'Thượng đội hạ đạp' - cửa ải khó qua?

Văn Bảy (thực hiện)Thể thao Văn hóa
09:48' CH - Thứ năm, 31/08/2017

Trong Chiêu quốc hồn văn1), Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) cảm thán: “Mị địch giả dĩ vạn kế/Ứng nghĩa giả vô nhất phu” (Nịnh kẻ thù có vạn người đó/Làm việc nghĩa thấy một ai đâu)...

Cũng như trước đó Denis Diderot (1713-1784) từng cảm thán: “Chúng ta tham lam nuốt lấy lời nói dối tâng bốc, nhưng chúng ta chỉ nhấp miệng từng chút sự thật cay đắng”.

Xa hơn nữa, Niccolo Machiavelli (1469-1527): “Không có cách nào khác để bảo vệ mình khỏi lời xu nịnh ngoài việc khiến người ta hiểu rằng nói với bạn sự thật sẽ không xúc phạm bạn”. Nghĩa là qua năm tháng, chuyện “thượng đội hạ đạp”, hoặc “đạp dưới luồn trên”… vẫn là một kiểu hành xử, một lối sống phổ biến ở nhiều nơi, có vẻ con người khó vượt qua.

Nhà báo Nguyễn Trường Uy: Lôi ruột gan ra giặt giũ lại cho sạch

Ai trong chúng ta cũng đã từng chứng kiến đồng nghiệp của mình hay một ai đó có hành vi “thượng đội hạ đạp” nhằm “leo lên” một chức vụ nào đó, hoặc để “giữ ghế”. Bộ máy quản trị của bất cứ quốc gia nào, chính quyền nào, công ty nào cũng có những “hòa thân”, càng không minh bạch thì “hòa thân” càng nhiều và ngược lại.

Một bộ máy vẫn để tồn tại tư duy, cũng như thực tế rằng có chức là có tiền, thì ắt hẳn đó sẽ là môi trường màu mỡ của tệ nạn “thượng đội hạ đạp”. Khi chức vị tạo cho người ta có được của ăn của để, đặc biệt là được nhiều người tán dương, kể cả tán dương giả vờ, thì chắc chắn sẽ có vô số những con thiêu thân lao vào đó, bất chấp liêm sĩ và lòng tự trọng, nịnh trên khinh dưới.

Thời bây giờ chúng ta thấy không ít người một ngày “bỗng dưng” khác đi sau khi nhờ khả năng “thượng đội hạ đạp” mà được bố trí một chức vị nào đó. Họ ăn nói khác trước, đi đứng khác, hành xử khác, suy nghĩ khác…, rất bề trên, rất kẻ cả, rất hình thức.

Họ nghĩ rằng chức vị đó là oai phong, rằng quyền lực thì phải khác, nên họ tự “biến hóa” mình, hoặc sự tha hóa đã thay đổi họ mà họ không hay. Điều đáng nói là bây giờ tệ nạn đó nhan nhản, thậm chí nhiều người xem đó như một “kỹ năng” cần có để có thể tiến thân, để có chức vị, như chuyện thế thời phải thế!

Tôi nhớ trong bộ phim truyền hình nhiều tập Khang Hy đế quốc của Trung Quốc có một cảnh rất đắt: Khang Hy giáo huấn các triều thần về đạo làm quan. Khi thấy các triều thần đấu đá nhau, tham nhũng, suy đồi đạo đức, ông đã tập hợp họ vào cung Càn Thanh và nói, đại ý rằng: Trong khi dân đang thiếu lương thực ngoài kia, thiên tai địch họa đang đe dọa dân ngoài kia, họ trông chờ triều thần tìm kế giúp họ thì các khanh hủ bại, không xứng đáng làm quan.

Rồi Khang Hy nói ông cho các quan nào đã lỡ hủ bại một cơ hội làm lại, hãy lôi ruột gan mình ra giặt giũ cho sạch một lần để phụng sự thiên hạ. Nhiều vị quan nghe Khang Hy nói mà ôm mặt khóc rưng rức. Rồi Khang Hy ban tặng cho các triều thần bốn chữ để nhớ mà phụng sự thiên hạ. Một tấm bảng được từ từ kéo lên, treo lên trên đầu ngai vàng, với bốn chữ mạ vàng: Chính Đại Quang Minh.

Nhưng việc tự tỉnh ngộ, việc tự “trở về” không dễ. Không thể kêu gọi mãi sự băng hoại trở về, trong khi sự “thượng đội hạ đạp” là đường vinh thân phì gia cho họ.

Phải có quy định rõ ràng về tài sản để cho mọi người đều xác định rằng có một chức vị nào đó là phục vụ chứ không phải là kiếm chác, phải có sự kiềm tỏa của luật pháp để buộc những người đã hủ bại không thể tiếp tục nhởn nhơ, mà phải đối diện với tù tội và phải có sự lên án của dư luận xã hội về hành vi xấu xa đó. Tôi nghĩ có vậy mới chặn được những con thiêu thân vinh lợi mà hủ bại chính mình và cả môi trường xung quanh.

