Tổng quan triết học Hegel (Kỳ 3)

Lê Tử Thành
05:27' CH - Chủ nhật, 08/07/2018
Kỳ trước:

.

II. Bàn về mấy vấn đề chủ yếu

Chúng ta sẽ chọn bàn mấy vấn đề chủ yếu sau đây trong triết học Hegel: Luận lý biện chứng, tương quan chủ - nô và quan niệm của Hegel về nhà nước.

.

1. Logic biện chứng (Logique dialectique)

Nếu chúng ta đã từng làm quen với logic hình thức của Aristote thì nay với Logic hình thức của Hegel có lẽ chúng ta không khỏi ngỡ ngàng. Bởi vì logic hình thức đặt nền trên nguyên lý đồng nhất (A là A) và tối kỵ mâu thuẫn (A không thể là phi A). Trái lại Logic biện chứng coi mâu thuẫn là điều kiện của mọi tiến bộ trong vũ trụ. H. Lefèbvre so sánh hai thứ Logic như thế này:

Logic học hình thức khẳng định: “Một mệnh đề chỉ có thể đúng hoặc sai”. Còn Logic biện chứng nới rộng ra và quyết: Nếu mệnh đề kia nhằm đến một nội dung cụ thể thì nó sẽ không đúng mà cũng không sai. Tất cả các mệnh đề có nội dung cụ thể đều vừa đúng vừa sai. Nếu ta nhận rằng nó có thể đổi ra khác, có thể bị vượt qua thì nó đúng; còn nếu ta bảo nó đúng một cách tuyệt đối thì nó sai. Logic học hình thức chỉ nhằm những điển hình trừu tượng để dùng vào tam đoạn luận. Còn Logic học biện chứng có nội dung cụ thể nên có tầm biến dịch: những hình thái khác nhau và gặp lại nhau trong quá trình toàn diện của sự vật”.

“Một mệnh đề chỉ có thể đúng hoặc sai”. A là A chứ không thể là phi A. Một vật luôn luôn phải là chính nó chứ không thể đổi ra khác. Quan niệm như vậy, một là không biết gì đến kinh nghiệm giác quan, hai là phải giả thiết trong vũ trụ không có biến dịch, vạn vật lúc nào cũng thế. Hay nói khác đi, vạn vật có bản tính bất biến và tuyệt đối (như Aristote quan niệm). Trong khi đó chúng ta thấy rằng biến dịch là cái lẽ thông thường trong vũ trụ. Không có sự vật nào ở mãi trạng thái cố định.

Một vật ở trạng thái A, rồi phi A, rồi phi phi A, nghĩa là biến đổi mãi. Khi bảo A là A và không thể là phi A tức Logic hình thức chỉ nhìn vào một trạng thái nhất định trong một khoảnh khắc. Như vậy cái đồng nhất tính (identité) của sự vật trong Logic hình thức chỉ là thứ đồng nhất tính hình thức và trừu tượng chứ không phản ánh đúng thực tại vốn sống động và biến chuyển không ngừng. Lý luận muốn ăn khớp với thực tại, phải là thứ Logic biện chứng chứ không phải là hình thức. Cho nên tính chất của Logic biện chứng của Hegel là bám sát thực tại. Nó luôn luôn phải ánh đúng sự biến dịch của thực tại theo một quy trình gồm 3 nhịp (Quyết thể- Hủy thể - Hủy thể của hủy thể) và hướng về một toàn thể duy nhất. Đó là ý nghĩa của câu cuối cùng trong đoạn văn vừa trích: “Những hình thái khác nhau và gặp lại nhau trong quá trình toàn diện của sự vật”. Sau đây là những khái niệm cơ bản trong Logic biện chứng tức phép biện chứng (duy tâm) của Hegel.

1.1. Biến dịch (principe de devenir)

Như trên vừa nói, mọi vật trong vũ trụ luôn luôn biến dịch, đổi thay, thành ra khác chứ không ở mãi một tình trạng cố định và mang mãi một bản tính ngàn đời, bất dịch. Mỗi vật trong sự biến đổi của nó, theo Hegel bao giờ cũng tuân theo một quá trình gồm 3 nhịp: chính đề (hay quyết thể), phản đề (hủy thể), hợp đề (hủy thể của hủy thể).

