Quan điểm của Đức Phật về việc ra quyết định

Tỳ Kheo Tiến Sĩ Basnagoda RahulaDiệu Liên Lý Thu Linh và Diệu Ngộ Mỹ Thanh chuyển ngữ - Thiền viện Phước Sơn
02:21' CH - Thứ năm, 16/07/2015

Ta không thấy một pháp nào khác hơn là sự có mặt của tà kiến, làm cản trở sự phát sinh của pháp thiện và làm các pháp thiện đã sanh trong tâm đi đến lụn bại. Ta không thấy pháp nào khác hơn là sự có mặt của chánh kiến, làm sanh khởi các pháp thiện, và làm các pháp thiện đã sanh khởi trong tâm đi đến tăng trưởng, quảng đại.[1]Tăng Chi Bộ Kinh

Việc đi đến một quyết định đã được thảo luận rộng rãi trong giáo lý của Đức Phật đối với hàng đệ tử tại gia. Ngài thường nói đến sự tai hại của việc ra quyết định sai và đưa ra các nguyên tắc giúp chúng ta có những quyết định khôn ngoan. Nhưng để đi đến được những quyết định hợp lý, Đức Phật dạy ta phải loại trừ cách lý luận sai lạc –có thể nói là sự diệt trừ những con vi-rút nội tâm.

NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ SỰ QUYẾT ĐỊNH

Trước khi nói đến quan điểm của Đức Phật về sự ra quyết định, trước tiên chúng ta cần xem xét các quan điểm khác biệt của những vị đồng thời với Đức Phật. Một đằng, các vị cổ súy cho truyền thống bác bỏ quyền được quyết định của cá nhân. Họ cho rằng truyền thống, quyền lực của chư thiên, kinh điển, và các vị thầy với quyền lực siêu nhiên, đã quyết định cho con người nói chung, do đó, xã hội phải chấp nhận những quyết định này như là những sự thật không thể chối cãi.

Thí dụ, thành viên của giai cấp quý tộc phải là những người cai trị hay các vị tướng lãnh, chứ không bao giờ được là các vị thầy tâm linh. Người ta cho rằng các vị thần thánh đầy quyền lực và truyền thống đã giao các nhiệm vụ này cho giai cấp quý tộc, và không ai được quyền chống đối họ. Theo quan điểm truyền thống này, cá nhân không có sự lựa chọn nào khác hơn là tuân theo các quyết định đã dành cho họ.

Trái lại, các nhà duy vật bác bỏ những quan niệm theo truyền thống này. Họ khẳng định rằng quyền lợi riêng của cá nhân cần được xem là yếu tố quan trọng trong việc quyết định. Họ lý luận rằng nếu một quyết định đem đến hạnh phúc cho cá nhân, thì cá nhân đó không nên do dự gì mà không đi đến quyết định –không cần biết đến những hậu quả tai hại mà nó có thể mang đến cho người khác. Thí dụ, họ cổ xúy người ta mượn nợ để hưởng thụ cuộc sống; vì theo họ, chết là kết thúc cuối cùng, nên sự thỏa mãn cá nhân cần được xem là mục đích chánh yếu trong cuộc đời. Và họ đã sử dụng các lý thuyết suy diễn và logic để củng cố quan điểm của họ về việc xem quyền lợi riêng của cá nhân là căn bản cho việc quyết định. Đức Phật bác bỏ cả hai quan điểm: sự chối bỏ quyền quyết định của cá nhân của các nhà theo truyền thống và sự quá đề cao quyền lợi cá nhân, xem đó là căn bản của việc ra quyết định của các nhà duy vật. Thay vào đó Đức Phật đã giới thiệu cho ta những nguyên tắc mới trong việc quyết định, bao gồm sự hợp lý (suy luận kỹ càng), tính nhân văn (sự có mặt của những tư tưởng thiện) và tính thực dụng (những ích lợi thực tế).

