Phan Bội Châu và Nhật Bản

Masaya Shiraishi, Tốt nghiệp Khoa XH học trường Đại học TokyoĐỗ Thủy dịch - Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tập 13, số 3, tháng 12 năm 1975
12:42' CH - Thứ hai, 03/11/2014

I. Các yếu tố chính được phân tích

Trong suốt và sau thời kì chiến tranh Nga – Nhật, 1904-1905, một vài nhân vật ái quốc Việt Nam, trong đó có Phan Bội Châu, đã đến Nhật Bản. Lý do họ đến Nhật đã được diễn giải bởi một số các học giả Nhật cũng như kết quả của việc người Nhật đã ảnh hưởng đến họ (1). Tuy nhiên, một vài học giả đã có phân tích sâu (2) về các lý do tại sao Nhật được chọn bởi các nhà ái quốc Việt Nam như là nơi thích hợp nhất cho phong trào mới của họ.

Phan Bội Châu là một trong nhóm những người trí thức lỗi lạc có nền tảng học vấn truyền thống, nhưng họ cũng bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ mới từ Trung Quốc trong vòng thế kỷ này. Ông ta là lãnh đạo phong trào Đông Du, hay phong trào chuyến viếng thăm phía Đông từ năm 1905 đến 1908. Thậm chí sau thời kì này, yêu cầu cách tân của ông ấy đã khuyến khích rất nhiều người trẻ trong các hoạt động cách mạng. Nó không phải là cho đến 1925 sự nghiệp chính trị của ông ta đã qua.

Sự ảnh hưởng của phong trào Đông Du nó vẫn tồn tại đến những năm 1940, trong việc hình thành phong trào chủ nghĩa dân tộc thân Nhật trong suốt kỷ nguyên Nhật chiếm đóng. Sự tiếp tục này được diễn ra bởi một số người như Kỳ ngoại hầu Cường Để -một trong những người quan trọng nhất tham gia trong phong trào Đông Du và đóng vai trò chính trong phong trào những năm 1940.

Đây là điều quan trọng và thú vị để phân tích tại sao nhóm của Phan Bội Châu chọn Nhật và kinh nghiệm của họ là gì khi ở Nhật.

Nó xuất hiện 3 yếu tố chính nên được phân tích để trả lời các câu hỏi:

(1) Tất cả những nho gia người Việt được sinh ra ở giữa thế kỷ 19 bị ảnh hưởng sâu sắc bởi suy nghĩ của các học giả Trung Quốc cùng thời như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu và sau này là Trương Bình Linh, và Tôn Dật Tiên.

(2) Đằng sau các ý tưởng của họ, đặc biệt của Phan Bội Châu là các yếu tố có tính toán và vị lợi. Tuy nhiên, sự quan tâm của Phan và nhóm của ông ta là nhược điểm đối với sự quan tâm của người Nhật về chính trị quyền lực.

(3) Có một khoảng trống lớn giữa tầm nhìn của họ - chúng mà họ đã ấp ủ trước khi đến Nhật và thực tế là họ phải đối đầu ở Nhật.

1)Trong trường hợp của Phan Bội Châu, Heiji Nakamura “Indo-TonanAjianiokeruMinzoku-undo” ở Sekai-rekishi 23, Iwanami, (“Chủ nghĩa dân tộc ở Ấn độ và Đông Nam Á” trong Lịch sử thế giới, tập 23, trang 117-118. Và Yoshihiko Tanigawa, Tonan-AjiaMinzoku-kaiho Undo-shi (Lịch sử của phong trào yêu nước Đông Nam Á, Keiso-shobo, Tokyo 1969), trang 47-49

2) Có 2 lý thuyết được viết, thảo luận về hành trình của Phan Bội Châu đến Nhật

Một là của David Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925 (trường ĐH Califonia 1971). Cuốn sách này sử dụng dữ liệu tiếng Việt và các cuốn sách khác, vẽ ra 1 bản đồ cho phong trào chống Pháp của người Việt đến năm 1925, cuốn sách này cho chúng ta nhiều thông tin hữu ích. Trang 106, tác giả đưa ra 2 lý do mà Phan Bội Châu đã đến Nhật: “Đầu tiên, bởi vì cùng màu da với người Nhật, thứ 2, nỗ lực cải cách của họ có khả năng đánh bại Trung quốc, và … đưa họ sức mạnh đáng nể chống lại người Nga”.

Tôi đồng ý với lý do của ông ta nhưng không hoàn toàn thuyết phục, bởi vì (1) không trả lời rõ ràng các câu hỏi vì sao Phan Bội Châu không tin cậy vào chính nhân dân của ông ấy thay vì quan tâm đến việc hỏi người nước ngoài đến giúp. (2) thì không giải thích rõ ràng động cơ nào đưa ông ấy đến Nhật, mặc dù Nhật là nước đã thôn tính Ryukyus.

