Sinh viên muốn được đối xử như người lớn

Thực hiện: Tuệ Lâm - Ảnh: Quỳnh HoaSVVN
12:50' CH - Thứ sáu, 19/12/2008

Việt Nam (VN) sẽ mở cửa giáo dục đại học (ĐH) theo cam kết khi gia nhập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ đầu năm 2009. Trong cam kết này, dịch vụ giáo dục được đặt bên cạnh những dịch vụ khác như y tế, viễn thông, phân phối, vận chuyển... SVVN đã có cuộc trò chuyện với TS Phạm Duy Nghĩa (ĐH Quốc gia Hà Nội) trước thời điểm quan trọng này.

Không có WTO vẫn có thị trường giáo dục

Thưa ông, ông có thể nói gì về cam kết mở cửa giáo dục ĐH?

TS Phạm Duy Nghĩa: Có hay không có WTO, có hay không có ngày 1/1/2009 thì thị trường giáo dục của VN đã xuất hiện ở các cấp học và lĩnh vực đào tạo. Chính sách của chúng ta không nhất quán và quan điểm không thương mại hóa giáo dục tồn tại quá lâu đã kìm hãm nên thị trường này ẩn. Như thế, người kinh doanh dịch vụ không được thoải mái, người thụ hưởng (người học và phụ huynh) không có quyền đáng kể .

Đôi khi, do sản phẩm và chất lượng giáo dục trong nước không đa dạng, rất nhiều phụ huynh và học sinh VN đã mua dịch vụ ở nước ngoài. Số lượng học sinh VN ở Mỹ, Anh, Đức, Úc... tăng đáng kể. Mỹ hiện có 7.000 sinh viên VN, trường danh tiếng Oxford ở Anh cũng có tới vài chục sinh viên VN, trong đó một nửa là con em nhà giàu và quan chức VN sang học. Thị trường đã buộc các nhà hoạch định chính sách VN ít nhiều phải thừa nhận, chứ đây không phải là một khám phá gì.

Thưa ông, thị trường giáo dục sẽ có nhiều khác biệt so với các thị trường khác?

TS Phạm Duy Nghĩa: Thị trường giáo dục đặc biệt ở chỗ nó không phải là thị trường mà người thụ hưởng có năng lực mặc cả. Nhiều hay ít, nhà trường và các thầy cô có quyền trong việc xác lập nội dung, phương pháp và tổ chức học tập. Với 86 triệu dân, cứ 100 người thì gần 60 người ở độ tuổi dưới 40, nên nhu cầu học ở VN quả thực rất lớn. Vì vậy nhà nước phải can thiệp, Bộ GD- ĐT phải có vai trò điều tiết.

Cụ thể là như thế nào, thưa ông?

TS Phạm Duy Nghĩa: Thị trường tự thân nó có cạnh tranh. Tuy vậy, cũng phải đặt vấn đề thành lập các trường tư thục có được phép kinh doanh vì lợi nhuận không?

Nhiều nước quy định giáo dục ĐH là phi lợi nhuận theo nghĩa nhà trường có thể có lãi nhưng lãi đó không được chia cho cổ đông. Ví dụ, nhà trường có 7 cổ đông sáng lập, nhưng cuối năm không thể cộng lãi, trừ chi phí rồi chia nhau mà phải được gửi lại cho nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá nhà trường, các quỹ học bổng... Như vậy, tính chất phi lợi nhuận không có nghĩa là không kiếm tiền mà có nghĩa lợi nhuận không được đem chia chác mà phải tái đầu tư cho các hoạt động mang tính giáo dục.

Ngoài ra, nhà nước cũng phải hỗ trợ thông qua các cơ sở công, chính sách công. Ví dụ, nhà trường không thể tự vận động được mà phải có sự hỗ trợ của các công ty, nhà hảo tâm. Nếu các công ty có những khoản hỗ trợ như vậy thì phải được khuyến khích bởi thuế (khấu trừ thuế).

Những chính sách này ở nước ta chưa được đồng bộ nên cũng không có lợi cho nhà trường. Cũng nên khuyến khích nhà trường thành lập các đơn vị kinh doanh có thu. Hiện nay chính sách này đã có, nhà trường bên cạnh giảng dạy còn có nghiên cứu, có cơ sở có thu. Chẳng hạn ĐH Y có bệnh viện Y, khoa Sinh ĐH Quốc gia có trung tâm thử ADN, ĐH Bách khoa có cơ sở sản xuất gạch bông...