Dầu Đức Phật sẵn sàng chấp nhận quyền và tự do của một cá nhân trong việc quyết định, Ngài khẳng định rằng các quyền lợi và tự do đó cần được sử dụng một cách đúng đắn. Hơn thế nữa, Đức Phật dạy rằng trước khi đi đến quyết định gì, chúng ta cần phải cân nhắc để không có suy nghĩ sai lầm gì có thể ảnh hưởng đến sự phán đoán của ta.

SUY LUẬN SAI, QUYẾT ĐỊNH LẦM

Từ ngữ moba (ảo tưởng), theo nghĩa rộng, gợi ý đến sự có mặt của những lập luận sai lạc trong lý luận. Sai lầm này làm tâm trí ta u tối, không thể nhìn thấy sự thật, khiến cho quyết định của ta trở nên vô lý và thiển cận. Để có thể phán đoán một cách khôn ngoan, trước tiên ta phải ý thức rằng moba là mối đe dọa cho sự ra quyết định đúng đắn.

Một số kinh –Kalama, Bhaddiya, Canki, vân vân- mô tả mười loại sai lầm trong suy luận.

SAI LẦM 1: NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC THÔNG TIN LÀ ĐÚNG

Đức Phật quán sát thấy một sai lầm có thể ảnh hưởng đến khả năng quyết định đúng đắn của chúng ta là sự tự động coi bất cứ điều gì được thông tin là đúng. Điều này bao gồm cả việc chúng ta sẵn sàng công nhận lời đồn đãi, báo cáo, lời được nghe người khác nói, hay bất cứ điều gì có nguồn gốc khác hơn là kinh nghiệm trực tiếp của bản thân.

Nên nhớ, điều này không có nghĩa là chúng ta phải bác bỏ mọi thông tin gián tiếp mới có thể có những quyết định hợp lý. Đúng hơn, nó có nghĩa là chúng ta cần phản ứng với những thông tin đó một cách thận trọng và với tâm cởi mở. Như Đức Phật đã giải thích: “Những điều được trình bày lại một cách thuyết phục có thể trống rỗng, vô nghĩa [và] sai trong khi những gì không được nói ra có thể [thực sự] là đúng, là sự thật”.[2] Nói khác đi, những thông tin được nói ra có thể đưa đến “kết quả hai chiều”, nghĩa là thông tin đó có thể đúng hay sai.[3] Do đó, “người trí cần phải quán xét” đến khả năng rằng thông tin được truyền đạt có thể đúng, có thể sai.[4]

Vì thế, Đức Phật khuyên chúng ta cẩn thận khi đối mặt với bất cứ hình thức thông tin gián tiếp nào. Đức Phật bảo, một phản ứng dè dặt chắc chắn sẽ hỗ trợ khả năng đưa ra những quyết định sáng suốt của chúng ta.

SAI LẦM 2: CÁC GIÁ TRỊ, NIỀM TIN VÀ NGHI THỨC, TRUYỀN THỐNG CHÍNH LÀ CHÂN LÝ

Đức Phật cũng dạy rằng việc chấp nhận truyền thống như là chân lý, từ đó tuân thủ một cách mù quáng theo uy lực truyền thống sẽ càng làm yếu đi khả năng có những quyết định hợp lý của ta. Như chúng ta đã biết, trong kinh Agganna, Đức Phật đã dạy rõ ràng rằng các chân lý truyền thống thực ra chỉ là sản phẩm của xã hội và lịch sữ. Việc ta phụ thuộc vào các chân lý truyền thống này khi quyết định đồng nghĩa với việc chối bỏ sự suy luận của con người, điều kiện tối thiểu cho những quyết định thận trọng.