Nghiên cứu thứ 2 về hành trình của Phan Bội Châu là cuốn “Phan Bội Châu no Nihon-kan” của Kunie Kawamoto (sự ấn tượng của Phan Bội Châu về Nhật Bản) ở Rekishigaku-kenkyu, số 391. Trong bài báo của Kawamoto nhấn 2 điểm quan trọng: Nó là trước khi bùng nổ chiến tranh Nga-Nhật, nhóm của Phan đã quan tâm đến Nhật. Ý thứ 2 tương phản là Phan Bội Châu đã đi đến Nhật cho dù ông ta đã nhận thức được sự xâm lăng của Nhật (như của Pháp) và sự chiếm đóng của nó về Ryukyus.

Những quan điểm của Kawamoto rất quan trọng và thú vị. Trong điểm thứ nhất, ông ta cho rằng mối quan tâm của Phan Bội Châu ở Nhật chủ yếu là sự ảnh hưởng của Tăng Bạt Hổ, người đã viếng thăm Trung quốc và là 1 người bạn của Nguyễn Thành. Nhưng Phan Bội Châu viết trong bài báo của ông ta về Ryukyus sớm vào năm 1903, trong khi ông ấy gặp Tăng Bạt Hổ sau đó cuối năm 1904. Vậy phải là có nguồn khác đối với kiến thức của Phan Bội Châu về Nhật và sự chiếm đóng Ryukyus.

Trong ý thứ hai của Kawamoto cho rằng mặc dù Phan Bội Châu ý thức được sự xâm lược của Nhật nhưng ông ta vẫn bị mê hoặc bởi sức mạnh của nó mà không hề e ngại. Tác giả hầu hết nói rằng Phan Bội Châu đã đi đến Nhật có chủ đích hơn là bị ép buộc. Nhưng vào đầu thế kỷ 20, không chỉ có Phan Bội Châu, có nhiều người VN khác đã không ngần ngại bày tỏ sự ngưỡng mộ sức mạnh của Nhật và sự tồn tại của nó trong thế giới đầy thù địch. Vì thế chúng ta cần tìm môt mô hình khác để giải quyết sự mâu thuẫn trên.

II. Khởi điểm về mối quan tâm của Phan ở Nhật

Nguyễn Lộ Trạch, tác giả cuốn Thiên hạ đại thế luận – tình thế chung của thế giới (3) và là 1 học giả nổi tiếng cùng thế hệ Phan Bội Châu, đã có sự chú ý rất lớn đối với nước Nhật khi ông ta nhìn thấy nó như 1 quốc gia châu Á sáng tạo và phát triển. Phan Bội Châu cũng bày tỏ cùng quan điểm trong “Lưu Cầu huyết lệ Tân thư”. Đề nghị của Nguyễn Lộ Trạch viết vào năm 1892 và Phan Bội Châu vào năm 1903. Do đó mặc dù lúc đó chưa bùng nổ cuộc chiến Nga – Nhật, các học giả VN đã quan tâm đến sự nổi lên của quyền lực ở vùng xa phía Đông. Và căn cứ vào tiểu sử của ông ta, ông Phan đã đọc bản thảo của Nguyễn Lộ Trạch, chúng dường như đã thông báo cho ông về sự phát triển thành công của Nhật Bản trước khi ông ta viết “Lưu cầu huyết lệ tân thư” (4)

Làm thế nào mà Nguyễn Lộ Trạch và Phan Bội Châu có được những thông tin đó về Nhật Bản? Chúng tôi cho rằng, nguồn tài liệu chính đến từ Trung quốc. Huỳnh Thúc Kháng, một nho sĩ cùng thời Phan Bội Châu viết trong tiểu sử rằng cuốn sách có tựa “Nhật Bản duy tân sử” đến từ người hàng xóm phương Bắc cùng với các cuốn sách của các nhà cải cách khác (5)

Thêm vào đó, phong trào cải cách của TQ chính nó cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự cải cách được ban hành trong thời kì phục hồi Meiji. Đặc biệt sự khích động bởi việc chống lại trong chiến tranh Hán-Nhật, những nhà cải cách TQ đã lấy mô hình quân chủ lập hiến của Nhật để làm mô hình cho họ và đã tổ chức phong trào gửi những người trẻ sang Nhật và dịch sách Nhật trong khi đang tham gia vào các hoạt động cải cách khác (6). Nó tự nhiên nghĩ rằng người Việt cũng giống người TQ, quan tâm đến Nhật.

Bởi vì sự nhấn mạnh của Phan Bội Châu về cuộc chiến tranh Nga – Nhật trong tiểu sử của ông ấy (7), chúng tôi đã nhắm đến suy nghĩ sai rằng, những nhà ái quốc VN ấy đã quan tâm đến Nhật 1 thời gian ngắn ngủi sau khi chiến tranh nổ ra. Nhưng như chú ý ở trên, nó dường như không phải là vậy. Chúng tôi nên ghi nhận rằng Phan Bội Châu và các cộng sự của ông ta quan tâm đến Nhật rất nhiều trước khi chiến tranh nổ ra, mặc dù cuộc chiến giữa Nhật và Nga gia tăng mối quan tâm của người Việt đối với Nhật.