Các trường không lo thiếu SV

Khi mở cửa giáo dục ĐH, có ý kiến cho rằng ngành giáo dục trong nước sẽ không phải đối đầu trực diện trong cuộc chiến sinh tử với các doanh nghiệp giáo dục nước ngoài. Hoặc cũng có thể coi đây là cuộc cạnh tranh mà cả hai đều thắng bởi thị trường giáo dục bậc cao còn quá nhiều cơ hội để phát triển. Ông nghĩ sao về điều này?

TS Phạm Duy Nghĩa: Bạn cứ tưởng tượng mỗi năm có 1 triệu thí sinh thi ĐH, gia đình nghèo xác xơ ở Nghệ An, Nam Định yêu con sẵn sàng bán cả gia tài để con đi học. Người VN rất hiếu học, và cũng chưa có thói quen học hết lớp 9 thì đi học nghề chứ không nhất thiết phải có bằng đại học.

Hơn nữa, hệ thống đánh giá, tuyển dụng con người cơ bản vẫn chưa theo năng lực làm việc mà dựa vào việc có bao nhiêu bằng cấp. Do đó, nhu cầu và sức ép đến các cổng trường đại học là rất lớn dù trong năm rồi, mỗi tuần mọc lên một trường đại học mới. Tôi nghĩ sức ép về cạnh tranh để giành lấy SV là không lớn, nói cách khác, các trường không phải lo thiếu SV.

Đâu là nguy cơ từ việc mở cửa giáo dục ĐH, thưa ông?

TS Phạm Duy Nghĩa: Khi các trường nước ngoài vào VN thì có nhiều nguy cơ mà Bộ GD- ĐT phải lo. Không phải trường tốt nào của nước ngoài cũng phá danh của họ bằng cách sang đây thành lập cơ sở 2. Không phải trường nào cũng sẵn sàng liên kết với ta 1/2 hoặc 3/4 chương trình rồi họ cấp cho cái bằng của họ.

Những trường sẵn sàng làm việc đó thường là những trường không đẳng cấp. Trong số những trường vào VN không thiếu những trường thậm chí bên nước của họ không được xếp hạng. Chức năng của Bộ GD- ĐT là thẩm định trước, đừng gây thiệt hại. Đào tạo có rủi ro là nếu dịch vụ không tốt thì gây hậu họa về lâu dài và gây thiệt cho những người hưởng dịch vụ mà năng lực mặc cả thấp.

Nhà nước phải can thiệp để thẩm định, đặt điều kiện, giám sát trước, nếu hậu kiểm thì “chết”. Tôi cho rằng, điều kiện mở trường phải khắt khe, cho phép dễ dàng thành lập các trường của nước ngoài ở VN không phải chính sách tốt.

Đừng nghĩ các trường nước ngoài vào VN lấy phần của các trường VN. Các trường danh tiếng không phá hoại danh của họ bằng cách mở những trường rẻ tiền ở VN để cạnh tranh với mình. Có một cạnh tranh khác, đó là khi các trường quốc tế vào thì quy cách tổ chức, cách thức giảng dạy thay đổi, sẽ làm cho các trường VN học theo. Đó là một thay đổi tốt.

Tuy nhiên, khi đó việc học hành cũng sẽ đắt đỏ hơn, thưa ông?

TS Phạm Duy Nghĩa: Tôi e rằng khi nước ta mở cửa, ngân sách có hạn, sức ép tăng học phí của các trường khá lớn thì có thể thấy ngay việc học trở nên đắt đỏ và con em nhà nghèo có thể bật dần ra khỏi trường ĐH. Vì vậy, phải có chính sách hỗ trợ với đối tượng này.

Như vậy, mặt trái của câu chuyện dịch vụ, chất lượng tăng thì chi phí tăng. Nguồn ở đâu? Gia đình người học vẫn đóng góp nhiều, đóng góp của xã hội VN cho giáo dục rất lớn, giá mà công khai hóa và soi kỹ vào ngân sách của Bộ GD và ĐT, những việc gì thực chi cho việc học, cái gì chi cho lễ lạt này kia.

Nguồn đúng là có vấn đề, không nhiều nhưng chi cho nó đúng và hỗ trợ những em có năng lực của dân miền quê là một việc phải lo. Khi có cơ chế giám sát và cạnh tranh lẫn nhau sẽ thải loại được những trường yếu. Sẽ là tai họa nếu các cơ sở đào tạo không được thẩm định tốt trước khi cho phép.

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh vai trò thẩm định trước của Bộ GD và ĐT là rất quan trọng.

