Nhân tài và sử dụng nhân tài

Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult GroupSách Suy tưởng
10:38' SA - Thứ tư, 18/04/2007

Một số vấn đề nhận thức

Gần đây, Báo Tuổi trẻ đã mở diễn đàn nhân tài đang ở đâu? Thu hút sự quan tâm của rất nhiều người, trong đó có nhiều học giả khá nổi tiếng với những bài viết tương đối cởi mở và thẳng thắn. Thực ra, vấn đề hoàn toàn không mới. Người ta đã mổ xẻ vấn đề này ở các cơ quan nhà nước - nơi thu hút phần lớn "nhân tài" theo quan niệm thông thường. Người ta cũng đem vấn đề này vào trong những cuộc họp ở các công ty tư nhân - nơi quan niệm về nhân tài đói khi hoặc thực tế hoặc thực dụng hơn. Người ta nói câu chuyện này ở cả những quán nước - nơi con người cảm thấy tự do hơn và do đó, sẽ nói về những vấn đề kiểu như thế một cách hồn nhiên hơn, thẳng thắn hơn và đôi khi với một thái độ bất mãn hơn. Dường như, vấn đề này đã nóng tới mức Đài Truyền hình VTV1 đã dự định sẽ chọn nó là một trong những chuyên mục đối thoại trực tiếp và chúng tôi tin rằng đó sẽ là một trong những chuyên mục được công chúng mong chờ nhất.

Chúng tôi cho rằng, trước khi bàn về việc làm thế nào để phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân tài, cần xem xét lại quan niệm về nhân tài. Nhân tài là người như thế nào? Quan niệm truyền thống của chúng ta về nhân tài là những người học giỏi hoặc những người có nhiều bằng cấp hay giải thưởng. Một số người quan điểm thực tế và thực dụng hơn cho rằng, nhân tài là những người nhạy cảm với đồng tiền và kiếm được nhiều tiền. Chúng tôi không đồng ý với cả hai quan điểm trên và cho rằng, chính những nhận thức lệch lạc như vậy đã kìm hãm khả năng phát triển nguồn lực con người của chúng ta trong một khoảng thời gian rất dài, thậm chí, đã gần như tiêu diệt những yếu tố mang tính tài năng. Không chỉ dừng lại ở những sai lầm trong việc nhận thức thế nào là nhân tài, xã hội gần như chỉ coi trọng những người có khả năng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên mà quên mất những khả năng hoặc tài năng trong lĩnh vực khoa học nhân văn khoa học quản lý và khoa học lãnh đạo. Đáng ngại hơn là tình trạng "chính trị hóa hay "quan chức hóa" các nhà khoa học khiến cho các nhà công nghệ, các nhà khoa học buộc phải lấy những kiến thức vật lý hay toán học của mình để lãnh đạo những công việc đòi hỏi những hiểu biết chính xác về khoa học quản lý và khoa học lãnh đạo. Kết quả là chúng ta có những nhà lãnh đạo rất không chuyên nghiệp và một tầng lớp trí thức vừa ngạo mạn vì sự thành đạt hơn nhân dân, vừa xa rời cuộc sống và, thậm chí, còn coi thường nhân dân.

Trong quan điểm của chúng tôi, chữ "tài" trong "nhân tài" phải được chia làm hai loại, đó là khả năng và tài năng. Khả năng thuộc về sôi đông và để xã hội phát triển một cách thông thường, cần phải phát hiện, đào tạo và sử dụng khả năng một cách hợp lý. Trong khi đó, tài năng là một khái niệm trừu tượng hơn, nó luôn có tính cá biệt và là yếu tố không thể thiếu để tạo ra nhứng sự phát triển mang tính đột phá. Các phân tích về khả năng và tài năng đưa chúng ta tới một kết luận, nhân tài là những người tự giao nhiệm vụ cho mình và tự sáng tạo ra mình.

Những hạn chế

Gần đây, Chính phủ Việt Nam có kế hoạch chi một khoản ngân sách là 325 tỷ đồng cộng với hoặc 1 1 triệu đô la hoặc 45 triệu đô la cho Dự án "700 nhân tài trong 7 năm" . Phải khẳng định rằng đó thực sự là thành ý, là nguyện vọng chính đáng của chính phủ nhằm phát huy nguồn lực con người - một trong những yếu tố quan trọng nhất của tiến trình phát triển. Tuy nhiên, tính khả thi của Dự án cần phải xem xét kỹ. Liệu rằng, với một nền giáo dục như hiện nay, với một nền văn hóa như hiện nay và với một thể chế như hiện nay, chúng ta có thể thành công hay không? Hay 325 tỷ đồng cộng với 11 triệu đô la hoặc 45 triệu đô la sẽ tiếp tục cho ra đời những nhân tài không có thực tài hoặc nếu có tài cũng không có khả năng cống hiến tài năng của mình vào tiến trình phát triển của đất nước? Đó mới chính là điều chúng ta cần làm rõ.

Thứ nhất, buộc phải công nhận một thực tế rằng, Việt Nam hiện đang có một nền giáo dục khuôn mẫu và kém hợp lý tới mức luôn cung cấp cho thị trường lao động những sản phẩm khó bán hoặc thậm chí không thể bán. Những sản phẩm kiểu đó thường là những người lao động mang trong mình rất nhiều kiến thức nhưng lại thiếu tư duy làm việc nên không thể biến những kiến thức được học trở thành công cụ lao động của mình. Kết quả là chúng ta có một thế hệ thanh niên (so với khu vực và thế giới) đang ngày càng tụt hậu với chỉ số trí tuệ đạt 2,3/10, ngoại ngữ đạt 2,5/10 và khả năng thích ứng với điều kiện tiếp cận khoa học kỹ thuật chỉ đạt 2/10 (*). Điều đó đồng nghĩa với việc chất lượng phát triển của Việt Nam đang bắt đầu có biểu hiện suy thoái, hay nói cách khác, Việt Nam đang phát triển với một chất lượng xuống cấp.