Sở dĩ các vật biến đổi luôn là vì trong mỗi vật đều ngầm chứa một sức mâu thuẫn nội tại tức là tình trạng phá hủy tình trạng cũ để đưa sự vật qua tình trạng mới rồi tình trạng mới lại bị hủy đi để tiến tới một tình trạng mới hơn nữa: Một vật ở chính đề, vì sự mâu thuẫn ở bên trong, sẽ phát sinh ra một phản đề đối lập. Rồi phản đề sẽ bị vượt qua để tiến đến một hợp đề. Đây là nhịp thứ ba của quá trình biện chứng, là giai đoạn hoàn hảo, cao hơn và hòa hợp được hai trạng thái chống đối trước đó. Tuy nhiên hợp đề này rồi cũng lại phát sinh một chính đề mới, từ đấy xuất hiện một phản đề đối nghịch và cuối cùng được dung hòa trong một hợp đề. Cứ thế vạn vật tiếp tục biến chuyển mãi theo một tiến trình gồm ba giai đoạn như chúng ta vừa thấy.

1.2. Mâu thuẫn (principe de contradiction)

Hegel bảo mỗi vật “chính nó mang trong mình nó cái mâu thuẫn để hủy hoại”. Cái mâu thuẫn để hủy hoại nó không có nghĩa là tiêu diệt sự vật, làm cho sự vật biến mất. Trái lại hủy hoại ở đây là hủy hoại tình trạng hiện tại để đưa sự vật chuyển qua một trạng thái mới. Vậy mâu thuẫn không phải là nguyên nhân hư vô hóa sự vật mà là làm cho sự vật biến đổi, tiến hóa. Đó là điều kiện của mọi tiến bộ trong vũ trụ.

Nhưng do đâu có mâu thuẫn, có hủy thể? Thưa, do chính cơ cấu nội tại của sự vật. Bất cứ sự vật nào cũng ngầm chứa ở trong nó một sức mâu thuẫn khiến cho tình trạng cũ của sự vật phải bị hủy đi để tiến đến một trạng thái mới. Mâu thuẫn nội tại là lý do bắt sự vật cứ phải biến dịch, cứ phải đổi ra khác mãi mãi.

1.3. Toàn thể

Tuy nhiên, nói sự vật “đổi ra khác mãi mãi” không có nghĩa là vô tận, vô cùng, trái lại sẽ có chỗ tận cùng của nó. Đó là khi sự biến dịch đạt đến chỗ “toàn diện” (totalité) của chân lý. Đó là cái chân lý tròn đầy, tuyệt hảo; không còn mâu thuẫn, không còn có thể trở thành chính đề cho một quá trình biện chứng nào nữa. Chân lý ấy chính là ý hay Tinh Thần Tuyệt Đối; Hợp đề cao nhất, bao gồm toàn diện thực tại, thu hồi hết mọi mâu thuẫn và biến dịch.

Chúng ta sẽ thấy rõ cái chân lý phiến diện trong những quá trình biện chứng và cái chân lý toàn diện ở chặng cuối cùng qua đoạn sau đây của H. Lefèvre:

“Tính cách ba nhịp của mỗi nấc biện chứng chỉ là một cái nhìn hời hợt bên ngoài, chứ thực ra biến dịch là một vận hành nhất thể. Trong khi nhận thức những nấc khác nhau đó, tâm trí con người Hegel nhìn vào trong lòng mình và nhận ra ở đó cái nội dung của quá trình biến dịch. Tinh thần (với chữ T lớn) tự định nghĩa mình là chỗ nhất quán tối cao, bao quát đầy đủ các phương tiện. Đó cũng là cái ta gọi là đồng nhất tính tròn đầy, cụ thể với tất cả mọi đặc tính. Đó là Ý Tưởng. Như vậy Ý Tưởng nhận thấy nội dung cũng là chính mình nó. Thành thử Tinh Thần và Ý Tưởng, hay nói đúng hơn là tri thức tuyệt đối, được coi như Nhịp Ba tối cao, bao trùm tất cả những đối nghịch và mâu thuẫn của vũ trụ.