Đức Phật nhận xét thấy một trong những quyết định dựa trên sự sai lầm này là việc tiếp tục ngâm vịnh các bài thánh ca để làm đẹp lòng nhiều vị thần thánh. Chỉ vì những thế hệ cha ông đã ngâm vịnh các bài ca này, mà thế hệ hiện đại cũng làm như thế, mà không cần xác định các vị thần thánh đó có hiện hữu hay không. “Khi một đoàn người mù dắt díu nhau đi, thì người đi đầu không thấy, mà người đi giữa và người đi cuối cùng cũng chẳng thấy gì”.[5] Tương tự, những kẻ mù quáng tin theo truyền thống cũng sẽ đi luẩn quẩn trong cái vòng của chân lý truyền thống, không thấy được sự phù phiếm của nó.

Tuy nhiên, nên nhớ là sự khẳng định này không có nghĩa là Đức Phật bảo các đệ tử của mình hãy hoàn toàn bỏ truyền thống qua một bên mới có thể quyết định một cách khôn ngoan. Thí dụ, Ngài lưu ý rằng một số cha mẹ muốn con cái phải tuân theo một số truyền thống gia đình và con cái phải tôn trọng sự đòi hỏi đó.[6] Tuy nhiên, một số niềm tin và nghi thức truyền thống đòi hỏi một sự đánh giá dựa trên lý trí trước khi chúng ta có thể dựa vào chúng để đi đến những quyết định quan trọng. Tóm lại, bài học cơ bản ở đây là quyền lực truyền thống không phải là chân lý tuyệt đối mà chúng ta phải dựa vào khi quyết định.

SAI LẦM 3: CHÂN LÝ XÃ HỘI LÀ CHÂN LÝ THỰC SỰ

Vào thời Đức Phật, quyền lực xã hội, bên cạnh quyền lực truyền thống, cũng là một yếu tố mạnh mẽ khác để một số nhóm xã hội dựa vào đó mà biện minh cho các quan điểm của họ. Dầu tương quan nhau, nhưng quyền lực xã hội khác với quyền lực truyền thống. Những người ủng hộ quyền lực xã hội cho rằng một điều gì đó đúng hay sai, là vì xã hội nói chung công nhận nó là thế. Họ nhắc đến quyền lực xã hội trong những câu như là “bởi vì họ nói thế”, “bởi vì đó là chân lý”, hay “bởi vì đó là cách nó phải là”.

Trường hợp của Vasettha, một người Bà-la-môn trẻ, là thí dụ điển hình của một chân lý xã hội trọng yếu trong thời Đức Phật. Vasettha đã trở thành đệ tử của Đức Phật, nhưng các huynh đệ Bà-la-môn của ông không thể chấp nhận sự chuyển đổi của Vasettha. Họ chỉ trích ông rằng, “Một hành động như thế không thể chấp nhận được; điều đó không hợp lý”.[7] Họ còn nói thêm rằng một người Bà-la-môn, thuộc tầng lớp xã hội được coi là cao nhất, không được tu tập dưới sự dìu dắt của Đức Phật, một người thuộc giai cấp cai trị.[8]

Trong thí dụ này, chân lý theo một số người Bà-la-môn –rằng người Bà-la-môn không được theo học với người thuộc tầng lớp cai trị- là một chân lý xã hội, hay một niềm tin được các nhóm xã hội hay toàn thế xã hội nói chung công nhận. Dĩ nhiên, các chân lý này cũng được truyền thống ủng hộ, nhưng sự công nhận của xã hội là lý do nồng cốt củng cố cho các quan điểm này.

Đức Phật xác nhận việc tùy thuộc vào quyền lực xã hội là một trở ngại lớn cho việc có những quyết định khôn ngoan. Để giải thích cho sự quan tâm của Vasettha, Đức Phật khẳng định rằng khi nghiên cứu, đánh giá lịch sữ phát triển của tư tưởng Bà-la-môn, ta sẽ khám phá ra sự sai lầm của quan điểm đó. Ngài khuyên các đệ tử của mình bác bỏ quyền lực xã hội, mà theo Kacchana[9], một đệ tử của Đức Phật, thì đó “chỉ là âm vang của vũ trụ”. Cụm từ Pali ma itikiraya –ma, “không chấp nhận hay công nhận”; và itikiraya, “[bởi vì] do nó đã được nói hay công nhận, như là sự thật” –có nghĩa là sự chấp nhận hay bài bác của xã hội không thể là một lý do đáng tin cậy để chấp nhận hay bài bác điều gì đó.

