Huyền thoại và triết học

Nguyễn Văn TrungNam Sơn xuất bản - 1972
04:48' CH - Thứ hai, 12/01/2009

Xem »


I. Nguồn gốc của triết học

Có hai giả thuyết về sự xuất hiện của con người trên trái đất

Thuyết thứ nhất - thuyết cố định - cho rằng con người đã được tạo hoá dựng lên và từ đó cho đến nay con người không có có gì thay đổi.

Thuyết tiến hoá, trái lại, cho rằng con người hiện tại là kết quả của một quá trình biến hoá, khởi từ những con vật nhân hình (les anthropides). Hầu hết các nhà khoa nghiêng về giả thuyết thứ hai này. Tuy nhiên chưa có nhà khoa học nào khẳng định được lúc nào, giai đoạn nào trong đó đã xẩy ra sự chuyển hoá quyết định khiên con vật kể trên kia thành con người. Vấn đề không cần đặt ra ở đây và ta chỉ cần xác định yếu tố quyết định sự biến đổi về phần này - yếu tố làm cho con người khác con vật đó là sự đột khởi của tự do, của ý thức. Tự do, ý thức như vậy là hai đặc tính của con người với tư cách là người.

Tuy nhiên lúc đầu, con người còn ở trong tình trạng sơ khai, thấp kém và hồn nhiênm nhất là chưa giác ngộ, phản tỉnh chưa biết “trở về mình”, chưa biết mình là ý thức, là người khác con vật. Do đó nếu hiểu triết học là nỗ lực suy nghĩ về mình về vị trí của con người trong vũ trụ...một cách mạch lạc và hệ thống thì hẳn là con người sơ khai chưa có triết học.

Nhưng nếu hiểu triết học là triết lý, là một thái độ trước cuộc đời và thái độ bao hàm một ý nghĩa (dù ban đầu chưa khai triển thành ý niệm, hệ thống...) thì con người bất luận ở trình độ nhận thức nào đi chăng nữa cũng đều có những thái độ, những quan niệm về nguồn gốc con người, nguồn gốc vũ trụ, thiên nhiên... Vậy, người sơ khai có triết lý mà không có triết học ( vì chưa có phản tỉnh một cách hệ thống). Triết lý ở đây không phải thuần tuý là ý tưởng, kiến thức, mà là một thái độ sống. Thái độ sống này xuất hiện dưới hình thức tư tưởng, tập tục, lễ nghi, tôn giáo, chế lập xã hội... nhất là huyền thoại hay thần thoại ( có yếu tố thần linh ).

II. Định nghĩa huyền thoại và thái độ huyền thoại.

Đối với chúng ta bây giờ, huyền thoại hay thần thoại là một câu chuyện, một lời nói huyền hoặc, hão huyền và có tác dụng huyền diệu người khác. Huyền thoại là cái không thật, hoang đường, bịa đặt, tưởng tượng. Nhưng đối với người sơ khai, huyền thoại là chân lý, sự thật, và họ tin như vậy.

Trong những xã hội mà huyền thoại còn sống động, đang thịnh hành, người sơ khai thường phân biệt huyền thoại (chuyện có thật, lời có thật), dính líu tới nguồn gốc thế giới, vũ trụ, nhân vật: Thần linh, ma quỷ, siêu nhiên, hoặc dính líu tới những anh hùng dân tộc làm những cử chỉ lạ lùng (chống lụt, chống đói, chống thú dữ... cứu nhân độ thế) với những chuyện không thật. Chẳng hạn thổ dân Pawnee phân biệt chuyện thật (thần thoại) với chuyện không thật (ngụ ngôn, dính líu tới sinh hoạt của cầm thú).

Thái độ huyền thoại (những đặc điểm)

Huyền thoại thường kể lại những việc làm của những nhân vật linh thiêng, do đó nó có tính chất thần linh và vì thế gọi là thần thoại do thần linh làm: Thần sét, thần lửa, thần mưa, thần gió, thần bể...

Những thần thoại có tính cách linh thiêng vì kể lại nguồn gốc loài người, vũ trụ, tổ tiên, liên lạc trực tiếp tới sự sinh sống của người đang sống, trong khi những chuyện không thật chỉ liên quan đến những sinh hoạt, cử chỉ của cầm thú thảo mộc. Chẳng hạn, những dân tộc ven biển thường sinh sống bằng nghề chài lưới có huyền thoại sau đây:

Thuở xưa, có một vị thần đã dạy cho tổ tiên bộ lạc cách đánh cá, và chính Thần đó đã làm việc đánh cá đầu tiên, để rồi từ đó nhân dân trong bộ lạc bắt chước. Dù mang tính cách linh thiêng, nội dung huyền thoại vẫn hiển nhiên, không thể nghi ngờ được, chỉ việc tin, không bao giờ thắc mắc. Đặc điểm của huyền thoại là coi sự thật như là một hiển nhiên tuyệt đối. Không có vấn đề vì huyền thoại giải đáp mọi vấn đề trước khi đặt ra: Đã tin thì cứ thế mà tin. Do đó không thể có tiến bộ, thay đổi. Người sống bằng huyền thoại là sống trong trạng thái ngừng động, an nghỉ, bất động, bất di bất dịch hoàn toàn, cố định, cứ như thế mãi mãi. Lối sống của nhiều thổ dân như Pygméss bên Phi Châu hay Úc cứ tiếp tục mãi từ thời Tiền sử cho đến bây giờ vì họ sống bằng Huyền thoại.

Đối với niềm tin ở Huyền Thoại, bao giờ cũng có một thái độ có tích chất tôn giáo ( kính trọng ), tôn sùng, không dám đụng đến (đứng xa mà nhìn, cung kính), nói đến vì sợ phạm thượng.

Huyền thoại không do suy luận trừu tượng, cũng không phải là một nhận thức thuần tuý nhưng là một thái độ sống cụ thể, một quan niệm về cuộc đời sống động mà không hề biết có quan niệm đó. Người cổ xưa đồng hoá với những quan niệm về cuộc đời. Và bởi vì cuộc đời thần thoại có tính chất thầ linh nên thái độ sống này có tính chất tôn giáo.

Người ta sống niềm tin thần thoại và biểu lộ nó bằng một nghi lễ (rite), một thờ cúng. Nghi lễ là một cách thế kể lại, hiện thực niềm tin, thần thoại làm cho sự kiện đã qua (lúc cấu tạo trời đất, sinh thành con người...) trở thành hiện tại.

Khi làm hiện thực một niềm tin bằng một lễ nghi, không phải chỉ để tưởng niệm một việc đã qua, nhắc lại nó nhưng là thực hiện tại, làm cho nó trở thành sống động trong hiện tại... Cũng như bên Thiên Chúa giáo, khi linh mục làm lễ, đọc lại câu: "Này là mình ta" thì không phải chỉ nhắc lại một sự kiện lịch sử tích Thánh Thể bằng một cử chỉ phụng vụ (geste liturgique, tế tự, lễ bái, với một thái độ trang nghiêm, kính cẩn trong một thánh (ban đêm).

Vì thế, khi đề cập đến thần thoại, người sơ khai không ngồi kể như chuyện cho vui, cũng không phải bất cứ ai cũng được phép kể (cũng như lễ nghi tôn giáo thường được dành cho những người được chọn, trong phái nam như linh mục, tu sĩ, mục sư...).

Ở nhiều thổ dân, đề cập đến thần thoại là làm một cử chỉ tôn giáo và không bao giờ làm trước mặt đàn bà trẻ con mà chi do những người già cả, trưởng tộc như Piddington nhận xét về dân Karadjeri.

“Những thần thoại linh thiêng không thể cho đàn bà biết thường liên quan đến nguồn gốc vũ trụ, và nhất là đến những thể chế, những lễ nghi”.

Thần thoại như vậy có nghĩa là lập lại (répétition), thực hiện tại ( réaffirmation du même), nhắc đi nhắc lại cũng vẫn một cử chỉ mà ý nghĩa là hiện tại hoá.

Những ngày lễ có mục đích lặp lại một cách trọng thể, đặc biệt những thần thoại bằng những lễ nghi có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống dân tộc. Trong những buổi lễ, người ta thường mừng lễ hết sức tưng bừng ( nhảy múa, reo hò, ca hát, phung phí sức lực, tiền tài…) để biểu lộ niềm tin một cách mãnh liệt đầy đủ có khi hàng tuần lễ liền.

Thái độ huyền thoại cũng có tính cách hồn nhiên

- Hồn nhiên có nghĩa là hoà hợp, hoà đồng, đơn thuần, chưa có phân ly, phân biệt, vì chưa có ý thức phản tỉnh. Với con người sơ khai, tư tưởng, suy nghĩ, cảm nghĩ, cảm xúc chỉ là một
- Chưa phân biệt con người với vũ trụ, thiên nhiên, vạn vật, người khác
- Chưa phân biệt ý thức về thân xác của mình, tinh thần và vật chất, ý chí và thân xác. Do đó chưa phân biệt tĩnh động, biến dịch trường tồn thời gian, vĩnh cửu.

Vũ trụ đối với người so khai là thiên nhiên, cụ thể, trong giới hạn tầm lĩnh hội của con người. Họ không có một ý niệm về không gian sống động, không gian cư ngụ mà thôi, giảm lượng và những gì chung quanh họ. Họ không tin là họ ở trong không gian vì họ là không gian, họ tự coi như một yếu tố cấu tạo không gian. Họ cũng không biết họ là Tài, khác với người khác (ý thức về sự khác biệt, cách biệt về mình như một đơn vị, một cá nhân). Họ không có bản ngã riêng, không có ý thức cá nhân, không có tên riêng, do đó không có tự ái cá nhân khoe khoang, tự đắc, ích kỷ.

Theo Lévy-Bruhi:

“Ý thức mà người sơ khai có về cá thể của mình bị bao phủ trong một tĩnh tự mà yếu tố nổi bật là cảm tưởng cho rằng cá nhân thuộc về một tập thể, và tập thể mới là cá thể đích thực, còn họ chỉ là một phần như những phần của một đoàn thể xã hội.”

Về điểm này Leenhardt cũng nhận định:

“Con người chỉ biết mình nhờ liên hệ với người khác. Con người chỉ xác định mọi vị trí của mình từ những mỗi liên hệ đó.”

Người sơ khai cũng có ý thức về thời gian biến đổi, họ sống trong hiện tại. Họ hoà đồng với thiên nhiên, vũ trụ, với ngưới khác, với chính mình. Họ sống trong viên mãn và hạnh phúc (mà có khi không biết) hoặc có khổ cũng không biết mình khổ, nói khác, họ không khổ cũng không sướng, vì chưa có ý thức. Do đó, có ý thức là mất sự hoà đồng hoà hợp và đau khổ vì không đạt được lý tưởng. Sự tưởng nhớ không thôi cái trạng thái hòa đồng nguyên thuỷ thường được biểu lộ qua những chuyện thần tiên.