Như vậy có thể nói rằng nếu ở tận điểm của quá trình biện chứng (nhịp Ba Tối cao) là nơi mà Ý Tưởng Tuyệt Đối trải qua hết cuộc hành trình của số kiếp, thu hồi lại được hết những mâu thuẫn và đối nghịch thì ở khởi điểm Ý Tưởng Tuyệt Đối đã bắt đầu với nấc thấp nhất. Suốt trong quá trình hiện tượng Ý Tưởng Tuyệt Đối đã trải qua không biết bao nhiêu là mâu thuẫn, cuối cùng mới thu hồi lại được chính mình, đạt đến chân lý toàn diện.

Đây là tận điểm của quá trình biện chứng, là chỗ cao nhất của hệ thống Hegel nhưng đồng thời cũng là chỗ phơi bày tột cùng bộ mặt trừu tượng, giá tưởng và bất thực của thuyết “Duy tâm tuyệt đối”. Nếu lúc đầu Hegel bảo phải bám sát lấy kinh nghiệm chứ không nên lý luận một cách hình thức như Aristote thì cuối cùng Hegel lại xa lìa hẳn thực tại, mâu thuẫn lại với chính mình. Nhìn sâu hơn nữa chúng ta thấy phép biện chứng của Hegel thực ra chỉ có tính chất hình thức bởi vì ở khởi điểm cũng như ở tận điểm của quá trình biện chứng chúng ta không thấy có gì khác ngoài Tinh Thần Tuyệt Đối. Tuyệt Đối chuyển mình vào con đường hiện tượng hóa rồi Tuyệt Đối lại tìm lại chính mình. Thế là phương pháp biện chứng thay vì giúp cho chúng ta có thể nhận thức đúng thực tại rốt cuộc lại làm cho chúng ta xa lìa thực tại và nó trở thành một phương tiện cho Hegel lợi dụng củng cố thuyết Duy Tâm tuyệt đối của ông mà thôi.

2. Biện chứng chủ - nô (La dialectique du Maitre et de l’Esclave)

Biện chứng chủ-nô hay tương quan giữa người và người là một tư tưởng hết sức đặc sắc của Hegel, đặc sắc đến nỗi Alexandre Kojève đã coi biện chứng ấy như là trọng tâm của tác phẩm “Hiện tượng học về tinh thần” của Hegel.

Hegel quan niệm rằng khi liên lạc với thiên giới (thế giới tự nhiên), con người không gặp khó khăn gì trong ý định làm chủ cái thế giới đó. Nhưng khi ta chuyển ý định ấy vào nhân giới thì gặp ngay khó khăn: Nếu ta muốn làm chủ người khác thì ngược lại người khác cũng muốn làm chủ ta. Và nếu không có sự nhượng bộ lẫn nhau thì nhất định thế nào cũng xảy ra cuộc đụng độ.

Trong trường hợp hai bên đánh nhau đến một mất một còn thì không có biện chứng chủ-nô: kẻ thua (đã chết rồi) dĩ nhiên không còn được nhìn nhận là chủ mà kẻ được (còn sống sót) cũng chẳng có ai để nhìn nhận mình nữa. Cho nên biện chứng chủ-nô chỉ có thể hình thành khi trong cuộc chiến đấu có một kẻ phản tỉnh (suy nghĩ lại) và ý thức rằng nếu để bên kia đánh chết “là hết chuyện”; do đó cần phải xin bên kia tha chết cho mình. Thế là kẻ bại nhận kẻ chiến thắng là chủ và tự coi mình là nô lệ. Còn kẻ thắng được nhìn nhận tức là đã đạt được mục đích là chủ nên tha chết cho đối phương và coi kẻ kia là tôi mọi của mình. Liên lạc thống trị bắt đầu từ đó.

Chúng ta thấy ông chủ hơn nô lệ ở chỗ dám liều mạng sống trong cuộc tử chiến. Sự kiện ấy cho thấy ông chủ ý thức được rằng mình là một hiện hữu cao hơn cái hiện hữu sinh lý và thú vật. Từ nay trở đi ông chủ không những được nô lệ nhìn nhận như là chủ thể, một chủ thể đầy nhân vị và đầy “oai phong” mà còn có thể bắt nô lệ làm việc cho mình hưởng thụ. Ông chủ không cần phải khổ nhọc để làm chủ thiên nhiên nữa. Đó là việc của nô lệ. Những khối óc và bàn tay tôi đòi sẽ đem sức ra khai thác, vật lộn với thiên nhiên để cho ông chủ an nhàn ngồi hưởng kết quả.