Vậy mà, các chân lý xã hội thường được xem như là chân lý rốt ráo dầu chúng không phải là như thế. Chân lý xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nỗi, trừ phi chúng ta chánh niệm về sức mạnh của chúng, nếu không chúng sẽ nhanh chóng xâm lấn, chiếm hữu ta. Đức Phật khuyên chúng ta không nên để mình trở thành nạn nhân của những chân lý xã hội vô lý, để có thể duy trì khả năng có những quyết định đúng.

SAI LẦM 4: VĂN BẢN LÀ ĐÚNG

Tùy thuộc vào ảnh hưởng của văn bản, kinh điển là một sai lầm khác nữa mà Đức Phật đã xác định là chướng ngại cho những quyết định có lý trí. Truyền thống Vệ Đà trong thời Đức Phật đã không ngừng sử dụng sức ảnh hưởng của kinh sách để củng cố những niềm tin như cơ chế giai cấp là do thần thánh tạo ra và sự đặt để các bổn phận của từng giai cấp cũng là do thần thánh. Những người ủng hộ truyền thống Vệ Đà tranh luận rằng xã hội phải chấp nhận các tư duy này như là những sự thật tuyệt đối đơn giản chỉ vì chúng đã được công nhận trong các kinh điển. Đức Phật đã thách thức sự suy luận này. Ngài khẳng định rằng quyết định dựa trên ảnh hưởng của văn bản không thể hỗ trợ cho trí tuệ của người ra quyết định.

Đức Phật bảo rằng các văn bản, kinh điển được cho là thiêng liêng là sản phẩm do con người tạo ra. Lời tuyên bố này khiến Đức Phật trở thành có thể là nhà tư tưởng đầu tiên cho rằng các chân lý tôn giáo là sản phẩm của xã hội. Như Đức Phật đã giải thích, sau khi các vị Bà-la-môn thời cổ xưa bắt đầu hành đạo, họ mới chuẩn bị, lập ra các văn bản, kinh thánh.[10] Do đó, các chân lý được coi là tuyệt đối trong các kinh sách đó cũng có thể sai. Như vậy các quyết định dựa trên kinh sách cũng có thể sai.

Xã hội vẫn có khuynh hướng sử dụng văn bản, nhất là các kinh sách, như là một tiêu chuẩn đáng tin cậy để ra quyết định. Kết quả là người ta có thể đi đến những kết luận không hợp lý, không đáng tin cậy. Phá thai, đồng tính, và hôn nhân đồng tính là một số đề tài phổ biến cho ta thấy ảnh hưởng của văn bản, kinh điển nào nổi trội nhất.

Đối với Đức Phật, văn bản, kinh điển, không bao giờ là yếu tố để biện chứng cho một quan điểm, vì một quyết định chỉ dựa trên ảnh hưởng sách vở, văn bản không phản ánh trí tuệ của người ra quyết định. Do đó, việc bác bỏ ảnh hưởng, uy lực của văn bản, kinh sách, là một dấu hiệu rõ nét để tiến tới những kết luận khôn ngoan.

SAI LẦM 5: LÝ LUẬN HỢP LÝ (LOGIC) BAO GIỜ CŨNG ĐÚNG

Đức Phật dùng từ takka để chỉ loại lý luận logic mà Ngài muốn đệ tử của mình phải thận trọng về chúng. Việc dựa trên một số loại lý luận logic có thể làm người ta suy nghĩ sai lạc. Trong các cuộc tranh luận thời nay, phần lớn các cái bẫy trong lý luận, hay những hình thức lý luận hời hợt, được gọi là ngụy biện.