Trong phần tóm tắt, thông qua các văn bản của những nhà cải cách TQ cho rằng các học giả VN đã quan tâm nhắm đầu tiên đến Nhật. Những nhà cải cách TQ đã cố gắng hóa giải sự bế tắc mà họ đang phải đối mặt và họ đã xem Nhật như 1 mô hình. Người VN cũng đối mặt với vấn đề tương tự. Và tự nhiên là họ theo cách của người TQ. Rất đáng chú ý là khi Phan Bội Châu đặt chân đến Nhật, ông ta đã tìm Lương Khải Siêu, nhà cải cách lớn của TQ đã sống cuộc đời lưu vong ở Yokohama. Thông qua ông ta mà Phan Bội Châu cũng quen biết 1 vài chính trị gia Nhật Bản.


3) Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, (Lá Bồi, Saigon,1970), trang 28-35. Và Nguyễn Lộ Trạch được tóm tắt trong Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Lộ Trạch, (Anh Minh, Huế 1966)
4) Phan Bội Châu, Tự Phán (Anh Minh 1956) trang 34-35
5) Huỳnh Thúc Kháng, Tự Truyện, (Anh Minh 1963) trang 26. Và Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghĩa Thục (Lá Bồi 1968) trang 27, và 3 cuốn sách: Nhật Bản duy tân khảng khái sử, Nhật Bản tam thập niên duy tân sử và Nhật bản quốc sử.
6) HidemiOnogawa, Shinmatsu Seiji-ShisoKenkyu (Những nghiên cứu về quan điểm chính trị sau đó, ĐH Kyoto 1960). Jun Takada, Mô hình hóa và Nho giáo ở TQ, Kynokuniya, Tokyo. MasatakaBanno, Lịch sử chính trị và ngoại giao ở TQ hiện đại, ĐH Tokyo 1973.
7) Ngục Trung thư (Tân Việt, Saigon, 1950) trang 28, Phan Bội Châu viết: cuộc chiến Nga – Nhật chỉ cho chúng ta thấy 1 thế giới mới thực sự. Nhân dân ta chỉ biết mỗi người TQ cho đến khi Pháp đến và cũng chỉ có biết thêm Pháp. Chúng ta chưa từng quan tâm đến sự thay đổi và xu hướng của thế giới. Các phong trào của chúng ta trong 1 thời gian dài chỉ nhắm đến hi sinh bản thân và với suy nghĩ về sự trả thù. Chúng ta đã không có tầm nhìn vững chắc về độc lập quốc gia. Chỉ sau khi chúng ta rời khỏi đất nước và đi ra nước ngoài chúng ta mới thay đổi xuyên suốt suy nghĩ và nhận thức của chúng ta. Chúng ta mắc nợ cuộc chiến Nga – Nhật điều này.

III. Những lý do của ông Phan đến Nhật

Trong phần này tôi sẽ cố gắng kiểm tra những lý do tại sao người VN đặc biệt là Phan Bội Châu đã đi đến Nhật và cộng sự của ông ta từ giã mồ mả ông bà, vợ con, băng qua đại dương để đến một đất nước xa lạ cả ngàn năm với họ.

Có ít nhất 3 lý do chính đã đem họ đến Nhật: 1. Học thuyết Darwin; 2. Mong muốn của họ dai dẳng vềđấu tranh vũ trang nhờ lực lượng nước ngoài. 3. Sự nhận thức đơn giản của họ về sự liên kết của người da vàng chống lại da trắng.

1. Thuyết Darwin:

Thuyết tiến hóa Darwin rất hiếm khi được các học giả quan tâm trong lịch sử VN. Tuy nhiên, vẫn có tài liệu chứng tỏ thuyết Darwin được chấp nhận.

Trong bài thơ "Bài ca Đại dư và Lịch sử nước nhà" của Đông Kinh Nghĩa Thục (tác giả Ngô Quý Siêu) chúng tôi tìm được đoạn sau:

Năm châu quanh mặt địa cầu,
Á châu lớn nhất, Mỹ châu thứ nhì
Châu Âu, châu Úc, châu Phi
Mỗi châu một giống, sắc chia rành rành
Giống vàng, giống trắng tinh anh
Giống đen, giống đỏ, giống xanh ngu hèn.
Cuộc đời là hội đua chen,
Giống hay thì sống, giống hèn thì sa.
Lạc Long là tổ nước ta,
Nước non từ trước gọi là Đại Nam,
Lịch niên hơn bốn ngàn năm (11)
Số dân tính ngoại hai trăm ức người.
Ba mươi sáu tỉnh chạy dài,
Năm trăm phủ huyện trong ngoài hai kinh...

8) Các hoạt động của Phan Bội Châu ở Nhật vui lòng xem: Phan Bội Châu, Ngục Trung Thư, trang 33-58. Phan Bội Châu, Tự Phán, trang 51-128. Yoshihisa Kuzuu, Toa SengakuShishiKiden (Tiểu sử của những nhà yêu nước tiên phong ở Đông Nam Á), Kokuryu Kai, Tokyo, 1935, trang 816-825, ShinjiroNagaoka, “Nihon ni okeru Vietnam no hitobito” (những người VN ở Nhật), trong VietamBokokushihoka, (Heibon-sha, Tokyo, 1966)
9) Phan Chu Trinh, “Bức thư gửi chính phủ Pháp”, trong “Thế Nguyên, Phan Chu Trinh (Tân Việt, 1956) trang 89, hoặc trong Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, (Khai trí, Saigon 1968) trang 356
10) David Marr, trang 100 đã kể trên