Nhưng lối sống của ông chủ, theo Hegel không phải là không bế tắc. Chủ nhân tưởng mình được người khác nhìn nhận nhưng sự nhìn nhận ấy nào có giá trị gì khi mà kẻ nhìn nhận không còn là một chủ thể tự do, tự lập? Sự nhìn ấy nói cho cùng chỉ là tiếng vang của chủ nhân mà thôi. Cho nên rốt cuộc ông chủ vẫn sống trong sự cô độc và đầy chủ quan với cái ảo tưởng chủ nhân của mình. Mặt khác ông chủ không lao tác mà chỉ biết hưởng thụ, lối sống ấy không khác gì thú vật. Bởi vì thú vật luôn sẵn sàng tiêu thụ những gì có sẵn trong thiên nhiên chứ không biết dùng lao động để tác tạo nên các vật dụng. Ông chủ cũng thế. Sống bằng sự bóc lột sức lao động của người khác, ông chủ chỉ là một con vật biết hưởng thụ. Thật là ngược đời: ông chủ trước kia đã dám liều mạng sống (coi thường cái hiện hữu sinh lý) để thành chủ thể thì nay sau khi đắc thắng lại rơi trở vào đời sống thú vật.

Còn nô lệ thì sao?

Nô lệ buổi đầu sợ chết, bám chặt vào mạng sống nên chưa ý thức được mình là chủ thể. Cho nên nô lệ thua chủ nhân ở điểm đó. Tuy nhiên chính trong lúc chịu thua, cam phận làm kiếp tôi tớ, nô lệ ý thức được rằng sự sống không phải là một cái gì phù phiếm, tầm thường để có thể hy sinh một cách dễ dàng. Trái lại sự sống hết sức quý báu và là căn bản của con người. Không có thân xác, không có sự sống, con người không thể nào tự ý thức được.

Mặt khác chúng ta lại thấy rằng thân phận của nô lệ là phải lao động cho chủ nhân, hành động theo lệnh của chủ nhân. Và vì sợ chủ nhân mà nô lệ phải kiềm chế dục vọng của mình. Nô lệ làm ra đồ vật nhưng phải đè nén ham muốn, không được tiêu thụ theo sở thích. Bởi vì hưởng thụ là đặc quyền của chủ nhân mà nô lệ biết làm chủ bản năng và dùng lao động để làm chủ thiên nhiên. Trong khi đó ông chủ không bị ai kiềm chế còn biết hưởng thụ theo bản năng.

Vậy thì nô lệ, bên ngoài là dạng tôi đòi nhưng trong thực chất lại tới được vai trò của chủ nhân: làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân bằng sức lao động của mình. Con đường thành nhân của chủ nhân và nô lệ thế là trở thành ngược chiều và mâu thuẫn: ông chủ dám liều mạng sống để đạt cho được vai trò ông chủ nhưng kết cục lại sống như thú vật. Còn nô lệ từ địa vị của con vật sống bám vào sinh lý (tham sống sợ chết) lại đạt tới vai trò của chủ nhân và ý thức được mình là một vật tự do (thay đổi được thiên nhiên và không bị bản năng câu thúc). Nhưng nô lệ tới được tư tưởng tự do sống trong thực tế lại không tự do. Sợ xung đột giữa ý thức vì thực tế ấy sẽ thúc đẩy người nô lệ chọn con đường “giải phóng”. Tuy nhiên theo Hegel trên đường tiến về tự do thiết thực nô lệ đã bày ra nhiều ý thức hệ (Idéologie) để giảng hòa giữa lý tưởng tự do và thực tại không tự do. Ý thức hệ của nô lệ chính là những học thuyết xuất hiện ở trong lịch sử.

Có thể nói rằng nhờ vào mẫu biện chứng chủ-nô của Hegel, chúng ta có thể hiểu được mối liên lạc phức tạp giữa con người với nhau. Đó là một khám phá rất đặc sắc của ông. Ngày nay trong đời sống xã hội, chúng ta còn chứng kiến không thiếu gì những liên lạc theo chiều hướng thống trị ấy.

