏi thành một món không đàm cho các cao sĩ lấy lý tưởng siêu hình mà kết cấu lại thế giới hữu hình. Nhưng nếu triết học Pháp đã tẩm thấm tinh thần nước Pháp mà sinh hoạt được thì chẳng là tinh thần ấy cũng có khuynh hướng riêng về đường triết lý dư? Thực thế, ở nước Pháp, không có mấy nhà bác học, nhà văn học, nhà mỹ thuật là chỉ chăm chăm về phần hình thức của nghề mình, không biết quan niệm về nghề ấy để lập thành một “triết học” riêng của mình. Cử quốc đều có tính ham chuộng triết lý: phàm nghị luận việc gì, dù việc buôn bán nữa, cũng bàn cao lên đến nguyên lý nguyên tắc của nó. Cái tính hiếu triết học đó thực là tiêu biểu cho tính tình cao thượng của người Pháp, chỉ ưa những nghĩa lý công minh chính đại ở đời. Như vậy thì hồn nước Pháp với hồn triết học tất có thanh khí với nhau, không phải không.

(Dịch theo Pháp văn của H. Bergson 1918)

(1) Người ta thường tự cao tưởng rằng lấy lý tính của mình mà quán thông được cả sự vật, không biết rằng tạo vật cũng có lý của tạo vật, có cần gì đến cái lý của người ta. Người ta phải tùy theo sự thực của tạo vật, tạo vật chưa từng tuỳ theo tư tưởng của người ta bao giờ. Nên các nhà thực học không thể dự tưởng về sự vật, chỉ đợi cho sự vật phát hiện rồi nhân đấy mà suy diễn ra thôi. Lấy lý suy mà nói rằng trời tròn hay trời vuông thì trời đất có hề chi, trời đất không có bao giờ theo ý của ta mà đường tròn hóa ra vuông, đường vuông hóa ra tròn được. Cho nên nói người với lý trời không giống nhau là thế. Người ta cho lý của mình phải là khi nào nó tiện cho mình đó mà thôi.

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,