Nhà văn Nguyễn Danh Lam: Sự tác động của những viên bi

Nhìn vào trò chơi bi-da quen thuộc, trong chuỗi tác động lực qua lại giữa những viên bi, ai cũng thấy viên bi chủ nhận một lực tác động mạnh bao nhiêu thì viên bi sau sẽ chịu một tác động lực tỷ lệ thuận.

Ở mức độ nào đó, con người trong xã hội cũng là những viên bi, “nối vòng tay lớn”, trừ khi bạn có thể tách ra, đứng sang bên, như một cá thể tự chủ, không chịu sự tác động dưới trên, phải trái. Hoặc toàn bộ cái xã hội ấy đã đến tầm mà tất cả xếp hàng ngang như nhau, không bên nào có quyền tác động lực sang bên nào.

Xét ngược dòng lịch sử, tất nhiên không có một tôn giáo, một nếp sống, một trật tự xã hội… nào bỗng nảy ra đột ngột. Tất cả đều hình thành trên một chuỗi biến chuyển. Nhưng có thể thấy ở phương Đông, kể từ khi Khổng giáo ra đời, cái “tôn ti trật tự” giữa người với người kể như được “chính thức hóa”. Cụ thể trật tự Khổng giáo như thế nào, thiết nghĩ không cần nhắc lại.

Cá nhân tôi, từ một hình ảnh nhỏ, vẫn thấy được phần nào cái trật tự này, đó là trong một bữa cơm có đông người ăn, kẻ ngồi vị trí đầu nồi bao giờ cũng vất vả, thiệt thòi nhất. Vị trí ấy là của cô con dâu trong gia đình nhà chồng.

Khỏi nói về mối quan hệ mẹ chồng con dâu, mà trong đó, cô con dâu bị mẹ chồng “đì” tan nát bao nhiêu thì sau này, khi… trở thành mẹ chồng, người phụ nữ ấy lại tiếp tục “đì” con dâu của mình!

Và tất nhiên không chỉ trong mối quan hệ mẹ chồng con dâu, cái lớp lang tăm tắp ấy được xếp dài từ triều đình cho đến vùng miền, làng xã, gia đình… không ai, không mắt xích nào có thể vùng vẫy. Muốn thoát bỏ, bạn chỉ có thể lên núi hiểm, ra biển vắng sống cuộc đời Phạm Lãi…

Có thể không hẳn xuất phát từ tầm vĩ mô, nhưng tôi thấy cái thành ngữ “thượng đội hạ đạp” cũng nằm trong mối quan hệ tương hỗ, với những mắt xích trói buộc ấy. Trong một xã hội yên ả, nghĩa là lực tác động qua lại nhỏ, cái đội cái đạp sẽ bớt phần nghiệt ngã; ngược lại, khi xã hội nghiệt ngã thì cái đội cái đạp cũng “trần ai” theo. Bạn bợ đỡ kẻ trên khổ nhục như thế nào thì cái lò xo bị dồn ấy sẽ… bung xuống phía dưới, để phía dưới lãnh đủ.

Và phía dưới sẽ tiếp tục bung xuống dưới nữa. Ngay đến mõ làng thì cũng có quyền đánh vợ. Và đến thằng không có cả vợ để đánh thì ngửa mặt lên trời chửi hư không, Chí Phèo đó.

Ở chiều ngược lại, cũng như một quy luật, khi bạn bị người trên “tống” xuống, không thể “phản lực”, chấp nhận trong chuỗi cam chịu thì “đội” là một hành động phòng vệ, giảm chấn, hòng thoát khỏi tình cảnh chưa kịp đạp phía dưới thì mình đã bị phía trên đạp bẹp gí. Cái đội này cũng giống như… đội mũ bảo hiểm vậy thôi!

Vì vậy, “thượng đội hạ đạp” là một hành vi, một cách ứng xử xấu. Tuy nhiên, có thể thông cảm vì cái trật tự văn hóa - xã hội nhiều khi đã thế rồi.

Nhìn vào một số hình mẫu xã hội, khi nguyên thủ quốc gia cũng phải xếp hàng mua bánh, còn chàng nông dân trên núi có thể được chở đi chữa bệnh bằng máy bay trực thăng, liệu trong môi trường sống ấy có còn “thượng đội hạ đạp” chăng?


1)

CHIÊU QUỐC HỒN VĂN

Ôi! Các nước trong trời đất, lớn nhỏ khác nhau,
Quốc hồn hết thảy đều có, hồn nước ta đâu?
Nào phải quốc hồn ta thiếu, vì tính ngu muội từ lâu,
Lợi thì ham muốn, danh thì đua nhau;
Cho xiểm nịnh là tài giỏi, thấy trung nghĩa thì quay đầu,
Không đau xót khi nước nhà tiêu diệt,
Chỉ vui sướng khi thân mình sang giàu.
Nay kẻ thù đương suy bại, chính cơ hội hiếm khôn cầu.
Phục nước Sở, ta hợp quần cho mạnh,
Đánh quân Ngô, ta nỗ lực cho mau.
Thế mà hôn mê mù mịt, hôm sớm ngao du,
Nịnh kẻ thù có vạn người đó,
Làm việc nghĩa thấy một ai đâu?