Tuy nhiên bảo rằng con người chỉ liên lạc với nhau bằng một con đường độc nhất, là con đường muốn đè đầu cưỡi cổ người khác, muốn khuất phục người khác, muốn “làm oai” với người khác thì thật là quá đáng. Thử hỏi ai có thể tin rằng hai anh em xung đột vì món gia tài là để lấy oai? Hai ông xích lô giành mối với nhau đến u đầu sứt trán là để lấy oai? Hai bà mua tranh thức ăn ở chợ đến cấu xé nhau là để lấy oai… chứ không phải vì quyền lợi vật chất.

Tóm lại, nếu xem liên lạc chủ - nô là liên lạc thiết yếu giữa người và người thì chưa hẳn đã xác thực. Còn nếu dùng liên lạc chủ - nô để chứng minh rằng chỉ có chủ là ý thức được vai trò chủ thể của mình thì cũng chưa hẳn đã đúng. Bởi vì trên đây chúng ta vừa có dịp thấy rằng nô cũng có thể đạt đến ý thức tự duy bằng một con đường khác xem ra còn chắc chắn, thiết thực hơn chủ nhiều. Bởi vậy sau này Marx mới có lý mà cho rằng nô (giai cấp vô sản) mới đúng là chủ nhân đã kiến tạo nên xã hội, còn chủ (giai cấp tư bản) chỉ là hạng ăn bám mà thôi?

3. Quan niệm về quốc gia

Trong tác phẩm “Những nguyên tắc của triết lý pháp lý”, Hegel quan niệm quốc gia đã phát triển qua 3 giai đoạn phù hợp với 3 nhịp biện chứng như sau:

3.1. Gia tộc (chính đề)

Theo Hegel, ban đầu con người sống trong gia tộc. Đó là một tập thể tự nhiên và mọi người sống ở trong đó hoàn toàn dựa trên tình cảm. Các cá nhân sống chan hòa trong gia tộc và đều là những “nhân viên” của gia tộc.

3.2. Xã hội (phản đề)

Qua giai đoạn hai, con người sống trong xã hội dân sự. Đó là hình thức xã hội bao gồm những cá nhân rời rạc, kết hợp vì quyền lợi, được bảo đảm an ninh, tài sản và tự do cá nhân. Trong giai đoạn này quốc gia theo cá nhân chủ nghĩa. Người dân lo theo đuổi những quyền lợi riêng tư chứ không còn hòa mình hoàn toàn vào gia tộc như trước đây: Bây giờ người dân tưởng là đã tự do nhưng thực sự họ mới đạt đến một thứ tự do thấp kém, tuy cần thiết nhưng chưa đầy đủ, đích thực.

3.3. Quốc gia (hợp đề)

Đến giai đoạn thứ ba, ta mới có một quốc gia chân chính vượt lên trên tổ chức gia tộc sơ thủy và tổ chức quốc gia theo cá nhân chủ nghĩa. Trong quốc gia, các cá nhân đạt đến Ý chí chung và việc hợp nhất trong cộng đồng. Luật pháp trong giai đoạn này hoàn toàn có tính cách vô tư, vừa bảo đảm sự sống chung, vừa bảo đảm quyền lợi riêng tư cho từng người. Con người đạt đến sự tự do chân chính và khách quan. Sự tự do này không tiêu hủy tự do chủ quan mà con người đã đạt được theo cá nhân chủ nghĩa, trái lại còn làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn.

Đó là 3 giai đoạn phát triển của quốc gia.

Còn về quyền hành quốc gia, Hegel có nghĩ đến việc phân quyền nhưng vì muốn bênh vực chế độ quân chủ của vua nước Phổ thời đó nên chủ trương phải tập trung cả 3 quyền vào trong tay Quốc Vương. Ông bảo nếu để 3 thứ quyền này độc lập nhau sẽ có thể gây nên tranh chấp và đưa quốc gia đến chỗ hỗn loạn, đổ vỡ. Vậy nên Hegel mới quyết rằng: “Quyền hành của Quốc Vương gồm cả ba thứ công quyền: Làm luật cho mọi người, áp dụng luật vào những trường hợp riêng, sau cùng là quyền phán quyết trung thẩm. Phán quyết tuyệt đối là đặc tính của uy quyền Quốc Vương”.