Người sơ khai như vậy không đối lập với thiên nhiên cũng không muốn chinh phục thiên nhiên. Những sự kiện xảy ra đều đã được giải thích theo những niềm tin (thần thoại) nên không còn gì thắc mắc. Cũng vì vậy, chưa có cần lao (là nỗ lực nhằm biến đổi thiên nhiên), chưa có kỹ thuật. Sự cần lao của họ thường là lấy cái sẵn có trong thiên nhiên (hái lượm, săn bắn) tương tự loài vật.

Họ cũng thiếu ý thức về mình như một cá nhân, cũng chưa đối lập với người khác nên không cần biểu lộ, khẳng định bản ngã mình và đòi người khác phải công nhận. Do đó, chưa cần đến những tổ chức kinh tế và chính trị. Trong xã hội văn minh, mỗi người đều muốn người khác là đối tượng thoả mãn ước muốn của mình. Do đó mà có cạnh tranh ráo riết. Ai cũng muốn biến đổi người khác thành đầy tớ phục vụ cho mình là chủ. Nhưng nếu mình muốn đè đầu cưỡi cổ người ta thì ngược lại người ta cũng muốn ý như vậy. Mà nếu cạnh tranh ráo riết quá thì đưa đến chỗ bạo động, đổ máu. Đành dung hoà quyền lợi bằng cách nhượng bộ, hoà giải, điều đình để tạo lập một hoà ước, khế ước, đó là nguồn gốc của những tổ chức xã hội, pháp lý, kinh tế. Thực ra mặc dù đã có những khế ước như vậy, người ta vẫn xoay sở, lừa lọc nhau. Tất cả đều do tinh khôn, ý thức mà ra cả.

Người bán khai, trái lại, chưa có ý thức nên cũng chưa có “tư tưởng bi đát về cuộc đời”, họ sống hồn nhiên vì họ không thấy sống là bị bỏ rơi, chết là đi vào hư vô và cuộc đời này phi lý.

Phân loại huyền thoại

Người ta chú ý đến điểm này: các dân tộc sơ khai ở nhiều vùng khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, có những thần thoại khác nhau, nhưng cũng có nhiều thần thoại giống nhau về nội dung, ý nghĩa (chỉ khác nhau về câu chuyện, hình tượng).

Chẳng hạn thần thoại của những dân tộc thiểu số Mèo, Bana, Darai, một số giáo sĩ ngoại quốc đã thấy nhiều thần thoại của những dân tộc này có những nét giống câu chuyện Noe thoát nạn hồng thuỷ, lại cũng có một tháp Babel y hệt như trong Kinh Thánh. Loại thần thoại quan trọng hơn cả là những thần thoại liên quan đến nguồn gốc vũ trụ, nhân sinh.

1. Những thần thoại về việc sáng lập vũ trụ vạn vật. ( thiên nhiên, loài người, cây cỏ, sông núi, biển, đất đá...). Vũ trụ sau đó biến thiên ra sao?

Theo người Tây Tạng thì vũ trụ do một cái Trứng Lớn và loài người dòng họ Tây-tạng từ đó mà có, như Ariane Mac Donald đã khảo sát: “Từ bản chất năm yếu tố chính, phát sinh một Trứng lớn. Rồi 18 cái Trứng khác từ lòng đỏ cái Trứng lớn đó mà ra… Cái trứng ở giữa 18 cái kia tự tách ra khỏi và bắt đầu đẹp lạ lùng. Cho nên người ta gọi nó là Vua Ye-Smon. Hoàng hậu Tchu-Lchag sinh hạ một đứa con có phép hoá thân.

Ở nhiều dân tộc người ta tin việc đọc, xưng hô những thần thoại kể nguồn gốc này kèm theo những nghi lễ có thể chữa bệnh, hoặc để phù trợ cho những việc làm của con người được thành công, kết quả như các thần linh xưa đã làm (khi sinh nở). Khi một đưa trẻ vừa ra đời, người ta mời một người đã được coi như vẫn tiếp xúc với thần linh đến đầu giường, đọc thần thoại về sự sáng tạo và loài cầm thú rồi mới để cho con bú. Sau này, nếu đứa bé đòi uống nước lại phải mời người đó đến đọc thần thoại về nguồn gốc nước. Khi đứa bé bắt đầu ăn được, người đó phải đến đọc thần thoại về sự sáng tạo hoa quả, ngũ cốc.

Ở Việt Nam có thần thoại về Thần trụ trời giải thích nguồn gốc trái đất (xem "Lược khảo về thần thoại Việt Nam" của Nguyễn Đổng Chi)(1). Thần sinh ra giữa một khoảng không gian mù tịt hỗn độn (nhiều dân khác cũng có). Thần đào đất và đá lên để đắp một cái cột chống trời. Khi trời và đất chia đôi, trời đã khô cứng rồi, thì thần phá cột đi lấy đát đá ném tung khắp nơi, những đất ấy hoá thành núi, đảo, cồn. Chỗ lấy đá nay là biển cả.

Thần Biển: Hình dạng như một con rùa khổng lồ nằm im một nơi không sinh không diệt. Khi thần hít thì nước tuôn vào bụng, thở thì nước phì ra hiện tượng thuỷ triều. Mỗi lần thần cựa quậy thì sinh ra sóng thần.

Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng là hai chị em được Ngọc Hoàng phân công cho đi chiếu sáng, xem xét sự lập công của dân gian. Họ có một chồng chung là con gấu. Gấu ta thỉnh thoảng tìm đến với 1 trong 2 vợ, thành hiện tượng nhật thực và nguyệt thực.

2. Nguồc gốc loài người

Những thần thoại “Bà mụ, rắn già rắn lột”(2)

3. Nguồn gốc dân tộc:

Chuyện Lạc Long Quân....

4. Thần thoại về tận thế, cứu cánh vũ trụ thường kể vũ trụ suýt bị tiêu huỷ ra sao trong dĩ vãng (hồng thuỷ, Sơn tinh, Thuỷ tinh…) vì những tai nạn kinh khủng. Lý do của những tai nạn kinh thiên động địa này là sự giận giữ của thần linh, các thần đánh nhau hay muốn chấm dứt thế giới này. Trong tương lai, cũng có thể bị tiêu diệt, một thế giới mới khai sinh ra.

5. Thần thoại có tính cách luân lý, thần thiện, ác

Ngoài cõi trần còn có cõi trời, cõi Nước (thuỷ phủ), cõi âm (âm phủ)

Thần chia làm 2 hạng: tốt, đáng kính, đáng yêu, xấu, đáng ghét, đáng sợ. Cả hai hạng Thần đều có thất tình như người. Ông Thiện, ông Ác cũng thường có chuyện tranh chấp nhau mà kết cuộc ao giờ Thiện cũng thắng Ác

6. Thần Thiện Thần Ác ở đây điều khiển đời sống luân lý của mỗi người

Thần thoại bầy tỏ sự mơ ước tuyệt đối, luống nhớ cái Hoàn tất toàn Thiện, khát vọng cãi vĩnh viễn, Trường Tồn, Bất Biến (Tiên thoại, Phật thoại) ra khỏi cái sinh, diệt sống chết lên cõi bồng lai tiên cảnh là thế giới vô cùng tốt đẹp, sung sướng. Ước mơ được thành Tiên, lấy Tiên, lên tiên, ở với tiên, chốn Thiên Thai. Tiên ở đây là biểu tượng của cái Đẹp, cái Tốt, cái vĩnh cửu không hề có trên đời này(3).

Chức năng công dụng của huyền thoại

Thần thoại trong đời sống người cổ sơ bao hàm, chi phối, chỉ đạo mọi sinh hoạt của con người cũng như mang lại cho họ một ý nghĩa sống. Thần thoại ở đây không phải là một thứ Triết Lý hiểu như một tri thức thuần tuý ( biết để mà biết) mà là một đạo sống hiểu như toàn thể những nhận thức, chân lý, lễ nghi, tập tục, tôn giáo. Malinowski đã viết:

“Nhìn như một cái gì sống động, thần thoại không phải chỉ là một giải thích nhằm thoải mãn một sự tò mò khoa học, nhưng là câu chuyện làm sống lại một thực tại nguyên uỷ, và nó đáp lại một nhu cầu tôn giáo sâu xa, những khát vọng luân lý, những ràng buộc và mệnh lệnh xã hội, và ngay cả những đòi hỏi thực tiễn. Trong những nền văn minh sơ khai, thần thoại đóng một vai trò cần thiết, nó biểu lộ nâng cao và qui định thành luật lệ. Nó bảo vệ những nguyên tắc luân lý và buộc thực hành những nguyên tắc đó. Nó bảo đảm tính chất hiệu nghiệm của những nghi lễ và đề ra những luật lệ thực tiễn cho con người vâng theo. Do đó, thần thoại là một yếu tố quan trọng của văn minh nhân loại. Không phải là một chuyện hoang đường, trái lại nó là một tại linh động mà người ta luôn luôn phải hướng tới. Không phải là một lý thuyết trừu tượng hay một phô diễn ảnh tượng nhưng là một quy định luật lệ đích thực của tôn giáo sơ khai và của đạo lý thực tiễn… Tất cả những câu chuyện đó đối với con người sơ khai đều biểu lộ một thực tại nguyên ủy, giàu ý nghĩa hơn thực tại hiện có và ấn định đời sống trực tiếp, những sinh hoạt và số phận nhân loại. Điều mà con người hiểu về thực tại đó sẽ bày tỏ cho nó ý nghĩa các lễ nghi và những bổn phận luân lý, đồng thời cách thế phải thực hiện những lễ nghi, bổn phận trên”(4).

Sự biến thiên của huyền thoại trong lịch sử

Nhiều dân tộc như Ấn Độ, Hy Lạp còn giữ lại được cả một kho tàng thần thoại. Những chuyện thần thoại vẫn tác dụng vào đời sống tình cảm con người hiện đại và là nguồn gốc cảm hứng nghệ thuật về thi ca, điêu khắc, bi kịch.

Ở nước ta chắc hẳn cũng có nhiều thần thoại, nhưng không được sưu tầm truyền tụng lại. Người ta cho rằng sở dĩ những dân tộc giữa được nhiều thần thoại là vì họ có chữ viết để ghi chép và được các thi gia kết đúc thành văn phẩm.

Ở Việt Nam, có lẽ vì chưa có văn tự riêng, lại bị ngoại bang thống trị lâu dài, nên chỉ có văn chương truyền miệng và do đó không có điều kiện ghi chép lại các thần thoại.