Bài thơ có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ thuyết Darwin. Và nó dường như bắt chước các thuật ngữ và các ý tưởng của Lương Khải Siêu, đặc biệt những thứ đó có trong cuốn Lý thuyết về công dân mới (12). Chắc chắn rằng cuốn sách đó đã giới thiệu thuyết tiến hóa Darwin đến các học giả VN. Điều này chứng minh 1 thực tế là những gì được sử dụng bởi người VN thì cũng đã được sử dụng bởi người Trung Hoa. (Ví dụ, những thứ trong cuốn Thiên Diễn (13)). Bên cạnh đó rất hợp lý và tự nhiên rằng, các học giảVN vào đầu thế kỷ 20 những người chịu sự áp bức của Pháp đã chấp nhận học thuyết Darwin như là qui luật vạn vật của thế giới này. Họ chấp nhận nó mặc dù sự hiểu biết và kiến thức của họ về nó là không hoàn toàn.

Nó rất thú vị rằng không chỉ nhóm của Phan Bội Châu, nhưng những nhà ái quốc khác đối lập với ý tưởng vũ trang của họ cũng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi học thuyết Darwin (14). Năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp cũng kết hợp viết bài phú theo phong cách cổ mang tên: Danh Sơn Lương Ngọc. Bài phú có nói:

...Nguyên nước Việt ta từ khi dựng nước
Ở vào miền Đông Á một phương
Dưới đến Trần Lý, trên tự Hồng Bàng;
Lòng người thuần phác, dân khí quật cường
Đuổi Tô Định ở Lĩnh Biểu (15)
Bắt Mã Nhi ở Phú Lương (16)
Vừa vẫy cờ mà Chiêm Thành(17) đã mất nơi hiểm yếu;
Mới vung kiếm mà Chân Lạp(18) đã phải mở biên cương.
Mạnh thay nước tổ, dễ ai dám đương
Chỉ vì một phen thất sách, nên để muôn đời tai ương(19).

Bài thơ này chỉ cho chúng ta thấy rằng, một mặt họ đã miêu tả Việt Nam phồn thịnh trong quá khứ đã đánh thắng tất cả các kẻ xâm lăng, giống như Tô Định hay Mã Nhi từ Trung Quốc, mặt khác lại là 1 kẻ xâm lược mạnh các lãnh thổ phía Nam, giống như Chiêm Thành và Chân Lạp. Căn cứ theo họ, thực tế là họ đã phá hủy và đồng hóa những chủng tộc yếu hơn không phải là 1 vết nhơ mà là 1 thành quả vĩ đại trong lịch sử của họ (20)

Nó cũng rất nổi tiếng trong bản thảo Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư của Phan Bội Châu, ông ấy cũng thảo luận về số mệnh của Ryukyus hay Okinawa. Không may mắn bản thảo này đã bị mất (21). Căn cứ vào trí nhớ của ông ấy, trong bản thảo ấy, ông ấy đã chỉ ra sự tiếc nuối về Ryukyus, họ đã thua thiệt về quyền lãnh thổ và địa giới bởi Nhật Bản (22). Vì thế rõ ràng rằng Phan Bội Châu cũng biết Nhật đã xâm lược Ryukyus. Tuy nhiên rất lạ là ông ấy dường như không xác định được đất nước ông ta với Ryukyus (hoặc ít nhất là ông ta không muốn làm thế). Thậm chí cảm thấy tiếc cho sự nô dịch của Ryukyus, nó dường như ý định của ông ấy không phải là sự liên kết để lên án sự xâm lược của Nhật tương tự như Pháp chiếm đóng quê cha đất tổ của ông ấy. Ngược lại với sự kì vọng của chúng tôi, ông ta đã từ chối xác nhận đất nước của ông ấy có cùng tình huống với Ryukyus. Thay vào đó ông ta định hướng ông ấy đến kẻ xâm lược- Nhật Bản.

Chúng tôi có thể thấu hiểu cách nghĩ của ông ấy căn cứ trên sự ảnh hưởng của thuyết Darwin. Ý định của ông ta là tránh sự hủy diệt giống như Ryukyus, một chủng tộc yếu và ngu si. Ông ấy hi vọng quốc gia ông ấy sẽ trở nên mạnh hơn nhờ sự học hỏi mô hình khôn ngoan và thịnh vượng của Nhật. Cảm giác rằng ông ấy được xem như những đứa cháu trai tài trí của Darwin, Spencer và Huxley. Ông ấy là cháu trai của họ bởi vì ông ấy đã ý thức các ý tưởng của họ thông qua các bài viết của các nhà cải cách Trung Quốc. Năm 1905, trên đường đến Nhật, trong lá thư ông ấy viết cho tổng trưởng Quảng Đông, “thời đại của kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu” (24)

Và trong cuốn Tân Việt Nam của ông viết năm 1907, niềm tin của Phan Bội Châu vào học thuyết Darwin nhấn mạnh rõ ràng hơn. Trong chủ đề này, ông ấy miêu tả một đất nước VN hùng mạnh và độc lập mà ông ấy mong mỏi về.