Chủ trương tập trung quyền hành vào một người, dù bản chất của triết học Hegel là nhằm đến Tuyệt Đối (nên quyền hành cũng tuyệt đối) nhưng trong thực tế một chủ trương như vậy chỉ đưa quốc gia đến chỗ độc tài. Bởi vậy không thiếu gì người chỉ trích Hegel là lý thuyết gia đã biện minh chính cho chế độ chuyên chế của nước Phổ và công nhận quyền hành tuyệt đối của quốc gia trên người dân.

Marx nói rằng không thể nào phân biệt một bên là quốc gia và một bên là xã hội để rồi quan niệm mỗi cá nhân trong chúng ta có đến hai con người khác nhau: một con người liên quan đến những quyền trong sinh hoạt xã hội (nhân quyền) và một con người liên quan đến những quyền trong sinh hoạt chính trị (dân quyền). Đó là quan niệm hoàn toàn có tính cách trừu tượng và trưởng giả. Đối với Marx, chỉ có một con người trong sinh hoạt cộng đồng xã hội mà thôi và để bảo đảm an ninh cho cộng đồng xã hội, vấn đề then chốt là phải giải quyết mâu thuẫn quyền lợi giữa các thành phần khác nhau, phải tiêu diệt chính quyền, tiêu diệt chính trị chứ không phải bày ra chính trị. Bởi vì “quốc gia (tức chính quyền) vẫn là mục tiêu đấu tranh của các bộ lạc, đẳng cấp và giai cấp từ xưa đến nay”.

Chính trị bản chất chỉ là sự tha hóa của con người. Chính quyền chỉ là công cụ đàn áp, bóc lột của giai cấp thống trị và luật pháp (được Hegel ca ngợi trong hợp đề quốc gia) được coi là tuyệt hảo trong việc đem lại an ninh cho con người sống trong xã hội thực ra cũng chỉ là con đẻ của giai cấp thống trị mà thôi. Kinh nghiệm cho thấy những người làm luật bao giờ trước hết cũng lo bảo vệ quyền lợi cho mình và cho giai cấp của mình. Cho nên thật là hoàn toàn có tính cách lừa bịp, dối trá nếu cho rằng luật pháp phản ánh trung thực quyền lợi của mọi người nên mọi người phải triệt để tôn trọng luật pháp, tôn trọng quốc gia.

Vậy thì lý tưởng của con người sống trong xã hội, theo Marx không phải là được thấy bộ máy chính quyền càng ngày càng lớn mạnh mà ngược lại là được chứng kiến cái cảnh chính quyền tan rã, tự hủy… đó là lúc nhà nước không còn đóng vai trò gì trong đời sống xã hội vì sinh hoạt xã hội đã đạt đến chỗ điều hòa, tự nhiên. Mọi người lúc bấy giờ có quyền “làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo yêu cầu”. Đồng thời sự tôn trọng kỷ luật cộng đồng đã trở thành thói quen nên bộ máy cai trị không còn cần thiết nữa.

III. Tổng kết

Có lẽ không ai hiểu giá trị của Hegel bằng Marx. Bởi vì chủ nghĩa Marx đã thành hình từ sự phê bình tư tưởng Hegel. Chính học thuyết Marx đã thoát thai từ triết học Hegel tuy rằng Marx đã chống lại tư tưởng duy tâm của Hegel một cách kịch liệt.

Bây giờ chúng ta thử xem Marx đã phê bình Hegel như thế nào?

Marx trước hết ca ngợi Hegel đã có công ở chỗ “cho rằng con người tự tạo theo một lịch trình, cho rằng con người phóng ngoại thành một khách thể; đối lập với chính mình tức là tha hóa và chấm dứt sự tha hóa”.