Đến khi nhà nho bắt đầu ghi chép, xây dựng Quốc Sử họ đã có ý thức lịch sử, biết phân biệt cái thực và cái không thực, cái tượng nên có lẽ đã loại bỏ không sưu tầm ghi chép những chuyện thần thoại hoặc sửa chữa nó thành giả sử, lịch sử nghĩa là đã lịch sử hóa thần thoại. Vì thế, nước ta còn rất ít thần thoại được lưu truyền trong dân gian. Giai đoạn tiền sử của dân tộc mà chúng ta được biết nhiều hơn cả không phải là giai đoạn thần thoại mà là giai đoạn truyền thuyết, truyền kỳ chuyện cổ tích, ngụ ngôn…

Trái lại, ở Hy Lạp, những thi sĩ như Homère, Hésiode đã san định thần thaoij thành những tác phẩm nổi tiếng như Illiade, Odyssée. Đối với người Hy Lạp thời tiền sử, thần thoại vừa là triết lý, tôn giáo, vừa là sử thi, nghệ thuật.

Riêng về nghệ thuật, người ta nói rằng sở dĩ văn nghệ Âu Châu, đặc biệt thời Hy Lạp, La Mã và thời phục hưng được rực rỡ phong phú là vì bắt nguồn cảm hứng ở thần thoại Hy Lạp. Hội họa Chiêm Thành, Cao Mên cũng lấy đề tài trong các thần thoại của họ. Ở Việt Nam, thần thoại ít có tác dụng trữ tình bằng chuyện truyền kỳ cổ tích, ngụ ngôn. Những chuyên Ngưu Lang, Chức Nữ, Thằng Cuội, Chị Hằng Nga… vẫn là nguồn gốc cảm hứng nghệ thuật trữ tình, lãng mạn trong văn thơ Việt Nam.

Marx đã nhận định về ý nghĩa của thần thoại: "Chúng ta biết rằng thần thoại Hy Lạp không những là nơi sáng tạo và là kho tàng nghệ thuật Hy Lạp mà còn là đất nuôi dưỡng nó. Phải có thần thoại Hy Lạp trước, rồi mới có nghệ thuật Hy Lạp.

Thần thoại đó là tự nhiên và là hình thái xã hội Hy Lạp đã được óc tưởng tượng của dân chúng nhào nặn bằng một nghệ thuật tự giác!"

Thần thoại trải qua diễn biến, mất dần tính cách thần linh và trở thành những câu chuyện truyền thuyết, truyền kỳ, rồi sau cùng biến thành chuyện cổ tích, ngụ ngôn… sang đến giai đoạn truyền kỳ, truyền thuyết, người ta vẫn tin những câu chuyện là có thực nhưng chỉ kể lại mà thôi, không còn có thái độ tôn giáo làm sống lại cử chỉ thần thoại theo một nghi lễ. Tuy đã mất tính chất thần linh, nhưng chuyện truyền kỳ vẫn giữ tính chất phi thường lạ lùng, đặc biệt, hoang đường của thần thoại.

Sau thời kỳ truyền kỳ lịch sử là lúc con người có ý thức lịch sử và bắt đầu biên chép sử, người chép sử gạt bỏ những câu chuyện hoang đường phi thường thuộc về thwofi kỳ thần thoại, hay truyền kỳ. Ý thức được lịch sử là biết phân biệt cái thực đã xảy ra với cái không thực, tưởng tượng, hoang đường biết phân biệt hư thực là đã có ý hướng về chân lý và để có hướng về chân lý, con người phải biết suy luận, phê phán. Thời kỳ lịch sử là thời kỳ con người dùng trí khôn để nhận thức không những về vũ trụ, cuộc đời mà cả về thần linh.

Ở Hy Lạp, những nhà triết học đầu tiên thời thượng cổ đã phê phán những chuyện thần thoại, truyền kỳ do Homère, Hesiode kể. Họ hoài nghi những thần linh là có thật, nhất là những thần linh có tác phong đầy nhân tính như tự cao, dâm dục, ghen tuông… Sau đó, các triết gia hoài nghi luôn cả những thần linh chân chính, tốt lành là có thực.

Chẳng hạn Anaximandre, triết gia Hy Lạp đầu tiên, đã đưa ra một quan niệm giải thích vũ trụ mà không dựa vào những thần thoại. Xenophane không ngần ngại đả kích những thần do Homère kể, đặc biệt những thần có khả năng chuyển động hay bất diệt. Khi phê phán thần linh, họ dựa vào lý trí, suy luận để phủ nhận thần linh có thực. Như Théon (thế kỷ II TCN) phê bình thần thoại Médée. Médée là một đàn bà phù thủy đã dùng gươm giết chết con mình, trong thành phố cha nó ở mà lý do hành động là vì giận chồng, Théon lý luận bác bỏ thần thoại là có thực như sau: nếu dựa trên tình mẹ, thì mẹ không thể nào giết con, đó là việc làm khó tin, hơn nữa lại giết ngay trong thành phố mà cha nó là Jasson đang ở. Rồi cách giết cũng cũng không thể tin được. Médée là một phù thủy, thì phải dùng bùa chú, lý do giết càng không tin được vì giận chồng mà giết con thì quả là phi lý, hành động như thế chỉ làm khổ mình hơn vì nạn nhân chính là con của mình.

Như thế thời kỳ này đã có những hoài nghi về thần thoại xuất hiện.

Đến Planton có thể coi sự suy luận đạt tới được một hình thức triết học, vì ông phê phán thần thoại để xây dựng một hệ thống triết học trong đó thần linh không còn có một vai trò nào nữa. Thiện, ác mà ông đề cập tới chỉ là một tiêu chuẩn của luân lý, đạo đức mà thôi. Trong giai đoạn này thần linh theo một số triết gia được coi là nguyên lý của vũ trụ chứ không phải một nhân vật, một cá thể có nhân tính như trong huyền thoại.

Lần dở lịch sử Tây phương thời thượng cổ về triết học, ta có thể coi Socrate như một trường hợp điển hình về sự tự giác, phản tỉnh: ý thức về bản ngã như là một cá tính khác biệt với thiên nhiên và vũ trụ. Socrate nêu lên một đòi hỏi căn bản là đừng để mình bị lôi cuốn, vì người chưa có ý thức là người mà bản ngã bị đắm chìm trong tập thể, trong vô ngã. Sự tự giác bắt đầu bằng thái độ hoài nghi.

Hoài nghi là đặt khoảng cách giữa chúng ta và những điều chúng ta hoài nghi. Hoài nghi là rút ra khỏi thực tại để nhìn lại thực tại. Vì thế ta không còn thái độ tôn kính và chấp nhận quyền bính của đối tượng mình tin, không chấp nhận huyền bí bao hàm trong thần thoại. Socrate là người đầu tiên bị bắt đầu hoài nghi khi nêu lên khẩu hiệu “Hãy tự biết mình” nghĩa là hãy trở về với mình, tìm hiểu mình là ai? Có bổn phận gì? Có bổ phận đối với ai? Nên làm gì? Không được làm gì? Phải làm gì? Khi đã trả lời rồi thì phải tuân phục mệnh lệnh dựa trên nhận thức đó chứ không phải dựa trên thần linh hay một thế lực nào khác. Vì tư tưởng trên được coi là lập dị, nên Socrate đã gặp phản ứng của một xã hội đang đắm mình trong niềm tin vào thần linh. Ông bị kết án, nhưng ong vui lòng chấp nhận cái án bất công đó. Ta có thể gọi đó là cuộc cách mạng của Socrate, người đầu tiên tiêu diệt thần thoại, huyền thoại vì chúng không dựa trên một nền tảng hợp lý.

Cuộc cách mạng Socrate là một cuộc cách mạng về tâm trí, tinh thần. Ông là người đi tiên phong trong việc dùng lý trí suy luận để tìm cho đời mình một ý nghĩa chứ không tìm ở các vì sao, thần linh. Do đó ông coi lý trí như khả năng chỉ đạo độc nhất trong cuộc hành trình hướng về chân lý. Theo ông cái gì đã được suy xét mà tin, được coi là đúng chứ không phải vì xã hội, tập thể hay vì thần linh. Như thế, con người tự coi mình có trách nhiệm khám phá bằng cách hoài nghi, mỉa mai, phê phán những thần thoại. Tư đó ta có thể phân biệt tri thức và huyền thoại như Gusdorf đã viết: “Thần thoại là một sự hiểu biết nhận được mà có, còn tri thức là do tìm hiểu mà có”.

Cuộc cách mạng Socrate là một cuộc cách mạng bao hàm tính chất nhân bản. Vì lần đầu tiên ông đã tìm được chân lý về sự cứu rỗi con người là ở nơi con người và do chính con người. Thái độ những triết gia tiền Socrate là thái độ suy tư tìm hiểu vũ trụ, thiên nhiên, mà không tìm hiểu con người và cũng không thèm để ý đến con người nữa. Nhưng, thực ra trước Socrate các triết gia không phải hoàn toàn không để ý đến con người. Trái lại họ vẫn để ý đến con người về phương diện giáo dục, sư phạm, đạo đức, chính trị. Ý tưởng cách mạng người ta gán cho Socrate căn cứ vào câu nói của Ciceron:

“Tôi chỉ cần nói rằng, cho đến Socrate đề đệ của Archélaos đồ đệ của Anagore thì triết học chỉ dạy khoa toán số, những nguyên lý của sự chuyện động và nguồn gốc sự sinh thành và sự tan rã của mọi vật. Triết học tìm kiếm một cách cẩn thận, sự vĩ đại những khoảng cách xoay vần của tinh tú và sau cùng, của mọi vật trong vũ trụ. Socrate là người đầu tiên đưa triết học từ trên trời xuống đất, đem triết học không những vào thành thị mà còn vào cả trong gia đình, và buộc triết học hướng dẫn đời sống, phong tục, cái tốt, cái xấu”.

Đặc điểm của cuộc cách mạng Socrate không phải ở chỗ ông đã khám phá ra một đối tượng mới của triết học, trước đây là vũ trụ, bây giờ là con người, trước đây là triết học, là vũ trụ luận bây giờ là đạo đức học. Vì thực ra các triết gia tiền Socrate cũng không bỏ rơi hoàn toàn con người, nhưng ở chỗ Socrate khám phá ra con người như một chủ thể, nói cách khác, con người không phải chỉ là đối tượng của nhận thức mà còn là chủ thể của nhận thức, điều đó có nghĩa là con người vừa là khởi điểm tư tưởng vừa là nền tảng của tri thức: Tự mình tìm lấy cho mình một ý nghĩa cuộc đời và tự mình đảm nhiệm lấy số phận cuộc đời mình, không dựa vào một thế lực, quyền bính, niềm tin nào khác ở ngoài con người, vì người ta vẫn có thể suy nghĩ về con người nhưng đặt nền tảng của suy tưởng, của đời người vào một thực tại khác (thần linh, thượng đế…) Socrate là một hiền triết không có đồ đệ, cũng không viết sách, để lại một gia tài tư tưởng nào. Chính vì quan niệm mọi người phải đảm nhiệm lấy cuộc đời mình nên Socrate coi việc giảng dạy, giáo dục không phải nhằm truyền bá một học thuyết, một kiến thức nhưng là gây ý thức để người được giáo dục tìm lấy một con đường mà đi, làm cho tâm trí người được giáo dục thức tỉnh để họ tìm lấy kiến thức.