Cần có hiệp hội các trường ĐH

Khi mở cửa giáo dục ĐH, vai trò của Bộ GD- ĐT trong quản lý lĩnh vực này sẽ như thế nào, thưa ông?

PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa sinh năm 1965 tại Xuân Trường, Nam Định. Ông tốt nghiệp thủ khoa đại học và bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật tại Leipzig, CHLB Đức năm 1991. Từ năm 1995 ông dạy học tại Khoa Luật của Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm 2003 ông tham gia chương trình học tại Trường Luật – ĐH Harvard (Hoa Kỳ) theo học bổng quốc tế Fulbright. Ông có nhiều năm kinh nghiệm dạy học tại các trường ĐH nổi tiếng của Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Hiện nay, PGS.TS Phạm Duy Nghĩa đang là Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Luật kinh doanh – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội.

"... Một dân tộc biết suy tư, mơ ước và hành động để chế ngự đói nghèo và ganh đua với các dân tộc láng giềng là một dân tộc đang sống. Đóng cửa lại, tự cấp tự cung với đồng lúa và lệ làng, tự mãn với sự lạc điệu của riêng mình có lẽ là kẻ thù đáng sợ nhất của dân tộc chúng ta."

>> Xem trang tác giả: Phạm Duy Nghĩa

TS Phạm Duy Nghĩa: Trong thời gian trung chuyển, Bộ GD và ĐT chắc là phải có một số chức năng giám sát, định chuẩn. Nhưng về lâu dài, bên cạnh gia tăng sự tự quản, việc giám sát các trường đại học, nên từng bước chuyển sang cho các hiệp hội đại học và hội nghề.

Ví dụ, nước Mỹ có hơn 200 trường dạy luật, song chỉ 190 trường được Hiệp hội Các trường dạy luật và Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ công nhận khi đáp ứng tiêu chuẩn về: (1) chương trình giảng huấn, (2) quy trình tuyển chọn giáo viên, (3) số lượng giáo viên trên tổng số sinh viên, (4) quy trình tuyển chọn sinh viên, (5) các điều kiện về cơ sở vật chất, và đặc biệt (6) tiêu chuẩn về thư viện.

VN hiện chưa có hiệp hội như vậy nên khá thiệt cho SV. SV học ở VN, muốn làm tiến sĩ ở Mỹ, Đức, Anh... thì phải học thêm 1 năm rưỡi thạc sĩ vì các nước đó không công nhận bằng của mình, trong khi mình lại công nhận nhiều bằng nước ngoài.

Bộ GD và ĐT không còn là bộ điều hành từ A đến Z của giáo dục ĐH như in từng tờ giấy thi, mẫu biên bản, cũng không phải đi canh chừng giờ lên lớp, đề cương bài giảng, phong học hàm học vị... nữa, thay vào đó sẽ định hướng chính sách giáo dục. Việc này có thể kết hợp nhiều bộ.

Một chính sách “khoán 10” cho giáo dục trong bối cảnh mới này sẽ như thế nào, thưa ông?

TS Phạm Duy Nghĩa: Báo chí mới đây đưa tin một ông thầy dạy đạo đức công dân tự nghĩ những cách dạy khác giáo án đấy thôi. Tôi muốn nói là, Bộ GD - ĐT phải biết việc nào của mình, việc nào của nhà trường. Nhà trường cũng phải biết việc gì là của nhà trường, việc gì là của ông thầy.

Sự tự do phải trả về cho ông thầy đứng lớp, cho nhà trường một phần và Bộ nên làm những việc khác. Đấy chính là tinh thần của khoán 10 đối với giáo dục, tức là tự do và tạo cạnh tranh cho những người trực tiếp tổ chức công việc dịch vụ và thay đổi tầm nhìn quản lý từ một người lên kế hoạch, giám sát thành một người hoạch định chính sách giáo dục lâu dài.

Như vậy ở đây có một cuộc tái định nghĩa chức năng của Bộ GD - ĐT, của các trường, của ông thầy và người học. Một dân tộc thông minh và hiếu học như dân tộc Việt rất tiện cho cải cách. Nếu có thông tin và những chính sách tử tế và kiên quyết thì cải cách giáo dục ở VN không quá khó như mọi người nghĩ vì người học muốn học, cha mẹ sẵn sàng muốn chi, các ông thầy cơ bản có liêm sỉ và các nhà trường muốn có uy tín. Chỉ có tắc nghẽn ở đâu đó ở chính sách giáo dục nối giữa các yếu tố đó, chứ năng lượng thì đầy rẫy.