“Con người tự tạo theo một lịch trình” tức là con người biết làm nên lịch sử. Kể từ đây mới đúng là có lịch sử của con người. Con người hoàn toàn chủ động trong việc kiến tạo nên lịch sử của mình và của thế giới. Mặt đất từ nay trong bàn tay tác tạo của con người không còn im lìm, bất động nữa mà là biến động không ngừng. Mọi vật chuyển mình tiến đi trong lịch sử bởi sự khám phá của Hegel. Vì có quan niệm vạn vật luôn luôn biến dịch nên mới có logic biện chứng của Hegel và mới phát minh sinh ra Duy vật biện chứng của Marx sau này.

“Tha hóa và chấm dứt sự tha hóa” hay nói rõ hơn, Hegel khám phá ra sự tha hóa của con người trong vũ trụ và tìm cách giải phóng con người ra khỏi sự tha hóa ấy. Bao lâu chưa biết mình bị tha hóa thì sẽ chưa thể có nỗ lực nhằm chấm dứt sự tha hóa. Tuy rằng phương thuốc giải thoát của Hegel tỏ ra vô hiệu vì quan niệm sai lầm rằng “Thu hồi một thực thể đã tha hóa thành khách thể tức là đưa thực thể ấy về tự thức tâm”. Nhưng dù sau đó cũng là con đường đã được vạch ra sẵn để sau này Marxtheo đó khám phá ra những tha hóa thiết thực của nhân loại đồng thời tìm phương giải thoát cho con người, những con người bần cùng, cụ thể và hữu hạn ở trong cuộc đời này.

Marx lại phê bình Hegel rằng: “Trong cuốn Hiện tượng học về tinh thần”, Hegel đã thay con người bằng ý thức tự quy: thực tại hết sức phức tạp của con người bị ông coi như một hình thái, một đặc tính nào đó của ý thức tự thân. Một đặc tính như vậy chỉ là một quan niệm, một ý tưởng, cho nên Hegel đã có thể dùng một ý tưởng để làm nó tan biến trong tư duy.

Marx đã nhận xét rất đúng. Con người trong triết Hegel không có gì khác hơn là một ý thức thuần túy. Tất cả những hình thức khác nhau của hiện hữu đều chỉ là những “thể hiện hữu” của tâm thức mà thôi. Tâm thức biết mình vong thân khi phóng mình ra ngoại vật nhưng rồi tâm thức lại chấm dứt vong thân bằng cách thu hồi tất cả vào mình (mình là tất cả thực tại). Cho nên trong triết Hegel, đối tượng thì trừu tượng, tương quan cũng trừu tượng mà giải thoát cũng trừu tượng nốt. Thậm chí thứ luận lý biện chứng của Hegel mà chúng ta từng cá ngợi lúc đầu rốt cuộc cũng chẳng còn gì là biện chứng nữa khi Hegel dẫn lịch sử đến Ý Tưởng Tuyệt Đối, chỗ tận cùng thu hồi tất cả thực tại, chấm dứt mọi mâu thuẫn và biến dịch.


Về tác giả:
Lê Tử Thành, sinh năm 1942 tại Đà Nẵng

.
  • Bút hiệu: Lê Hồng Đức, Trường Thành, Quan Điểm, Vạn Lý, Nguyễn Thị Ngọc Thắm
  • Đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Tư Tưởng, Nghiên cứu Việt Nam, Văn Học, Thiện Mỹ, Trình Bày, Văn Mới...
  • Tốt nghiệp cao học triết học (thạc sĩ) tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1966.
  • Giảng dạy triết học phương Tây, Logic học, Phương pháp luận nghiên cứu Khoa học (ở bậc Đại học và sau Đại học)
  • Trước 1975: Đại học Văn khoa Sài Gòn, Đại học Cần Thơ, Đại học Vạn hạnh, Đại học Tây Ninh.
  • Sau 1975: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Cần Thơ, Đại học Kinh tế, Đại học Luật, Đại học Kiến trúc, Đại học Mở Bán công, Đại học Văn Lang, Đại học Hùng Vương, Đại học Văn Hiến, Đại học Bình Dương, Đại học Yersin Đà Lạt
.
* Tác phẩm đã xuất bản:
  • Đại cương triết học cận đại (1973)
  • Đưa vào triết học (1973)
  • Tìm hiểu Logic học (1991)
  • Logic học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học (1991)
  • Nhập môn Logic học (2004)
  • Người đàn bà huyền thoại (2013)
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,