Một trường hợp tương tự ở Đông Phương là Phật Thích Ca.

Thời đó, Ấn Độ giáo rất thịnh. Đây là một đạo phiếm thần coi sự cứu rỗi của con người tùy thuộc vào các Thần linh. Thần Brahma là nguồn gốc vũ trụ. Mọi sự đều do Brahma mà ra, mọi sự chỉ là những hình thái khác nhau của Brahma rồi khi bị tiêu diệt lại trở về với Brahma. Con người cũng chỉ là một hình thái của Brahma. Bên cạnh thần Brahma còn có nhiều thần khác như thần Indra là thần Phong Vũ, Thần Anni là Hỏa, Thần, Thần Civa, Thần Ác, phá hoại, thần Visno.

Lúc Phật ra đời, là lúc tình hình tôn giáo trên đã suy sụp, bọn thầy Balamôn bày ra nhiều trò mê tín dị đoan dạo nạt đám dân ngu còn bọn nhạc công để thờ Thần Visnu thì biến thành những bà đồng nói điều họa phúc. Tình hình chính trị cũng nát bét, dân chúng khổ cực. Đạo Phật lúc đó xuất hiện như một công trình đả phá những mê tín, dị đoan, lệ thuộc vào thần linh, như một duy thức chủ yếu dựa vào sự tự giác: biết mình, biết đời, từ đó xác định một nhận thức một con đường tự cứu rỗi…

Có thể gọi dự phóng nền tảng của phật là nhằm phá cái vô minh, phá tất cả những gì là chấp, vọng, giả (chấp ngã, vọng tưởng vọng ngũ, vọng ngoại, giả tưởng…) vì những cái chấp vọng giả chỉ là ảo tưởng mà người còn vô minh coi là chân thực hoặc đã đặt sự giải thoát của mình vào những thực tại, thế lực bên ngoài (thần linh). Những phê phán của Phật về chấp vọng giả làm cho ta liên tưởng tới khái niệm vong thân của Hegel và Marx.

Vậy sự giải thoát là ở chỗ diệt chấp, vọng, giả, kéo con người ra khỏi tình cảnh “vong thân” để vãn hồi bản chất thực sự của mình… Công trình đó mỗi người phải đảm nhiệm lấy không thể trông nhờ vào ai khác. Tha lực là tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) chỉ giữ vai trò hỗ trợ, thứ yếu mà thôi. Đức Phật không đóng vai trò nào trong việc giải thoát của mỗi chúng sinh. Đức Phật chỉ là người đã tìm ra một con đường giải thoát, đã đi vào con đường đó và bây giờ chỉ dẫn cho người khác đi, chứ không thể đi hộ ai được. Nếu so sánh với đức Kitô trong Thiên chúa giáo, người ta thấy đức Ki tô giữa một vai trò chủ yếu trong đời sống tín hữu. Chính Ngài là chân lý, là con người đưa tới chân lý và sau cùng cũng là sự sống chân lý đó. Theo Kitô giáo chủ yếu là theo một người và nên Thánh là trở thành người đó (Đức Kitô).(5)

Sự giải thoát, chủ yếu cũng chỉ là một nỗ lực nhận thức (suy niệm, thiền định, giác ngộ) chứ không phải là sống đạo theo nghĩa thường (lễ nghi, cúng tế, cầu khẩn…) và mong được phúc…

Như vậy, cuộc cách mạng tư tưởng của Phật giáo có nhiều điểm giống với cuộc cách mạng của Socrate, vì cả hai đều đặt căn bản vào tự giác.

Hình ảnh Phật Thích Ca cỡi ngựa chạy trốn trong đêm khuya, bỏ lâu dài, mọi thú vui trần tục, để bước vào con đường giải thoát: một mình dấn thân vào cuộc phiêu lưu cô độc chống lại với cả Thế gian, với chính mình, với cả ma vương thần linh bảy tỏ một nỗ lực tự giác, đả phá thần thoại và một nhân bản mới: tự mình cứu mình…

Ý thức phản tỉnh, đưa tới thời kỳ lịch sử cũng chấm dứt thái độ hồn nhiên, hòa đồng với thiên nhiên vũ trụ. Con người biết mình khác với vũ trụ tuy ở trong vũ trụ, khác với tha nhân, và sau cùng biết được mình như một ý thức, một tinh thần khác với thân xác của chính mình.

Theo quan niệm cũ, người sơ khai, ở thời kỳ tiền sử, không có ý thức về thân xác như ột tư thân, xác tôi, vì chỉ có ý thức mới biết được mình có thân xác, nhưng người sơ khai sống hòa đồng với thân xác là thân xác, nên chưa ý thức được. Vì không có ý thức về thân xác nên người sơ khai cũng không biết thẹn. Thẹn, e lệ là một tình cảm biểu lộ ý thức về tự thân như một giá trị cần phải được che giấu và bảo vệ, do đó người sơ khai không mặc quần áo.

Ngược lại có ý thức về tự thân biểu lộ con người văn minh như Maurice Lennhart một nhà Nhân chủng học đã thuật lại lời nói của một thổ dân Caledonie nói với một vị thừa sai khi vị này hỏi người Âu Châu đã mang đến cho họ điều gì. Trong bụng vị thừa sai đinh ninh câu trả lời sẽ là: Các ông đã mang đến cho chúng tôi tinh thần. Nhưng ngược lại thổ dân đã nói: “Điều mà các ông mang lại cho chúng tôi là thân xác” (De Kamo).

Sau đó ông chứng minh: "Người sơ khai là người đã không lãnh hội được mối liên lạc giữa thân xác mình với chính mình và như thế họ đã không thể cá biệt hóa thân xác của họ."

Thực ra, người sơ khai có ý thức về thân xác của họ, họ cũng biết e thẹn nhưng chỉ biểu lộ tình cảm đó khác ta mà thôi. Trong cuốn “La Pudeur” Max Scheler đã kể chuyện một vị thừa sai bắt ép một cô gái thổ dân trần truồng phải che đậy chỗ kín nhưng đến khi cô đã che đậy, cô lại đâm ra thẹn không dám ra trước công chúng nữa vì người sơ khai cho rằng chính da thịt của mình đã là một cách che giấu và nếu người ta còn mặc thêm cái gì thì chỉ làm cho người khác để ý hơn, nghĩa là bày tỏ cái định che giấu.(6)

Người ta tin rằng khi con người bước vào thời kỳ lịch sử là ra khỏi hẳn thời kỳ thần thoại, huyền thoại, đồng thời quan niệm sự tiến bộ văn minh đánh dấu bằng những nỗ lực phê phán, tiêu diệt thần thoại, huyền thoại.

“Con người khám phá ra huyền thoại, và đối với người đã cho rằng huyền thoại là huyền thoại thì người đó đã đoạn tuyệt với huyền thoại”. (Gusdorf. Myth et Metaphysique, tr 133)

Đối với người tin huyền thoại, huyền thoại là chân lý nhưng đối với người đã giác ngộ, huyền thoại là sai lầm, hoang đường. Sự giác ngộ, phê phán càng gắt gao, đòi hỏi chính xác càng sâu sắc, huyền thoại càng mất giá trị. Cho nên Brunschvicg một triết gia duy lý đã xác định sự tiến bộ của tư tưởng như một nỗ lực gạt bỏ triệt để huyền thoại. Lý trí tiêu diệt huyền thoại như ánh sáng đánh tan bóng tối. Con người chỉ tin ở lý trí, bởi lý trí là ông Tòa phán định phải trái, hư thực. Niềm tin vào lý trí ở mức độ cao nhất là niềm tin của duy lý, một chủ nghĩa chỉ tin ở lý trí như là nguồn gốc chân lý.

Paul Valéry viết:

“Cái càng chính xác, càng làm chết huyền thoại. Dưới cái nhìn chặt chẽ và dưới những đợt tấn công liên hồi đồng quy, bằng những câu hỏi, những tra vấn mà lý trí nêu lên ở mọi nơi, các bạn sẽ thấy huyền thoại chết dần và càng ngày càng nghèo đi”.

Triết gia Alain cũng cho rằng thời kỳ huyền thoại bảy tở một tình trạng ấu trĩ của con người, tình trạng thụ động và lệ thuộc vào người khác. Vì thế tư tưởng khoa học đã chống lại huyền thoại, khoa học đề cao sự phân tích, sự chính xác, mạch lạc và có thể đo lường kiểm chứng được.

Berthelot, một nhà khoa học đã bày tỏ sự chống đối mãnh liệt: “Thế giới này không còn huyền bí nữa, dù sao vũ trụ vật chất cũng là lĩnh vực của khoa học và không ai dám chống cự lại đòi hỏi mãnh liệt đó. Khái niệm phép lạ và siêu nhiên tan biến như một ảo ảnh vô ích, một thiên kiến lỗi thời”.

Thái độ trên mang tính chất quá khích, gạt bỏ thần thoại, triết học và ngay cả tôn giáo. Vũ trụ của nhà khoa học đã giản lược vào những điều khả tri và được diễn tả cách chính xác, minh bạch. Nhưng chính những tiến bộ khoa học đã bắt những nhà khoa học duyệt lại thái độ lạc quan đó. Chẳng hạn vật lý nguyên tử xuất hiện đã đem vào vũ trụ một sự tình cờ, như không thể nào xác định rõ rệt được tốc độ của một quang tử mà trước đó đã bị gạt bỏ trong quan niệm vật lý cổ truyền.

Về phương diện sinh lý, triết học Bergson là một phát búa đầu tiên đánh vào niềm tin duy lý khi quan niệm này cho rằng, sinh lý không hoàn toàn bị quy định bởi vật chất vô cơ, Bergson đã phục hồi lại ý nghĩa, vai trò của tư tưởng huyền thoại. Một số các nhà nhân chủng, dân tộc học, triết gia như Lesvi-Strauss, Merleau-Ponty, Eliade, Vander Lewe chứng minh rằng không thể gạt ra ngoài đời sống con người, dù trong hiện tại, cái mà người ta cho rằng huyền thoại hay thần thoại. Nói cách khác, tư tưởng và thái độ huyền thoại gắn liền với bản chất con người, chứ không phải là nó xác định thời kỳ huyền thoại.

Những câu chuyện được kể hay những hình thức diễn tả có thể khác nhau, nhưng tựu trung thái độ hay cơ cấu huyền thoại vẫn còn đó. Ngày nay người ta vẫn bày tỏ huyền thoại nhưng những bày tỏ ấy mang hình thức, cách thể diễn tả, kết cấu câu chuyện khác xưa mà thôi.