Việc dựa vào những sự phân tích logic hấp dẫn nhưng nông cạn là một hình thức của lý luận logic mà Đức Phật cho là cản trở sự suy nghĩ rõ ràng. Trong thời Đức Phật, một số nhà tư tưởng đã sử dụng phép loại suy (so sánh) để củng cố quan điểm của họ.
Sự so sánh dưới đây được Makkhali Gosala, một nhà tư tưởng nổi tiếng trong thời đó đề ra, là một thí dụ rất thích hợp:

Khi người ta đứng trên đỉnh núi và ném một ống dây thừng, nhưng giữ lại một đầu dây, dây sẽ tuột hết ống, rồi dừng lại.

Cũng thế, mọi người sẽ tiếp tục được tái sinh trong một số kiếp sống sau khi chết, rồi sự hiện hữu của họ cũng sẽ dừng lại.[11]
Mới nghe thoáng qua, pháp cú câu này có vẻ rất logic, nhưng quán sát kỹ lại ta thấy sự so sánh này hoàn toàn vô nghĩa và trống rỗng. Cơ bản là chúng ta không thấy có sự liên hệ gì giữa một ống dây, là vật ta có thể nhìn thấy được, và tái sinh, là một khái niệm siêu hình. Thật ra sự so sánh này chỉ là trò lừa bịp để củng cố quan điểm cho rằng một cá nhân sẽ tiếp tục được tái sinh trong một số lần. Chúng ta sẽ không thể có quyết định khôn ngoan nếu ta chấp nhận sự so sánh logic này như một lẽ đương nhiên.

Để kết luận, dưới đây là các dẫn dụ về một số loại lý luận logic khác mà Đức Phật nhận thấy là chướng ngại cho sự suy nghĩ hợp lý:

+ Các vị đạo sĩ rất có giới luật. Họ đã được chứng ngộ.[12]
+ Tổ tiên của cả hai bên nội và ngoại của người ấy đều là Bà-la-môn. Do vậy, anh ta phải là người cao quý.[13]
+ Nếu Đức Phật thực hiện được phép lạ, thì Đức Phật có thể chứng tỏ Ngài là người đã Giác Ngộ.[14]

Trong thí dụ thứ nhất, Đức Phật cho ta thấy rằng lý do đưa ra không đủ minh chứng cho lập luận đó. Chúng ta cần phải quán sát các vị đạo sĩ đó kỹ hơn để xem họ có chứng đắc hay chưa.

Trong lập luận thứ hai, lý do đưa ra là vô căn cứ vì Đức Phật không thấy sự liên hệ gì giữa việc có tổ tiên là người Bà-la-môn với việc là một người cao quý.

Lý do trong lập luận thứ ba hoàn toàn không liên quan gì đến lời tuyên bố. Đức Phật không cho rằng có sự liên hệ gì giữa việc đạt được Giác Ngộ với khả năng tạo ra phép lạ. Bám víu vào các lý luận sai lầm này chắc chắn là sẽ trở ngại cho sự phán đoán có lý trí của chúng ta.

Dầu vậy, sự cảnh báo này không có nghĩa là Đức Phật khuyên chúng ta phải bác bỏ tất cả mọi lý luận logic. Ngài chỉ khuyên chúng ta cẩn trọng. Trong một số trường hợp, Đức Phật cũng sử dụng lý luận logic để củng cố quan điểm của Ngài, và để phản bác lại những quan điểm đối nghịch. Tuy nhiên, Đức Phật đã chỉ rõ rằng sự tùy thuộc hoàn toàn vào logic có thể cản trở chúng ta có được những kết luận hợp lý:

Người sử dụng logic có thể tranh luận một cách đúng hay sai; cuộc tranh luận có thể sai hay đúng. Do đó, người trí cần quán chiếu rằng: “Người này sử dụng logic để lập luận. Logic có thể đúng hay sai, nó có thể là thế này hay thế khác”.[15]

Điều Đức Phật muốn nhấn mạnh xuyên suốt giáo lý của Ngài là chính kinh nghiệm và tri giác, chứ không phải những sự suy diễn logic, là chìa khóa đưa ta đến cửa trí tuệ. Chúng ta cần đánh giá các giả định đầy logic một cách cẩn trọng, dành ưu tiên cho kinh nghiệm bản thân và trí tuệ của mình để có thể quyết định đúng hay sai trong bất cứ hành động nào.