Thế hệ trẻ thực sự thách thức thế hệ già

Năm 2005 ông nói “các trường đại học nước ta yếu, yếu vì chúng ta chưa bao giờ dám so mình với thế giới bên ngoài”. Đã 3 năm trôi qua, thực trạng của giáo dục ĐH nước nhà có làm thay đổi ý nghĩ đó của ông không?

TS Phạm Duy Nghĩa: Ba năm qua, trong hệ thống đào tạo ĐH có nhiều cái mới. Thứ nhất, các trường rục rịch chuyển sang tín chỉ. Mặc dù chiếc áo chưa làm nên thầy tu nhưng anh rõ ràng cũng phải thay đổi khi khoác lên mình một bộ cánh lịch sự, giầy dép gọn gàng.

Một hiện tượng nữa rất thú vị là các blog cá nhân của các thầy giáo. Trong ngành luật có rất nhiều thầy giáo trẻ có năng lực rất tốt, họ tích hợp những tình huống, bài tập tranh luận và tài liệu nước ngoài và bằng những trang blog cá nhân, họ hướng sinh viên trong nước vào kho tư liệu khổng lồ của các trường đại học nước ngoài khác.

Cửa ĐH bị bung ra một phần do chính sách mở cửa nhưng cũng một phần nhờ công nghệ thông tin làm cho sinh viên ngồi ở VN nhưng có thể đọc các bài báo mới nhất ở ĐH Harvard, Oxford hay Yale... Người học nếu có ngoại ngữ, họ có thể tiệm cận với một nguồn thông tin khổng lồ.

Một điều nữa là tôi thấy các sinh viên rất chủ động trong học nhóm. Trước đây, sinh viên đi học có khi mang mỗi cuốn sổ, đầu ghi một môn, cuối ghi một môn, giữa ghi một môn. Nhưng bây giờ, có em đi tay không, em mang laptop, em mang máy ghi âm xin phép thầy ghi lại bài giảng... Bài tập tôi giao thì các em tự động đi lấy hồ sơ, tự diễn những phiên diễn án... Thế hệ trẻ thực sự thách thức thế hệ già, vì họ có thông tin nhiều hơn, có những đam mê lớn hơn. Những điều đó làm người đi dạy ấm lòng vì học trò đang có cơ hội học tập tốt hơn.

Nhưng có điều này vẫn chưa xảy ra ở VN, đó là việc các sinh viên thành lập các tạp chí cá nhân, nhà trường tạo điều kiện cho sinh viên chủ động học trong thư viện ngoài giờ chưa nhiều, nền hành chính quản trị nhà trường vẫn mang tính bao cấp, chưa biến thành một doanh nghiệp theo nghĩa kinh doanh dịch vụ.

Có khi nào sinh viên chia sẻ với ông về một trường đại học trong mơ ước của họ không?

TS Phạm Duy Nghĩa: Nhiều sinh viên chia sẻ điều đó, vì trong giờ giảng, tôi hay khuyến khích sinh viên phát biểu. Nhìn chung họ muốn được nhà trường đối xử như người lớn theo nghĩa, nhà trường làm gì phải thông báo trước, mong ước thư viện tốt hơn, giảm những môn giáo điều, họ cũng kêu các thầy hay bỏ giờ vì chạy sô nhiều... Và dường như những không gian để họ giao lưu văn hóa, sinh hoạt cũng chưa tốt...

Một thời, dư luận rùm beng việc xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, rồi mọi thứ lại chìm vào im lặng. Ông nghĩ sao về điều này?

TS Phạm Duy Nghĩa: Trong cạnh tranh, các trường đẳng cấp sẽ xuất hiện, đừng có dựng nó lên. Tuy nhiên, nếu thiếu sự hỗ trợ và định hướng của nhà nước thì cũng khó hình thành. Ví dụ, nếu ĐH Thanh Hoa không có sự hỗ trợ của nhà nước Trung Quốc thì khó mà có danh tiếng như bây giờ. ĐH Tokyo cũng được Nhật hoàng hỗ trợ rất lớn. Các quốc gia đều có những trường mà Nhà nước đặt niềm tin ở đó. Những trường đó hình thành dựa trên chính sách công dồn tiền vào để xây dựng cơ sở vật chất, dữ liệu, thư viện, trả lương cho người giỏi...

Xin cảm ơn ông!

SVVN
TS. Phạm Duy Nghĩa
TS. Phạm Duy Nghĩa
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,