Sự tồn tại của huyền thoại trong thời kỳ lịch sử

Thực ra thần thoại, huyền thoại không phải chỉ là những biểu lộ của thời kỳ tiền sử của con người cổ sơ, chưa có văn minh và khi đã sang thời kỳ lịch sử, không còn thần thoại, huyền thoại mà chỉ là câu chuyện kể. Cái không thay đổi, cái vẫn còn trong thời kỳ lịch sử là cơ cấu của thần thoại, là thái độ huyền thoại. Ngày nay, người ta không còn tin những câu chuyện thần thoại thuở xưa nhưng không phải vì thế mà không còn thái độ huyền thoại cổ xưa.

Nếu coi điểm cốt yếu trong thái độ tạo ra huyền thoại là một niềm tin, có nghĩa như một đầu hàng của lý trí, và điều tin được coi như một sự thực hiển nhiên không dựa trên một nền tảng kiểm chứng nào và tin với một thái độ tôn kính sùng bái, không thắc mắc, thì con người lịch sử, con người hiện đại vẫn giữ thái độ tin có tính chất huyền thoại như con người cổ sơ. Do đó cái thay đổi, không phải là thái độ huyền thoại, mà chỉ là đối tượng của niềm tin mà thôi.

Thái độ huyền thoại chống lại sự hoài nghi dự định đặt lại vấn đề, sợ không dám nghĩ đến sự có thể đặt lại vấn đề (niềm tin càng mạnh, càng sợ không dám hoài nghi thắc mắc) đồng thời cũng chống lại người khác khi họ muốn đặt lại vấn đề niềm tin của mình. Niềm tin do đó có tính chất linh thiêng, đòi hỏi một thái độ tôn kính, nói đến phải nghiêm chỉnh, thành khẩn và nếu ai dám hoài nghi, phê phán người đó bị coi là xúc phạm, phạm thượng như đụng đến một sự thánh. Chẳng hạn: Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Đó là một niềm tin có tính chất huyền thoại. Nếu ai dám thắc mắc hoài nghi tìm hiểu xem thực sự có văn hiến từ 4000 năm nay không sẽ bị coi là xúc phạm đến dân tộc, mạ lỵ truyền thống.

Hiểu như thế, thái độ tạo ra huyền thoại bao quát mọi sinh hoạt của con người và huyền thoại không còn phải chỉ là một đối tượng khảo cứu của nhà dân tộc học mà là một khái niệm, phạm trù của ngôn ngữ hiện đại, của đời sống hàng ngày. Những đòi hỏi về ý nghĩa, nguồn gốc vũ trụ, loài người, về sự tận thế, sự cứu rỗi nhân loại, thiện ác, khao khát cái tuyệt đối, vĩnh cửu, toàn thiện… là chủ đề của những thần thoại xưa kia bây giờ vẫn bao hàm trong những sinh hoạt tư tưởng, triết lý, văn chương, chính trị, xã hội của con người hiện đại.

Một vài ví dụ:

Khoa học

- Cái sọ của Einstein: Đối với quần chúng chỉ biết hưởng thụ những kết quả của khoa học, thì khoa học viết chữ hoa là một huyền thoại. Chẳng hạn Einstein. Quần chúng chẳng hiểu gì về Einstein, về thuyết tương đối của ông, nhưng được nghe nói Einstein là nhà bác học nổi tiếng lắm, tự nhiên sinh lòng tôn trọng, kính nể, mường tượng khối óc của Einstein chắc phải đặc biệt lắm vì thông mình là ở óc. Cho nên đối với quần chúng khoa học là cái sọ của Einstein. Chính vì thế mà có nhiều nhà thương bên Mỹ tranh nhau xin cái sọ đó vì người ta tin rằng cái sọ đặc biệt kia có một khả năng khám phá vô hạn đã làm cho Einstein trở thành thiên tài.

- Bút chì BIC: Quần chúng chẳng hiểu gì về nguyên tử lực nhưng cứ tưởng tượng nguyên tử lực chắc phải ghê gớm lắm (nghĩ tới bom nguyên tử) có sức phá vô biên, khủng khiếp. Khi cái bút chì BIC được nhập cảng vào Việt Nam, không biết người nào đã khéo léo lợi dụng niềm tin có tính chất huyền thoại của quần chúng khi quảng cáo bút chì BIC là bút nguyên tử.
Nguyên tử là cái vô hạn, bút bằng mực nguyên tử là bút không bao giờ hết mực, do đó bút nguyên tử tượng trưng cho khả năng vô hạn của khoa học. Nhà khoa học, biết nguyên tử mạnh thật, nhưng cũng biết rõ giới hạn của sức mạnh đó (tính bằng kilô, mégalone). Trái lại quần chúng chỉ hiểu nguyên tử là mạnh vô cùng Đó là một miền tin không dựa trên cơ sở kiểm chứng nào, một niềm tin bao hàm sự thán phục, không nghi ngờ… Do đó bút nguyên tử là một huyền thoại.

- Huyền thoại về con số: Số đông, só nhiều cũng thường tạo ra huyền thoại về tính cách không thể đếm được, không thể hiểu được của nó, do đó con số nhiều, số đông có tính chất huyền bí, có thể mê hoặc, huyền diệu quần chúng. Đối với quần chúng, khi nói tỷ phú, ức triệu thì họ chỉ hiểu là nhiều lắm, không thể đếm được vô hạn với một thái độ thán phục, tuy thực ra đối với nhà kế toán thì tỷ, ức, triệu vẫn có thể đếm được và không ngạc nhiên chút nào. Số đông số nhiều về tiền bạc, dân cư, sản xuất. Những kiểu nói: tầng lớp đông đảo, muôn ngàn kéo về như thác đổ, người người lớp lớp tiến lên… đều có tác dụng mê hoặc, huyền diệu vì tượng trưng cho số đông, số nhiều không thể đếm được, vô hạn, tuy thực ra dù đông thế nào đi nữa cũng vẫn có thể đếm được.

- Huyền thoại khoa học: Nhà khoa học khi tin rằng khoa học có thể giải quyết được mọi sự như niềm tin của các nhà duy khoa học, duy lý cuối thế kỷ XIX thì niềm tin đó cũng là huyền thoại, vì thực ra khoa học có giới hạn. Vậy khi nhà khoa học gán cho khoa học một khả năng tuyêt đối, vô hạn và tin như thế, niềm tin đó có tính chất huyền thoại vì đã rõ niềm tin trên không dựa trên mọi cơ sở kiểm chứng nào. Tin khoa học giải quyết được mọi sự không phải là một thái độ khoa học, một thái độ luôn luôn chỉ quả quyết cái gì có thể kiểm chứng được nhưng là một thái độ huyền thoại.

Triết học

Suy tưởng triết lý dựa vào lý trí cũng không hoàn toàn tránh mọi thái độ huyền thoại. Trước hết có một niềm tin ở khởi điểm suy luận, hầu như vô thức làm nền tảng cho ý hướng tra hỏi nhận thức nhà triết học, đó là niềm tin có chân lý và có thể tìm thấy chân lý. Nhà triết học có thể hoài nghi mọi sự về đối tượng mục đích, quan niệm triết học nhưng ở khởi điểm suy luận, phải tin vào một cái gì là chân lý để có thể đi tìm. Niềm tin đó cũng không dựa trên một cơ sở kiểm chứng nào cả. Sau đó ý hướng triết học cũng thường bao quát, nhằm các toàn thể và hàm chứa ước muốn chấm dứt triết học với quan niệm của mình, một niềm tin bao quát, triệt để tiêu biể là niềm tin của Hegel. Triết học Hegel nuôi tham vọng bao quát toàn thể thực tại, toàn thể lịch sử nhân loại không những nhằm giải thích quá khứ, hiện tại mà cả tương lai, vì Hegel đã dành sẵn cho những triết học sau Hegel một chỗ đứng trong hệ thống toàn diện của ông. Nhưng niềm tin đó chỉ là một huyền thoại. Vì hệ thống triết học nào càng bao quát, hoàn tất, càng đặt nhiều vấn đề hơn như thể chẳng chấm dứt được gì, mà chỉ nêu thêm nhiều thắc mắc, khó khăn hơn.

Chính trị, xã hội

- Huyền thoại cách mạng: Cách mạng hiểu như một niềm tin thật sự, chứ không phải cách miệng, chỉ là chiêu bài, lừa bịp, cũng bao hàm tính chất huyền thoại.

Huyền thoại cách mạng gắn liền với thần thoại liên hệ đến sự cứu rỗi, khát vọng cái tuyệt đối, mang nặng tính chất tôn giáo và về sự tận cùng lịch sử. Chẳng hạn cách mạng macxit giống các huyền thoại tôn giáo của nhiều dân tộc xưa về vai trò cứu rỗi, cứu thế của kẻ công chính. Spartacus giải phóng nô lệ, chúa Kitô mang trong mình mọi đau khổ của nhân loại có sứ mệnh lịch sử chấm dứt những lầm than tội lỗi của thế giới. Marx đã so sánh người vô sản như đấng Ki tô vì những đau khổ lầm than của giai cấp vô sản cũng tiêu biểu cho một nhân loại đau khổ và giai cấp vô sản có sứ mệnh làm cách mạng tiêu diệt một chế độ phi luận san bằng chênh lệch giai cấp, thực hiện thế giới đại đồng chấm dứt bạo động lịch sử.

Đấng cứu thế… giai cấp vô sản
Sự ly khai với trật tự cũ, con người cũ… cách mạng
Thiên đàng… xã hội không giai cấp, người làm hòa với người
Giáo hội… Đảng

Eliade, một nhà dân tộc học đã nhận định: “Xã hội không giai cấp của Marx và sự tan biến những giằng co lịch sử phản ánh đúng huyền thoại thời hoàng kim, là thời theo nhiều truyền thống khác nhau, xác định khởi điểm và tận cùng lịch sử. Marx đã làm cho huyền thoại đó phong phú bằng tất cả ý thức hệ cứu rỗi bắt nguồn từ đạo Do thái và Kitô giáo: một đàng, vì vai trò tiên tri mà ông gắn cho vô sản, đàng khác, vì sự tranh đấu giữa thiện và ác mà người ta dễ dàng liên hệ với cuộc tranh chấp có tính chất khải huyền giữa đấng Kitô và Satan, đưa đến sự chiến thắng của đấng Kitô. Thật là đáng chú ý khi thấy Marx lấy lại hy vọng của đạo Do Thái, Kitô giáo về sự tận cùng tuyệt đối của lịch sử, do đó Marx không giống những triết gia khác như Croce, Ortegay Gasset đã quan niệm những giằng co lịch sử như là gắn liền với bản chất thân phận con người và do đó không bao giờ chấm dứt được. (Mythes, Rêves et Mystéré, tr 20-21)

Nicolas Berdioegff, một triết gia Nga theo chính thống giáo cũng nhận xét tương tự trong cuốn “Nguồn gốc và ý nghĩa Cộng sản Nga”: Dân Nga trong khi làm cách mạng Marx cũng chỉ là muốn thực hiện huyền thoại coi dân tộc mình là dân tộc cứu thế như dân tộc Do Thái xưa. Do đó cộng sản Xô Viết khi tin tưởng mình lãnh đạo công trình giải phóng nhân loại chẳng qua cũng vẫn là sống theo một huyền thoại bắt nguồn từ Do thái, Ki tô giáo.