Chúng ta sẽ nắm giữ tất cả các quyền quản trị đất nước và các mối quan hệ đối ngoại. Công việc khai hóa đất nước là sẽ ưu tiên hàng ngày và sự ảnh hưởng sẽ được mở rộng mỗi ngày. Chúng ta sẽ có lực lượng quân đội tinh nhuệ 3 triệu người, giống như một con cọp bao quát mọi hướng, và một đội hải quân anh dũng như con cá voi quan sát tất cả đại dương. Sau đó chúng tôi sẽ gửi các đại sứ của mình đi tất cả các nước. Mỗi quốc gia ở Châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản, Mỹ, Đức, Anh sẽ kết nối với chúng ta và xem quốc gia chúng ta như một quốc gia liên minh hàng đầu thế giới. Siam, Ấn độ và Indonesia sẽ xem quốc gia chúng ta như một thủ lãnh của khối liên hiệp và Trung Quốc - một đất nước to lớn sẽ xem chúng ta như một láng giềng gần gũi và anh em. Kẻ thù của chúng ta – nước Pháp, sẽ lo sợ chúng ta, sẽ vâng mệnh chúng ta từng từ, và sẽ đến để hỏi sự bảo vệ của chúng ta. Lá cờ của chúng ta sẽ phấp phới ở Paris, màu của quốc gia chúng ta sẽ rọi sáng muôn nơi. Vào ngày đó, chúng ta không còn lo sợ sự nô lệ và còn trông và bảo vệ những nước khác (25)

Trong trang này, Phan Bội Châu đã chứng tỏ hi vọng rằng quốc gia của ông ấy sẽ thoát khỏi sự yếu ớt hiện tại, kết nối với các quốc gia hùng mạnh như Mỹ, châu Âu và xa phía Đông và trở thành lãnh đạo của vùng Đông Nam Á và bảo trợ của Pháp. Trong trường hợp chuyển từ yếu sang mạnh, rất cần thiết phải theo ví dụ như Nhật bản. Nhật đã gia tăng sức mạnh thành công trong 40 năm trước (26)

Bài này được viết năm 1907, 2 năm sau khi Phan Bội Châu rời khỏi đất nước đến Nhật nhưng ông ấy đã phải ấp ủ cùng sự kì vọng trước khi rời đến Nhật.

Vì thế nó là thuyết Darwin mà ông và cộng sự đã chọn Nhật một quốc gia hùng mạnh chứ không phải là các quốc gia yếu ớt khác.

2. Mong muốn đấu tranh vũ trang có sự hậu thuẫn của nước ngoài

Điểm nổi trội của Phan Bội Châu được thừa hưởng từ người tiền nhiệm của ông ta, các lãnh đạo phong trào Văn Thân – Cần Vương, là ý tưởng dùng vũ lực để chống lại. ông ấy đã nhấn mạnh rõ ràng với chủ nghĩa anh hùng và anh dũng của trận chiến vũ trang chống lại người Pháp vào những năm 1880 (27). Và ông ấy cũng nhấn mạnh mong muốn của mình kết nối với trận chiến này bằng việc tham gia tổ chức 1 nhóm nhỏ du kích năm 1885 (28)

Sau khi phong trào anh hùng Phan Đình Phùng bị thất bại hoàn toàn, Phan Bội Châu đã ấp ủ sự ngưỡng mộ phong trào Văn Thân – Cần Vương, mặc dù ông ấy bị buộc phải sống trong im lặng ở làng quê ông ấy hơn 10 năm. Sau năm 1901 ông ấy quyết định thực hiện kế hoạch của mình cho việc nổi dậy bằng vũ trang ở thủ phủ tỉnh Nghệ An. Ông ấy và cộng sự của mình có kế hoạch hi vọng khởi nghĩa để cơ động hóa những cá nhân có cùng ý định và làm sống lại sự chống Pháp có vũ trang mà chúng đã nhạt dần đi sau cái chết của Phan Đình Phùng (29). Đương nhiên, nó là không thể tránh được mưu đồ của họ đã thất bại giống như cuộc nổi dậy của nghĩa quân thế kỷ 19. Lúc này nó đáng ghi nhận rằng ông ấy đã bắt đầu sự nghiệp của mình như 1 chính trị gia và nhà ái quốc bằng việc tham gia tổ chức 1 cuộc nổi dậy có vũ trang. Vì thế ông ấy đã thừa hưởng tinh thần đấu tranh của những người đi trước. Ông ấy cũng thừa hưởng truyền thống 1000 năm đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm. (30)

Nhưng mặc dù mong muốn của họ là cuộc chiến vũ trang, Phan Bội Châu và cộng sự của ông cũng như những người tiền nhiệm của họ đủ thực tế để ghi nhận rằng họ là yếu hơn về mặt quân sự so với đối thủ người Pháp (31). Như thế nào mà họ có thể hiểu được điểm yếu của mình? Giống như những nhà ái quốc xuất sắc ở thế kỷ 19, nhóm của Phan Bội Châu cảm thấy sự thiếu hụt chính yếu là từ việc thiếu vũ khí. Nó rất tự nhiên rằng những người đó đã tin cuộc chiến có vũ trang là cách giải quyết duy nhất các vấn đề của họ, chúng có liên quan đến việc trang bị vũ khí hiệu quả. Nhưng họ nhận thấy đầy đủ rằng họ không có đủ vũ khí trong vòng Việt Nam để đánh lại người Pháp.