SAI LẦ M 6: LÝ LUẬN DỰA TRÊN SỰ TƯỞNG TƯỢNG VÀ SUY DIỄN LÀ ĐÚNG

Việc chấp nhận lý luận bắt nguồn từ sự tưởng tượng và suy diễn có thể đưa chúng ta đến những quyết định thiếu sáng suốt. Trong thời Đức Phật truyền thống Bà-la-môn có quan điểm sau đây: Những người thuộc giai cấp Shudra (Thủ-đà-la) phải phục vụ các giai cấp khác vì Phạm Thiên đã tạo ra người Shudra đầu tiên từ bàn chân của Phạm Thiên. Kết luận rằng người Shudra phải làm nô lệ chỉ dựa vào một giả thuyết đầy tưởng tượng rằng người Shudra đầu tiên được sinh ra từ chân của đấng sáng tạo. Trong lý luận này, người Shudra phải thuộc giai cấp thấp kém vì bàn chân của Phạm Thiên là nơi không xứng đáng để con người được sinh ra. Đây là một thí dụ hùng hồn của quan điểm sai lầm này. Do đó, Đức Phật dạy rằng việc chấp nhận quan điểm này không phải là một sự phán đoán khôn ngoan, vì lý do đưa ra để biện minh cho nó chỉ là sự suy diễn.

Hai từ ‘tưởng tượng’ và ‘suy diễn’ cần được bàn rộng thêm ở đây. Chúng ta thấy cơ bản có hai loại lý thuyết trong xã hội: một dựa vào lý trí và sự hiểu biết; một dựa vào sự suy diễn và trí tưởng tượng. Thí dụ, lý thuyết về sự Tiến Hóa (Theory of Evolution) được coi là dựa trên tri thức và lý trí, trong khi lý thuyết về Sự Tạo Dựng (Theory of Creation) thì dựa vào trí tưởng tượng và suy diễn, hay nói cách khác, vào sức mạnh của kinh điển. Đức Phật không cho phép các đệ tử tại gia của Ngài tin vào bất cứ lý thuyết nào, nhất là không được dựa vào các lý thuyết do suy diễn hay tưởng tượng để quyết định điều gì.

Dầu vậy, Đức Phật khuyên các đệ tử phải coi trọng các lý thuyết dựa trên lý trí để phán đoán, quyết định. Trong kinh Agganna[16], khi xét về sự khác biệt trong xã hội loài người, Đức Phật kết luận rằng xã hội tiến hóa có thể là lý do tạo ra những sự khác biệt đó. Trong cùng một bản kinh, Đức Phật đã khẳng định rằng chế độ giai cấp là một sản phẩm của xã hội. Rồi Ngài sử dụng tư duy của xã hội tiến hóa để kết luận rằng tất cả mọi người thuộc nhiều giai cấp khác nhau cần phải có quyền bình đẳng.

Đức Phật xem lý thuyết dựa trên lý trí là quan trọng trong việc đưa ra quyết định. Dầu luôn cẩn trọng đối với tất cả mọi lý thuyết, Đức Phật vẫn coi trọng những lý thuyết hợp lý như là một phương tiện để giúp ta dễ dàng có những quyết định sáng suốt.

Theo lời Đức Phật, các lý thuyết suy diễn “bị chính dòng tư tưởng của nó dập tắt”.[17] Các lý thuyết phát sinh chỉ do động não, sẽ chạy theo khả năng suy diễn của người tạo ra chúng, chứ không phải là sự hiểu biết chân thực. Do đó, những quyết định dựa trên suy diễn và tưởng tượng cho thấy là ta thiếu sự cẩn trọng.

Quan điểm của Đức Phật về việc ra quyết định
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,