Niềm tin cách mạng của Marx và người theo Marx có tính chất huyền thoại vì Marx và người Macxít tin rằng có thể chấm dứt được bạo động, những mâu thuẫn giữa người với người, những giằng co lịch sử. Các tôn giáo đều tin như vậy. Niềm tin của Marx chỉ khác niềm tin tôn giáo ở chỗ Marx cho rằng có thể thực hiện sự hòa đồng ngay ở đời này và do chính con người.

- Huyền thoại chính trị văn hóa: Chẳng hạn những huyền thoại “khai hóa” pháp việt đề huề… trong chính sách thực dân Pháp trước đây ở Việt Nam(1) hay những huyền thoại bảo vệ Thế giới tự do, viện trợ chính sách thực dân mới.

Huyền thoại trong văn nghệ

Có lẽ trong văn chương, huyền thoại sống động hơn cả, vì một đàng nhà văn sáng tạo theo tưởng tượng hơn là theo tinh thần suy luận phê phán, sử dụng một thái độ thụ động nhạy cảm, hòa đồng với vũ trụ, sự vật nhiều hơn là thái độ lãnh hội khách quan, đàng khác người đọc cũng thường có thái độ thông cảm, hòa mình với câu chuyện, nhân vật trong chuyện vui, buồn, giận, lo lắng, chờ đợi như các nhân vật. Hòa đồng là một đặc điểm của thái độ huyền thoại.

Hơn nữa, nội dung tác phẩm văn nghệ cũng thường phản ánh những đề tài quen thuộc của thần thoại xưa kia, nhất là đề tài thiện ác, anh hùng cứu nhân độ thế. Đặc biệt trong loại truyện trinh thám, phiêu lưu.

Cơ cấu của trinh thám thường là: có một tội ác xảy ra. Nhà trinh thám tiêu biểu cho chân lý, sự thiện của nhiệm vụ tìm ra tội nhân, tội phạm (cái acs0 còn đang lẩn trốn, bí mật. Câu truyện là một mô tả cuộc điều tra, lùng bắt tội phạm và rút cuộc thế nào cũng thành công. Thiện thắng ác. Người xem, đọc truyện, ngay từ lúc đầu đã đồng hóa với chàng trinh thám và mong ước thế nào chàng ta cũng sẽ thắng. Đó là tình tự đã là nội dung, chủ đề của rất nhiều thần thoại, huyền thoại ngày xưa, bây giờ xuất hiện dưới hình thức truyện trinh thám giáo dục.
Huyền thoại người lớn

Khi dạy dỗ con cái, cha mẹ, thầy giáo nhân danh tiêu chuẩn gì?

Cha mẹ muốn đào tạo con cái theo khuôn mẫu nào? Cha mẹ thường mong con cái giống mình. Nhân danh những tiêu chuẩn ucar xã hội người lớn để đào tạo con trẻ trở thành người lớn. Nhưng phải chăng người lớnlà một huyền thoại?

Người ta đề nghị với trẻ con một lý tưởng: trở thành người lớn. Người lớn là cái đích của học vấn, giáo dục. Người lớn là người hiểu biết, người hiểu đời, người trưởng thành, người đứng đắn, coi việc làm lụng, ăn nói, giao thiệp lập công danh sự nghiệp là quan trọng.

Trước khi trở thành người lớn, trẻ con chỉ tiêu biểu cho thời kỳ ấu trĩ, thời kỳ chưa phải là người hoàn toàn và thân xác còn cần được nuôi nấng cho lớn và về tinh thần, còn cần được dạy dỗ cho khôn ngoan, hiểu đời.

Tuổi trẻ là tuổi còn vô tư chưa suy nghĩ, đắn đo, chẳng coi cái gì là quan trọng. Do đó, để chỉ thị một cách khinh miệt tất cả những gì không phải của người lớn, người ta nói: đồ trẻ con, hay truyện đàn bà, con nít. Đứng ở quan điểm của người lớn, và rõ hơn của người đàn ông tuổi trẻ không có một ý nghĩa tự tại, một giá trị riêng biệt của nó, nhưng chỉ có ý nghĩa như một sẳ soạn tiến tới tuổi trưởng thành, tuổi người lớn. Cho nên phải mau chóng qua thời sửa soạn để đến đích, tuổi trưởng thành là người lớn được giao thiệp với người lướn, được ăn nói đi lại với người lớn…

Xã hội con người, được tổ chức, theo quan niệm, quy luật của người lớn và đôi khi trong một hoàn cảnh tệ hại hơn nữa của người đàn ông, về mọi phương diện: luân lý, giao tế, chính trị, văn hóa, giải trí…

Giáo dục trẻ con là dạy cho trẻ con biết những quy luật đó và tập cho chúng giữ gìn thực hiện. Quan điểm, quy luật của người lớn chi phối, hướng dẫn đời sống trẻ con, không những về phương diện “những gì được coi như là đứng đắn: ăn học, giao thiệp…” mà còn cả những gì về phương diện chơi đùa.

Người lớn coi trẻ con như mình, chỉ nhỏ hơn về thân xác mà thôi. Cho nên những đồ chơi làm cho trẻ con đúng là những đồ dùng của người lớn, ở cỡ trẻ con. Những đồ dùng này phản ảnh những sở thích, trình độ kỹ thuật của người lớn ở một giai đoạn nào đó. Thế giới trẻ con là thế giới người lớn ở cỡ nhỏ. Thế giới đó phản ánh đúng hệt những tương quan xã hội người lớn, đồ chơi nhằm làm cho con tre quen với thế giới người lớn, sửa soạn cho nó trở thành người lính, người phi công, người tài xế, người mẹ, người nội trợ… sau này.

Đồ chơi người lớn làm cho trẻ con là đồ chơi bắt chước đồ dùng của người lớn, lấy xã hội người lớn làm lý tưởng vươn tới do đó chỉ đòi hỏi trẻ con vâng phục, bắt chước, trong khi đáng lẽ phải tạo ra những đồ chơi nhằm phát triển óc sáng kiến của trẻ con. Chính vì những đồ chơi bắt chước đồ dùng của người lớn chỉ tập cho trẻ con thành một người sử dụng cái đã có sẵn, do đó, bóp chết óc sáng tạo, hứng thú của sáng tạo mà thật ra cũng không được sử dụng thực sự vì chỉ là đồ chơi, nên trẻ con chóng chán và rất dễ vứt bỏ những đồ chơi đã chán mà không thương tiếc.

Nhưng đến đây lại hỏi, có tuổi trưởng thành, có người lớn như một lý tưởng không? Người lớn khác trẻ con và hơn trẻ con vì là người đứng đắn, nghiêm nghị, khôn ngoan, đắn đo, lịch thiệp, sâu sắc… Nhưng có thực người lớn là đứng đắn, khôn ngoan, lịch thiệp hay chỉ làm ra vẻ đứng đắn đóng vai người lịch thiệp, giả vờ người khôn ngoan trong những chức vụ rất trịnh trọng, ông Giám đốc, ông bác sĩ, ông thương gia, ông tướng lãnh?

Nói cách khác có một người lớn thật sự không hay chỉ có người đóng vai người lớn, nghĩa là cố mà hấp thụ lấy một số ý tưởng, cảm nghĩ, lề lối, ăn mặc, cư xử phù hợp với tư cách, vai trò mình đóng trong xã hội người lớn.

Hãy thử vào một hội trường chính trị, một giảng đường. Mọi người đều ngồi rất đứng đắn, nghiêm trang, chăm chú nghe những lời nghị luận rất quan trọng về chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, luân lý. Thật có vẻ người lớn lắm, trẻ con đâu được bén mảng đến những nơi đó? Nhưng có thực họ đứng đắn nghiêm trang chăm chú nghe và tin ở những lời nói hay, đẹp không hay chỉ giả vờ đứng đắn, làm bộ nghiêm trang, chăm chú nghe? Hãy để ý người lớn bàn tán chuyện buôn bán, chuyện làm ăn, hãy xem họ giao tiếp, ăn nói, thật khôn ngoan đắn đo, lịch thiệp.

Một lúc sau, họ ngồi với nhau nhậu nhẹt tự do thế là nào văng tục, nào nói nhảm nhí bẩn thỉu rồi đến nói xấu người này, chửi bới người nọ, những người mà họ vừa rất lịch thiệp xã giao kính trọng. Dĩ nhiên, đó cũng là chuyện “Người lớn” không để cho đàn bà con nít nghe được. Họ nói đạo đức nhưng đọc sách khiêu dâm, đi xem phim dành cho những người lớn trưởng thành và cấm trẻ em dưới 16 tuổi, để được theo con người đích thực của họ trong bóng tối một chốc lát bằng ái tình gian lận, bằng ngoại tình trí óc hay ngoại tình chân tay.

Cho nên, người lớn chỉ làm ra vẻ người lớn để dụ dỗ, hướng dẫn, cai trị trẻ con, còn trong thực tế, xã hội người lớn thường là một xã hội bẩn thỉu, lường gạt, gian lận… Trở thành người lớn không phải là trở thành “con người” hơn mà chỉ biết đóng vai người lớn và càng đóng khéo, càng là “người lớn” bấy nhiêu.

Điều đó được chứng minh ngay trong việc người lớn giáo dục trẻ con. Chẳng hạn, khi mà có khách đến chơi, mang quà cho trẻ con, trẻ con trông thấy thèm, muốn ăn. Cha mẹ lừ mắt, rồi khi khách ra về, cha mẹ dạy con: “Từ nay trở đi, nếu có khách đến chơi, mang quà, thì dù có muốn ăn cũng phải lễ phép thưa: “Con không dám ạ”. Như thế mới là con nhà có giáo dục.” Giáo dục như thế phải chăng chỉ là khéo giả hình?

Do đó, có thể nói trong rất nhiều trường hợp, người lớn chỉ có sự khác biệt với trẻ con là sự khác biệt về hình thể thân xác. Người lớn là lớn hơn trẻ con về thân xác mà thôi. Người lớn không có một ý nghĩa luân lý, không phải là một lý tưởng để trẻ con vươn tới. Vì rằng người lớn không hề có nghĩa là trưởng thành đầy đủ về tinh thần hay về luân lý. Không bao giờ con người là “người” hoàn toàn về nhận thức, hay về đạo đức. Con người hoàn toàn vẫn là lý tưởng suốt đời phải vươn tới mà cũng không đạt tới được. Cho nên vẫn phải học làm người, vẫn phải trở thành mãi mãi.