Phan Bội Châu nói trong bút ký:

“Thời kì tổ tiên chống lại những kẻ xâm lăng Trung Hoa, chi khi chúng ta nắm được vũ khí và kêu gọi toàn dân, những làn sóng lớn nổi lên dữ dội. Tuy nhiên, ngày nay tình thế đã khác. Với sự sáng tạo của súng, giáo mác và gươm không được sử dụng nữa. Chúng ta không thể làm được gì thậm chí với sự dũng cảm của mỗi cá nhân chúng ta. Vũ khí của người Pháp hơn gấp ngàn lần chúng ta …. Tóm lại, sự khó khăn lớn nhất cản trở kế hoạch của phe chúng ta không gì hơn là vũ khí” (32)

Viết về sự khó khăn cụ thể hơn, ông ta nói:

Tất cả các xưởng vũ khí của đất nước chúng ta bị chiếm đóng bởi lực lượng Pháp. Nếu chúng ta trở nên quan tâm đến súng đạn chúng ta sẽ bị trừng trị nghiêm khắc…. mặc dù chúng ta muốn nhập vũ khí từ nước ngoài, nó là không thể bởi vì tất cả các cảng của đất nước được giám sát chặt chẽ bởi quan chức Pháp(33)

Không chỉ Phan Bội Châu và các cộng sự của ông mà còn những người tiền nhiệm đã nhận ra rằng họ là thấp kém hơn người Pháp và thiếu các phương tiện chống lại kẻ thù. Vì thế họ đã cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách tìm kiếm sự trợgiúp từ nước ngoài. Một vài thủ lĩnh của phong trào Văn Thân – Cần Vương đã gửi người ủy nhiệm hay chính họ đến TQ với mục đích đó. (34) Nhóm của Phan Bội Châu tiếp cận Nhật với cùng mục đích.

Vì thế đó là sự trợ giúp về mặt quân sự - đặc biệt là vũ khí mà Phan Bội Châu đã tìm kiếm đầu tiên sau khi đến Nhật.

Tại điểm này chúng ta nên chú ý rằng Phan Bội Châu không tìm kiếm sự trợ giúp từ các quốc gia với chế độ quân chủ hoàn toàn như Trung Quốc, nhưng từ 1 nước quân chủ lập hiến như Nhật. Phương kế này được gợi ý bởi nhà cải cách Trung Quốc thất vọng với Trung quốc đương thời và sự hiện diện của họ đối với Nhật và sự ủng hộ lập hiến. Sau đó nó cũng gợi ý bởi sự bùng nổ cuộc chiến Nga – Nhật. Tóm lại, sự thay đổi này chỉ ra giai đoạn mới trong lịch sử chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Mặc dù Phan Bội Châu và các cộng sự của ông nợ việc giải quyết lớn với phong trào yêu nước để lại cho họ, họ cũng cần phải trang bị cho chính họ những ý tưởng và tầm nhìn mới đáp ứng yêu cầu về thời gian thời điểm.

Phan Bội Châu (phải) và Cường Để. Hình chụp khoảng năm 1907.

11) Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghĩa Thục, trang 71
12) Lương Khải Siêu, “Hsin-Min Shuo”, trong Hsin-min Tsung-pao, số 2 tháng 2 năm 1902
13) Con đường VN nói về những cái tên phương Tây chứng minh về mặt biểu tượng rằng họ đã có liên lạc đầu tiên với văn hóa và tư duy phương Tây thông qua những cuốn sách tiếng Trung. Ví dụ, người Việt gọi Bismarck, Tí Tư Mạch; Gladstone, Cách Lan Tư Đồn, và Washington, Hoa Thịnh Đốn, (Nguyễn Hiến Lê trang 69). Những tên gọi đó được mượn từ kí tự tiếng Trung mà các học giả Trung quốc đã chuyển thể phát âm theo ngôn ngữ của họ. Khi người Việt Nam nhập những từ này, họ tự nhiên sử dụng cách chuyển thể của người Hoa đã dùng. Tuy nhiên cách phát âm tiếng Việt khác và sự phiên âm của những từ phương Tây đó đã được sửa đổi nhiều.
14) Phan Chu Trinh viết là thư đến chính quyền đô hộ Đông dương, 1906, trong đó ông ta chú ý “XH này là những kẻ mạnh được và những kẻ yếu mất” (trong Thái Bạch, trang 351 hay trong Nghiên cứu Lịch sử số 66 trang 9) và Trần Qúy Cáp nói “Hiện nay trên trái đất, những quốc gia lớn đang đấu tranh và phát triển kiến thức. Vì thế họ trở nên giàu có và mạnh mẽ” (Nguyễn Văn Xuân, trang 177)
15) Điều này tham khảo trong câu chuyện chị em bà Trưng chống lại quân Hán vào thời kì thế kỷ thứ 1
16) Tham khảo trận chiến Bạch Đằng nơi người Việt đánh thắng quân Nguyên Mông
17) Chiêm Thành là Chăm hay Chăm pa người đã xây dựng vương quốc ở miền Trung VN
18) Chân Lạp là vương quốc cũ của người Khmer.
19) Bài thơ này trong Nguyễn Quyết Thắng, Huỳnh Thúc Kháng (Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn 1972), trang 353-358
20) Xem chú thích 26
21) 1 vài chủ đề này được in trong tạp chí Văn Sử Địa, số 33 trang 68-73
22) Phan Bội Châu, Tự phán, trang 34-35
23) Như cho mong muốn của VN trong việc xác định chính nó với Nhật, nó là hữu ích để nhớ lại thời liên quan đến Tăng Bạt Hổ. Căn cứ vào Nguyễn Hiến Lê, trang 29-31, người đã trở thành thủy thủ ở Trung quốc và đã đi tàu đến Nhật nhiều lần, sớm đã được dạy tiếng Nhật và tòng quân cho quân đội Nhật. Trong suốt thời kì chiến tranh Nga-Nhật, ông ấy đã nhận ra bản thân trên chiến trường. Sự dũng cảm của ông đã khơi ra sự hâm mộ của người Nhật và ông ấy đã được gắn huy chương. Sau niềm hân hoan đó, ông ấy đã tham dự 1 bữa yến tiệc của hoàng đế Meiji, ông ấy đã thỉnh cầu trong nước mắt với hoàng đế về tình trạng bi thương của tổ quốc mình. Sau khi nghe ông bày tỏ, hoàng đế Meiji đã tung hô ông là người có lòng ái quốc và an ủi. Nhân cơ hội này, căn cứ vào từ ngữ của Nguyễn Hiến Lê, ông đã làm quen với Tsuyoshi Inukai và Shigenobu Okuma và những người khác. Và họ đã khuyên ông gửi học sinh sang Nhật. Phần này không thực sự có thể xác nhận. Nó đáng ghi nhận rằng triều đại này dường như đã chấp nhận thiết tha và tin tưởng rộng rãi 1 số người Việt. Thực tế, xuất xứ của câu chuyện chỉ là nói đến giấc mơ của chính ông ấy. Ông ta đã mơ có 1 người VN giúp người Nhật da vàng chống lại người Nga da trắng và vì thế khuyến khích người của ông ấy khẳng định với người Nhật. Cùng loại với hồi chương này là được thuật lại trong Phong trào đại đông du của Phương Hữu (Nam Việt, Saigon 1950) trang 7-9
24) Nghiên cứu lịch sử số 90 trang 62

3. Chủng tộc Vàng và Trắng

Sớm sau khi ông ấy đến Nhật, Phan Bội Châu đã viết 1 lá thứ đến Shigenobu Okuma (1905). Trong lá thư này ông ấy nhấn mạnh rằng Nhật nên giúp Việt Nam, đang bị chiếm đóng bởi người Pháp. Và ông ấy ghi ra 2 lý do cho yêu cầu của ông ấy đến nước Nhật. đầu tiên là đế chế vĩ đại của Nhật là 1 nước có cùng màu da, cùng tính cách và cùng châu lục với Việt Nam, và Nhật là lãnh đạo hàng đầu ở Châu Á. Lý do thứ 2 là người Pháp nhắm đến biển Nam Trung Hoa, chắc chắn sẽ kết hợp với Nga nhắm đến biển bắc Trung quốc, và sẽ di chuyển căn cứ của họ từ Việt Nam đến Quảng Đông, Kwangsi, Đài Loan và Ryuukyus. Sau đó họ sẽ đưa ra 1 đe dọa lớn đến Nhật (35)

Lý do thứ 1 được diễn đạt trong các điều kiện của trách nhiệm người Nhật giải cứu Việt Nam. Và thứ 2 là đề nghị Nhật quan tâm trong việc duy trì sự ảnh hưởng của họ (36). Ở đây Phan Bội Châu đã kết nối ý tưởng liên kết giữa những người da vàng chống lại da trắng với sự thực là chính trị quyền lực trong vùng quốc tế.

Có lẽ ông ấy đã thuyết phục đúng về loại hợp tác này. Nhưng đằng sau nó, ông ấy cũng có ẩn ý thúc đẩy cho sự ủng hộ chủ nghĩa châu Á. Tại thời điểm chiến tranh Nga Nhật, người Pháp cũng đã liên kết với Nga. Ông ấy cũng có lẽ đã nghe về sự can thiệp tay ba và liên kết Nga – Pháp. Vì thế nhóm Phan Bội Châu đã vẽ ra 1 bản đồ cơ cấu quyền lực quốc tế ở châu Á. Họ biết rằng Nhật đối nghịch với Nga và nghĩ rằng vì thế mà người Nhật cũng đối nghịch với Pháp. Đương nhiên, người Pháp là kẻ thù của người Việt. Căn cứ vào Phan Bội Châu, Nhật và VN vì thế có kẻ thù chung Nga và Pháp (37). Điều này là tại sao ông ấy tin rằng người Việt có thể liên kết với Nhật.