Thương vậy thay!
Cả nước đều không lòng tự sỉ,
Tất nhiên bị trói nhốt như gà như lợn,
Bị đánh đập như ngựa như trâu.
Than ôi! nước vẫn còn đó, hồn lạc nơi mô?

.

Ta nay lên trước, cất tiếng hô to”
Sài gòn một cõi, Hà nội một khu,
Thanh, Nghệ một dải, Hương Bình một đô,
Há không có một hai kẻ sĩ,
Thấy nạn nước ra sức khuông phù?
Há không có một hai người biết
Cảm điều nghĩa mà vùng dậy ru?
Để vì giống nòi phá tan hổ thẹn
Để vì sông núi rửa sách bùn nhơ?

Than ôi! Hồn như có biết, mau về đi thôi!
Danh thơm khí mạnh đến với giống nòi!
Chớ chìm đắm trong nô lệ, mà bẩn con người.
Chớ khúm núm trước thềm giặc, mà nhục cho đời.
Về ngay đi! Về ngay đi! Nên nhớ tiên tổ:
Như vua Lê Thuận Thiên diệt giặc giữ nước,
Như đức Trần Hưng Đạo phá Hồ lập công.

Về ngay đi! Về ngay đi! Trông gương nước bạn:
Như Trung Hoa đất Vũ Hán nổi dậy,
Như Nhật Bản trên mặt biển xưng hùng.
Muôn ngàn dân nước, thề quyết đồng lòng,
Góp công sức, dựng sự nghiệp, tính đến xong,
Khiến người thế giới đều ngạc nhiên khen tặng:
“Nước Việt Nam nay đã cố gắng giành lại độc lập,
Quyết không chịu làm thân tôi mọi cho Pháp đến cùng”

Hỡi đồng bào! Ta mong hồn nước thiêng liêng của bốn ngàn năm cũ
Đem lại chí khí anh hùng.
Chớ đừng bắt chước, chôn vùi tâm huyết như hạng người lòng heo dạ chó,
Cam kiếp tôi đòi để chịu diệt vong.

- Tác giả: Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) - tên tự: Đỉnh Nam, Đỉnh Thần, tên hiệu: Mai Sơn còn được gọi là Ông nghè Liên Bạt, sinh năm 1868 tại làng Liên Bạt, tỉnh Hà Đông. Ông là con Hoàng giáp Nguyễn Thượng Phiên, và là con rể quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết.

Từ nhỏ Nguyễn Thượng Hiền đã nổi tiếng rất thông minh. Năm 1884, khi 17 tuổi, ông đỗ cử nhân ở khoa thi Hương ở Thanh Hóa. Năm 1885, ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh thành Huế thất thủ, ông phải về ở ẩn tại núi Nưa, Thanh Hóa. Đến năm 1892, ông ra thi Đình và đỗ Hoàng Giáp. Lúc đó 24 tuổi, Nguyễn Thượng Hiền được bổ làm Toản Tu ở Quốc Sử quán, thăng Đốc học ở Ninh Bình, rồi thuyên sang Nam Định nên ông còn được gọi là ông Đốc Nam.
Trong thời gian ở Huế, ông cảm nhận tư tưởng tiến bộ của Đại Thế Thiên Hạ Luận của nhân sĩ Nguyễn Lộ Trạch và đọc nhiều tân thư của Trung Quốc. Ông kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.
Năm 1898, qua giao tiếp với Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền hỗ trợ phong trào Đông Du nhưng vì cha ông lúc đó mang bệnh nặng nên ông phải ở lại vận động cách mạng trong nước.
Năm 1907 vua Thành Thái bị người Pháp buộc thoái vị, ông vào phủ Toàn quyền đòi nhà nước Bảo hộ bãi lệnh nhưng không thành. Thối chí, ông giả làm thầy bốc thuốc ở hiệu "Nam Thọ", Hà Nội rồi tìm đường sang Trung Quốc hoạt động và cùng với Phan Bội Châu lập ra Việt Nam Quang phục Hội. Năm 1914 sau khi Phan Bội Châu bị bắt, ông là người lãnh đạo của hội.
Sau khi các hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội thất bại, Nguyễn Thượng Hiền xuống tóc vào tu ở chùa Thường Tích Quang, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Zhejiang) và mất tại đây ngày 28 tháng 12 1925. Theo di chúc, thi hài ông được hỏa táng, và tro rải xuống sông Tiền Đường.
Ông để lại một số tác phẩm thơ, văn bằng chữ Hán, Nôm. Thơ ông chủ yếu ký thác những tâm sự của mình và lên án chính sách của người Pháp, khơi dậy lòng yêu nước, kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp. Tập văn xuôi Hát Đông thư dị của ông mang đậm tính chất truyền kỳ.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,