Như thế, phải nhìn nhận rằng, người lớn là một huyền thoại vì thực ra không có người lớn như một mẫu người điển hình, một lý tưởng về con người. Huyền thoại người lướn là một công cụ người lớn dùng để bịp trẻ con, đồng thời, bịp cả chính mình, vì người lớn bịp mà không biết mình bịp, lừa dối người khác rôi rút cục lại tin sự lừa dối đó là thật.

Nếu những nhận xét trên là xác đáng chúng ta có thể rút ra những hệ luận liên quan đến thái độ đối với trẻ con và đến quan niệm về giáo dục

1) Phải trả lại cho trẻ con cái gì thuộc về trẻ con. Trả lại cho trẻ con quyền được sống đầy đủ trọn vẹn tuổi trẻ của chúng, chứ không phải coi tuổi trẻ chỉ là một giai đoạn sửa soạn cần phải man mau vượt qua để tới tuổi người lớn. Nguyên tắc đó tất nhiên quy định tổ chức xã hội trẻ về mọi phương diện, không còn phải theo luật lệ, tiêu chuẩn của xã hội người lớn, nhưng chính xã hội trẻ con.

2) Giáo dục không phải là vươn tới một ý tưởng nào về người lớn, thực ra không có, nhưng là làm sao duy trì được những đức tính của tuổi thơ ấu, không pahri ở bình diện vô thức, hồn nhiên mà là ở bình diện ý thức, tự giác. Lý tưởng của người lớn không phải là sống khác trẻ con, nhưng là sống như tinh thần trẻ con ở bình diện ý thức. Và ddso không phải là dễ.

Người lớn chúng ta có khi nuối tiếc thời thơ ấu. Có thể chỉ là thương tiếc cái duyên dáng, cái ngây thơ hồn nhiên của tuổi trẻ. Nhưng có thể còn nhớ tiếc cái tinh thần trẻ con mà xã hội người lớn đã bỏ mất. Cho nên những nhà cách mạng, cách mạng xã hội hay cách mạng tôn giáo đều ghét cái xã hội người lớn, và ngược lại, yêu quý xã hội trẻ thơ và yêu quý tinh thần trẻ con của cái xã hội đó.

Chẳng hạn, trường hợp Marx. Tất cả bạn bè thân thiết của Marx đều đồng ý nhận xét: Marx rất yêu thích trẻ con. Trong nhật ký của mình, người con gái Marx có kể lại Marx thường vừa làm ngựa cho ba đứa con nhỏ cưỡi vừa viết sách phê phán xã hội người lớn trong chế dộ tư bản mà theo Marx, hoàn toàn là một xã hội vong thân về kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn hóa… Là vong thân vì xã hội người lớn trong chế độ tư bản coi quyền tự hữu như một quyền linh thiêng, lợi tức như mục đích cuộc đời, luật đổi chác như một tiêu chuẩn chi phối tương giao nhân loại mua bán cả những giá trị tinh thần tôn giáo. Marx muốn lật đổ chế độ thừ tiền để thiết lập mọt xã hội lấy sự hiến dâng làm tiêu chuẩn quy định tương giao nhân loại. Tinh thần trẻ con là lòng ngay thẳng, chân thành, đơn thực, tín nhiệm, không tính toán khôn ngoan, láu cá tinh thần trẻ con, đó là điều kiện tìm thấy chân lý giải phóng đồng thời cũng là còn đường đưa tới giải phóng đích thực. Con đường giải phóng đó, những người lớn không thể thấy được vì sự khôn ngoan sáng suốt của họ. Ở một dịp khác đức Kitô đã nói “tôi đội ơn Thiên chúa vì ngài đã che giấu những sự thật đó với những nhà hiền triết, kẻ khôn ngoan và đã chỉ bày tỏ cho những trẻ nhỏ’. Lý tưởng làm người, mục đích của giáo dục, của tu đức không phải là trở thành người lớn, mà chính là trở lại thời thơ ấu và duy trì tinh thần thơ ấu.

Đời sống hàng ngày

Đời sống hàng ngày của con người ngày nay mệnh danh là văn minh cũng còn đầy rẫy huyền thoại. Kỹ thuật càng tiến như về sách báo, phim ảnh, vô tuyến truyền thanh, truyền hình, nghệ thuật, quảng cáo càng tạo ra nhiều huyền thoại như Marx đã nhận xét trong một câu thơ gửi Kigelmann ngày 22/7/1871: “Cho đến bây giờ người ta vẫn tin rằng việc hình thành những huyền thoại Kitô giáo đã chỉ có thể có vì chưa có máy in. Sự thực lại trái hẳn báo chí hàng ngày và điện tín phổ biến những sáng chế của mình bằng một nháy mắt trong khắp vũ trụ còn tạo ra nhiều huyền thoại trong một ngày hơn xưa kia trong một thế kỷ”. Chẳng hạn khát vọng cái tuyệt đối, nhu cầu một cái gì đó cao cả để tôn thờ, tưởng nhớ đó là một chủ đề rất phổ biến trong những thần thoại xưa.

Ngày nay, người ta không còn thực hiện ở thần linh, Thượng đế trước đây tiêu biểu cho cái cao cả, đối tượng của khát vọng tuyệt đối nhưng không phải vì thế mà con người ngay nay không còn ước muốn cái tuyệt đối và đòi hỏi cái cao cả mà chỉ thay đổi đối tượng mà thôi. Trước đây là thần linh, bây giờ là những ý thức hệ, nhưng thực tại trần gian được tuyệt đối hóa hoặc những vị thần mới cũng có thể là những hoa hậu, phụ nữ, biểu diễn y phục, những xe kiểu mới, mà ngày thi biểu diễn khai mạc được tổ chức không khác gì những nghi lễ của các dân tộc cổ sơ ngày xưa như Andrew Greely đã nhận xét: “Chỉ cần đi xem phòng triển lãm xe hơi hàng năm sẽ thấy ở đó một biểu lộ tôn giáo rất nhiều tính chất nghi lễ. Các thứ màu sắc, ánh sáng âm nhạc, lòng kính cẩn của kẻ khâm phục sự có mặt của những nữ thần đền thờ (hình nhân), sự xa hoa lộng lẫy tất cả những cái đó đã tạo nên trong một nền văn hóa khác, một thứ nghi lễ đích thức có tính cách phục vụ… Có nhiều người tôn sùng xe hơi linh thiêng… chính vào thời kỳ triển lãm hàng năm mà các vị chủ tế - những tay buôn xe – trở nên quan trọng đồng thời một đám đông cũng chờ đợi một cách sốt ruột sự xuất hiện một hình thức cứu rỗi mới”.


Huyền thoại về ăn uống thuốc thang, đồ dùng

Huyền thoại vitamin, huyền thoại thuộc bách bệnh, trường sinh. Con người hiện đại, nhất là ở các tầng lớp có học, giàu có thành thị, đều lo lắng phải ăn thế nào, ăn những gì cho đủ vitamin lúc nào cũng sợ trong người thiếu vitamin, bị vitamin ám ảnh. Đó là vì ước mơ cố hữu được khỏe mạnh, sống lâu, trẻ mãi không già của con người muôn thuở. Muốn thế cần ăn đồ bổ, uống thuốc bổ. Trước đây dùng sâm nhung, cao, bây giờ dùng vitamin. Vitamin là thuốc trường sinh của con người hiện đại cũng như những thuốc kháng sinh, trụ sinh là thần dược, bách bệnh, vì bệnh gì uống trụ sinh cũng khỏi. Thuốc như thần vì khả năng hiệu nghiệm vô hạn của thuốc.

Đối với người nghèo, ít tiền, cũng có những món ăn, vị thuốc vẫn bổ như sâm nhung mà rẻ tiền, chẳng hạn theo phép tân dưỡng sinh Ohsawa, chỉ ăn cơm gạo lức, mè rang với muối, và chỉ thêm ít rau, cá vụn tép kho, ít trái cây vậy thôi, mà đạt được những kết quả tốt đẹp về sức khỏe, trừ được rất nhiều bệnh tật như phù tê, yếu tim, lao phổi, đái đường, đau dạ dày, thổ huyết, kinh nguyệt không đều, các chứng bệnh thần kinh.

“Có thể nào tưởng tượng được rằng chỉ cần một phép ăn rất rẻ tiền, mà tiêu trừ được bách bệnh, tạo được một sức khỏe dồi dào vằ tăng hẳn ý nghĩa cho cuộc sống”? Đó là lời giới thiệu phép tân dưỡng sinh tuyệt diệu của một bài báo đăng trong mục y học (Văn nghệ tiền phong số 326).

Trong nghệ thuật quảng cáo đồ dùng, bao giờ người ta cũng nhấn mạnh vào khả năng vô hạn của đồ dùng: không bao giờ mòn, hỏng, bền mãi mãi, hoặc nhanh chóng, sản xuất được nhiều…

Dĩ nhiên người mua vẫn biết quảng cáo không đúng sự thật nhưng vẫn bị mê hoặc quyễn rũ và rút cuộc vẫn phải mua như thể tin thật đồ dùng là tốt thật, bền thật, không bao giờ hỏng, hoặc chạy rất nhanh, hoặc sản xuất được nhiều…

Huyền thoại tình yêu lý tưởng

Trong những tuần báo, đặc biệt tuần báo dành cho phụ nữ có những mục tâm tình, giải đáp thắc mắc, thư tín… dạy mách độc giả phụ nữ, nhất là thiếu nữ kỹ thuật lấy chồng, chiều chồng dựa trên niềm tin tình yêu tuyệt đối, người tình lý tưởng, người chồng lý tưởng, hôn nhân lý tưởng. Trong thực tế người ta thừa hiểu không có tình yêu lý tưởng, hôn nhân lý tưởng và thường là thất bại, nhưng người ta có thể tạo cho những người trẻ sắp biết yêu có hy vọng có người tình lý tưởng nếu biết theo những lời dặn sau đây về cư xử, làm dáng, trang điểm… và thực ra là những người trẻ đó tin thật như thế. Bằng cớ là những tuần báo trên thường giữ kỷ lục về số độc giả.

Sự kiện con người hiện đại vẫn sống bằng những huyền thoại của thời đại mình, chứng tỏ huyền thoại không phải là một biểu lộ của một thời đại đã qua thuộc về tiền sử, nhưng là một biểu lộ cách thế con người hiểu đời và xác định một thái độ trước cuộc đời. Do đó, cũng không còn vấn đề huyền thoại là kém văn minh hay không có văn minh, vì những dân tộc cổ sơ cũng có văn minh biểu lộ qua các thần thoại, huyền thoại của họ.