Ý nghĩa nào đó mà những kì vọng của Phan Bội Châu về sự trợ giúp nước ngoài là căn cứ trên sự hiểu biết của ông về mối quan hệ quốc tế. suốt cuộc đời của ông, liên tiếp tìm kiếm sự trợ giúp từ những nước đối nghịch với Pháp. Đầu tiên là Nhật và sau đó là Đức và Trung quốc, và cuối cùng là Soviet Nga. Tuần tự ông ấy đã thay đổi các ý tưởng chính trị của mình trong trình tự thích hợp với mong muốn về các quốc gia đỡ đầu có thể. Ông ấy đã tìm kiếm sự trợ giúp của đế quốc Nhật, ông ấy là 1 cá nhân ủng hộ chủ nghĩa châu á và quân chủ lập hiến. khi ông ấy cố gắng liên kết với Trung hoa cộng hòa, ông ấy là 1 nhà dân chủ cộng hòa và nhà cách mạng. và sau đó ông ấy dường như có thiện cảm với chủ nghĩa xã hội khi ông ấy cố gắng liên lạc với lãnh sự quán Liên xô ở Peking. Trong cuộc đời ông ấy chỉ có 1 mục tiêu. Là đuổi người Pháp ra khỏi đất nước của ông ấy và xây lại 1 quốc gia độc lập. (38). Vì mục tiêu này, ông ấy có thể dễ dàng chấp nhận bất cứ ý tưởng nào mà chúng đảm bảo ông ấy có sự trợ giúp của nước ngoài (39)

Kết luận lại, vào thời gian chiến tranh Nga-Nhật, trong mắt của Phan Bội Châu nguyên nhân của chủ nghĩa châu Á và mối quan tâm của Nhật và VN trong khu vực chính trị quyền lực là phù hợp và cân đối với cả 2 bên. Thông qua việc khai nhận sự liên kết của những người da vàng chống lại da trắng, Phan Bội Châu đã nhấn mạnh hi vọng của ông ta cho sự liên kết giữa Nhật và Việt Nam chống lại Nga và Pháp.

25) Nghiên cứu lịch sử số 78 trang 32
26) Trong nội dung này chúng ta có thể so sánh những từ ngữ của Lương Khải Siêu mà ông ấy đã mô ta trong Jih-pen-kue-shiHou-hsu 1897; “Trong suốt 30 năm, Nhật đã biến bất hạnh thành hạnh phúc, và thay đổi chính họ từ yếu sang mạnh. Vì thế Nhật đã có Ryukyus và xâm chiếm Đài Loan”
27) Năm 1883, 1 thời kì 16 năm, Phan Bội Châu đã viết 1 thỉnh nguyện “Bình Tây Thu Bắc” vào kì Pháp tấn công Bắc VN. Sau lỗi lầm của ông ấy trong việc tổ chức nhóm nhỏ (1885), ông ấy cũng viết 1 bản thảo “Song Tuất Lục” năm 1886, trong đó ông ấy tán dương 2 phong trào xảy ra vào năm 1874 và 1886. Sự ngưỡng mộ phong trào Văn Thân – Cần Vương của ông ấy được xác minh trong cuốn Việt Nam Vong Quốc Sử (Tao Đàn, Saigon), ban đầu được viết vào năm 1905. Trong đó ông đã miêu ta những thành tích vang dội của các lãnh đạo thế kỷ 19.
28) Phan Bội Châu, Ngục Trung Thư, trang 13-14
29) Ibid., trang 15-33, Phan Bội Châu, Tự phán, trang 26 và Thế Nguyên, Phan Bội Châu (Tân Việt, 1956) trang 13-22
30) Ví dụ, Phan Bội Châu viết trong “Hải ngoại huyết thư”, “Chúng tôi đã đánh bại quân Nguyên, đuổi quân Ngô và tiêu tan quân Ching. Tôi không thể hiểu tại sao nhân dân chúng tôi lại mất đi tinh thần yêu nước truyền thống của họ”
31) Chúng ta có thể tìm những trang sau trong đề nghị của Nguyễn Quang Bích, 1 trong những lãnh đạo phong trào thế kỷ 19. “Như thể bạn kiêu hãnh về sức mạnh của bạn, kỹ năng của bạn, chúng ta sẽ tiếp tục từ chối từ bỏ lỗi lầm của chúng ta, những điểm yếu của chúng ta”. Xem David Marr, trang 71 và Truong Bun Lam, Các nhân tố của người Việt phản ứng lại sự can thiệp của ngoại quốc, ĐH Yale 1967, trang 130
32) Phan Bội Châu, Ngục Trung Thư, trang 26-27
33) Ibid. trang 27
34) Rất nổi tiếng về Tôn Thất Thuyết, cố vấn quan trọng nhất của vua Hàm Nghi, đã đến Trung quốc để hỏi sự giúp đỡ của họ. Và các lãnh đạo khác cũng làm thế như Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Thiện Thuật.
35)36) “Hai văn kiện ngoại giao đầu tiên của Phan Bội Châu” được dịch bởi Chương Thâu trong Nghiên cứu lịch sử, số 90.

Chúng tôi không đủ biết để xác định có hay không lập luận này được hình thành xuyên suốt trước khi chuyến đi của ông ta đến Nhật hay nếu nó là được hình thành và ảnh hưởng bởi những người ủng hộ chủ nghĩa châu Á người Nhậtvà/hay những ý định của Lương Khải Siêu sau chuyến đi của ông ta.

Phan Bội Châu (1867 - 1940)
Phan Bội Châu (1867 - 1940)
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,