Những công trình nghiên cứu của nhiều nhà dân tộc học chẳng hạn của Lesvi-Strauss đã chứng minh không những các dân tộc cổ sơ có văn minh, có tư tưởng luận lý như các nền văn minh hiện nay mà trong vài trường hợp, còn văn minh hơn những người ngày nay Người cổ sơ không phải là ấu trĩ chỉ biết sống bằng tình cảm, hòa đồng với thiên nhiên, vũ trụ, không có ý thức về mình và thân xác, chưa biết suy luận bằng trí óc và có tư tưởng trừu tượng, vì thực ra họ có tư tưởng, luận lý, có suy luận, ý thức nhưng chỉ tư tưởng suy luận khác ta và tư tưởng, lý luạn một cách khác ta mà thôi. Do đó những thần thoại của họ không phải chỉ bày tỏ những tình cảm căn bản của con người như yêu đương, sợ hãi, giận ghét mà là những nỗ lực giải thích những hiện tượng thiên nhiên địa lý, khí tượng, cuộc đời bằng những hình tượng cụ thể nhưng bao hàm một hệ thống luận lý, những luận đồ lý dựa trên những nguyên tắc luận lý rõ rệt nhằm thực hiện một sự mạch lạc hợp lý trong cái nhìn của họ về vũ trụ, cuộc đời như Claude Levi-Strauss đã viết: “Hình ảnh ta có về tích cách sơ khai phải được thay đổi. Không bao giờ và ở đâu người cổ sơ đã chỉ là một giống người vừa thoát khỏi tình trạng động vật, hãy còn bị trói buộc vào những nhu cầu và bản năng hay còn là một ý thức pha trộn tình cảm và chìm đắm trong sự lẫn lộn đồng hóa”.

Trong cuốn “Tư tưởng dã man” Levi Strauss cũng đã chứng minh nhiều dân tộc cổ sơ đã dũng những phương pháp phân loại, xếp hạng phức tạp, đã có nhiều từ ngữ phong phú để chỉ thị và hệ thống hóa những kiến thức của họ về động vật, khoáng vật, thực vật. Do đó, không thể nói thần thoại là thiếu trí thức vì nó chính là một cách biểu lộ trí thức.

Phê bình huyền thoại và huyền thoại phê bình

Nếu sang thời kỳ lich sử, chưa hẳn là chấm dứt thời kỳ thần thoại vì con người hiện đại vẫn sống bằng những huyền thoại của thời đại mình thì huyền thoại là một hiện tượng gắn liền với bản chất con người.

Con người hiện đại là nhà khoa học, nhà triết học duy lý, người văn minh không tin những thần thoại con người cổ sơ và coi những câu chuyện là chân lý đối với người cổ sơ chỉ là thần thoại, ngĩa là hoang đường, tưởng tượng lại tin vào khoa học, lý trí, kỹ thuật, tiến bộ… và chúng ta đã thấy những niềm tin đó cũng là những huyền thoại. Nhà khoa học, triết học đã nhân danh khoa học, lý trí để phê bình thần thoại nhưng vẫn không tránh được thái độ tạo ra huyền thoại. Vậy phải chăng phê bình huyền thoại rút cuộc đều phải dựa vào huyền thoại nào đó để có thể phê bình? Hoặc nói cách khác người không muốn tin ở bất kỳ huyền thoại nào và luôn luôn cảnh giác, nhận vai trò vạch mặt, tố giác những niềm tin chỉ là huyền thoại, có thực sự thoát khỏi được huyền thoại không và chính việc không tin huyền thoại có phải cũng là một huyền thoại không?

Chẳng hạn chúng ta bây giờ phê bình những niềm tin của nhà khoa học, triết lý vào khoa học, lý trí là huyền thoại, chúng ta có tránh được không dựa vào một huyền thoại nào không?
Muốn tố giác một huyền thoại, phải dựa vào một tiêu chuẩn mà ta tin là chân lý. Chúng ta tố giác một lời nói, một sự kiện, một niềm tin là huyền thoại bằng cách vẫn dựa vào một niềm tin khác mà bây giờ ta chưa biết là huyền thoại. Sau đó, chính chúng ta hay nwhgnx người kế tiếp ta mới thấy niềm tin ta đã dựa vào để phê bình một huyền thoại cũng là huyền thoại, cứ như thế… Vậy phải chăng tất cả nhận thức của nhân loại đề dựa vào huyền thoại và sự tiến bộ về nhận thức chẳng qua chỉ là ý thức sâu xa hơn sự lệ thuộc thiết yếu vào huyền thoại? Không bao giờ ta thoát khỏi huyền thoại. Mỗi một tố giác huyền thoại hình như nhằm mở rộng thêm lĩnh vực sựt hật và thu hẹp lại phạm vi huyền thoại, nhưng cũng có thể nói ngược lại, càng thấy huyền thoại mở rộng ra, vô hạn…

Do đó, không những tư tưởng, khoa học triết lý không chấm dứt thần thoại, huyền thoại mà còn có thể chỉ là một hình thái của thần thoại, huyền thoại.

Nói cách khác, phải chăng con người chỉ có một thái độ nhận thức là thái độ huyền thoại và mọi thái độ khác (khoa học, triết học, tôn giaos0 chẳng qua chỉ là những hình thái khác nhau của thái độ huyền thoại?

Như thể sống bằng huyền thoại không phải là sống ở một giai đoạn ấu trị, sơ khai, mà là sống trong tình cảnh tự nhiên của con người ở đời, vì không bao giờ ta thực sự sống trong tình trạng chân lý. Nếu sống không thể không tin nghĩa là không thể được gạt bỏ huyền thoại thì vấn đề chỉ còn là lựa chọn những huyền thoại nào để sống cho xứng đáng hơn.

Có những huyền thoại xấu, do tầng lớp thống trị trong xã hội tạo ra để biện hộ duy trì một chế độ và có những huyền thoại tốt, mang tính chất phủ nhận, cách mạng, tiến bộ.

Chẳng hạn huyền thoại số mệnh, định mệnh. Đó là một huyền thoại có tác dụng bảo thủ, phản động nhằm mê hoặc (theo nghĩa xấu) những người bị bóc lột, áp bức chịu đựng tình cảnh bóc lột, áp bức vì cho là số phận, trời định… đặc điểm của huyền thoại phản động là nó có thể xuất hiện như một ý nghĩa phổ biến, siêu giai cấp, phi chính trị, vô hại. Chính vì thế mà nó có thể xâm nhập vào lớp người bị trị và làm cho họ chấp nhận về số phận, định mệnh là chung cho mọi người, không phân biệt giai cấp, tầng lớp xã hội.

Trái lại, những huyền thoại có tính chất phủ nhận, bao hàm động lực thúc đẩy hành động, là lợi khí của tranh đấu cách mạng, tiến bộ xã hội. Độc lập tự do, dân chủ, công bằng xã hội, hòa hợp giữa người và người có thể là huyền thoại, cũng mê hoặc người ta nhưng mê hoặc theo nghĩa tốt.

“Những giá trị đó xuất hiện như những lý tưởng tuyệt đối để vươn tới. Nếu không tin và tin mãnh liệt, không thể tranh đấu cho những giá trị đó. Huyền thoại theo nghĩa đó, là huyền thoại tốt như Sorel đã viết: “Những người tham dự vào những phong trào xã hội lớn lao, mường tượng hành động tương lai của họ dưới hình thức một trận tuyến đảm bảo cho lý tưởng của họ sẽ thắng. Tôi đề nghị gọi là huyền thoại những xây dựng trên mà sự hiểu biết những xây dựng đó rất quan hệ đói với nhà viết sử: Việc đình công của nghiệp đoàn và cuộc cách mạng không thể tránh được Marx là những huyền thoại”.

Đến một lúc nào đó, có thể chúng ta khám phá thấy những niềm tin trên là huyền thoại, nhưng không phải vì thế mà buông xuôi thụ động, trái lại phải để cho lòng ta bị lôi cuốn, mê hoặc bởi những niềm tin khác, hoặc cũng vẫn bởi những niềm tin đó nhưng mặc những hình thức khác, vì sống không thể không tin, mặc dầu niềm tin có thể sẽ là huyền thoại vì đó là cuộc sống, là phận làm người như đối thoại của hai nhân vật trong phim.

“Những bạn của tôi đều chết cho một lý tưởng: Cách mạng, đó là cái gì? Khi bạo động đã ngưng, những chính trị gia lại nắm lấy chính quyền và mỗi lần chằng còn gì ngoài một lý tưởng đã mất. Vấn đề không đơn giản như vậy. Chuyện cách mạng cũng như chuyện ái tình. Lúc đầu, người đàn bà được yêu là một nữ thần, một thánh nhân, nhưng mọi chuyện ái tình đều có một kẻ thù đáng sợ đó là thời gian. Với thời gian, chúng ta mới thấy cạch mạng thật ra là gì: không phải một nữ thần, cũng không phải một thánh nhân, nhưng là một gái điếm như mọi gái điếm khác. Rồi chúng ta bỏ ra đi.

Nhưng ước vọng là gì nếu không có tình yêu như cuộc đời còn nghĩa lý gì nếu không có một lý tưởng: không lý tưởng, chúng ta không là gì hết”.

Hơn nữa sống cũng còn là sống với, nghĩa là niềm tin, huyền thoại cũng là của một tập thể, có tính cách xã hội.

Sống trong huyền thoại là tham dự vào một cộng đồng, thông cảm với cộng đồng có huyền thoại đó. Tết là một huyền thoại. Dân Việt làm ăn vất vả quanh năm nên coi ngày Tết là linh thiêng. Trong những ngày đầu năm người ta kiêng làm, kiêng chửi nhau vì sợ phải làm một năm và chúc nhau đủ điều sang năm mới làm ăn được phát tài, may mắn, sống cao trăm tuổi… Người ta vẫn biết không thoát khỏi những khó khăn vất vả đang chờ đợi sau mấy ngày tết, nhưng vẫn tin ở những lời chúc, để hy vọng, vui sướng một chút, để thấy đời đáng sống.

Cho nên phủ nhận huyền thoại có thể là một can đảm, vì ta từ bỏ mọi thú vui, an tâm của niềm tin huyền thoại, nhưng phải chăng cũng là tách khỏi xã hội, trở thành cô độc?

Do đó, chúng ta sống cần huyền thoại và nếu theo một nghĩa nào đó, cần phải sống đích thực thì theo một nghĩa khác cũng cần phải sống mơ tưởng, không tưởng như thể đích thực và mơ tưởng niềm tin và huyền hoặc không phải là hai đòi hỏi mâu thuẫn nhau mà là bổ túc cho nhau và đều là cần thiết cả.

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,