Thứ hai, nền văn hóa Việt Nam với những hạn chế của nó đang ngày càng trở thành một thứ trở ngại đối với việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Tại sao lại nói như vậy? Chúng tôi cho rằng, một điều kiện bắt buộc để phát huy nguồn lực con người là chúng ta phải tôn trọng các giá trị cá nhân. Tuy nhiên, nền văn hóa Việt Nam dường như rất khó chấp nhận những thứ khác biệt, những thứ nổi cộm - tóm lại là những giá trị mang đậm chất cá nhân.

Cuối cùng, là vấn đề thể chế cũng chính là vấn đề quan trọng nhất. Ngạn ngữ cổ Anh có một câu "There is no other way but taking the bull hy its horn", nghĩa là "Chẳng có cách nào để giải quyết khó khăn ngoài việc đối diện với nó". Không thể không thừa nhận rằng, hết thảy mọi khó khăn và bế tắc của chúng ta đều nằm ở vấn đề thể chế. Từ rất lâu, cơ chế tuyển dụng của Việt Nam có một đặc điểm là dựa vào các mối quan hệ theo kiểu những lao động được tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước đều khả năng hay tài năng. Kiểu tuyển dụng như thế kéo dài hàng không còn nhiều 1ắm cơ hội được đóng góp vào sự nghiệp phát cứ lần lượt tiếp nhận công việc của các thế hệ trước và gia giảm rất nhiều người đã trở thành lãnh đạo, nắm giữ những cương vị của mình, một số người trong số họ lựa chọn cách tuyển dụng những lao động có hàm lượng tài năng còn hạn chế hơn cả dạo, chất lượng trí tuệ còn đáng ngại hơn. Đôi khi yếu tố công nhiên,'tài năng của họ lại trở thành một thứ vũ khí tố cáo sự hạn chế của những người nắm giữ cương vị quản lý. Kết quả là, từ bỏ công việc của mình. Một số người có khả năng hoặc triển vọng tất yếu của mình nếu ở lại và cố gắng "kề vai sát cánh" vào các cơ quan nhà nước. Nhiều người trong số họ ra nước ngoài học (hoặc bằng học bổng của Nhà nước hoặc tự túc) và không quay về nước, tạo ra hiện tượng "chảy máu chất xám".

Nói tóm lại, hạn chế lớn nhất của thể chê hiện nay nằm ở chỗ nó có khuynh hướng làm cho mọi người giông nhau và giống với một cái khuôn được đúc sẵn. Liệu nhân tài có thể phát triển trong một thể chế như thế khi mà mọi yếu tố mang tính mới, mang tính đột phá luôn bị triệt tiêu? Có thể nói, những điều tương tự như thế cứ kéo dài triền miên khiến cho lực lượng quản lý ngày càng trở nên không tương thích với tiến trình phát triển của đất nước. Phải chăng, chính vì điều đó mà vấn đề tìm kiếm, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân tài ngày càng trở nên bức xúc?

Một số giải pháp

Có một câu nói rất nổi tiếng đại ý Rafael là một tài năng, nhưng vấn đề của chúng ta không phải là tìm ra Rafael vì là tìm ra các yếu tố Rafael trong mỗi một con người và đảm bảo rằng các yếu tố Rafael đó có thể phát triển. Chúng tôi cho rằng vấn đề phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân tài của chúng ta cần phải bắt đầu và được tiến hành với một nhận thức như vậy. Một xã hội không thể phát triển ổn định thuần túy nhờ vào việc phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân tài; mặt khác, trạng thái tối ưu của bất kỳ loại yếu tố nào cũng là đủ kể cả khi yếu tố đó là tài năng. Do đó, cần có những nghiên cứu chính xác về trạng thái đủ cụ thể của Việt Nam và xây dựng những công nghệ đào tạo thích hợp thay vì "sản xuất một cách ồ ạt hoặc nuôi "gà chọi" như trước đây và hiện nay.

Trong quan điểm của chúng tôi, vấn đề phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân tài sẽ không bao giờ được thực thi một cách hiệu quả nếu chúng ta không đủ dũng cảm để tạo ra những thay đổi triệt để đối với hệ thống giáo dục Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam và thể chế Việt Nam. Đây là ba nhiệm vụ mang ý nghĩa sống còn và nếu không thực hiện chúng đưa trên một tư duy và phương pháp luận hợp lý, thì không chỉ Dự án "700 nhân tài trong 7 năm" sẽ thất bại mà cả rất nhiều những dự án tương tự như thế, thậm chí lớn hơn thế trong tương lai cũng sẽ thất bại.

Thật khó để có thể đưa ra lộ trình cho ba cuộc cải cách trên trong phạm vi một bài viết. Tuy nhiên, thông điệp quan trọng nhất mà bài viết này muốn truyền tải tới những độc giả của nó là hãy để tự do trở thành điểm khởi đầu của cả ba cuộc cải cách. Chính tự do sẽ tạo ra sự đa dạng tinh thần của đời sống giáo dục, chính tự do sẽ đem lại cho nền văn hóa Việt Nam một sức sống mới và chính tự do sẽ đánh thức và nuôi dưỡng tài năng. ở đây, xin được lưu ý rằng, quá trình phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân tài đối với những người có tài năng sẽ rất khác với những người có khả năng. Với những người có khả năng, chúng ta có thể tiến hành theo cách thức hiện giờ với việc thiết lập và triển khai những dự án tương tự như Dự án "700 nhân tài trong 7 năm", thành lập các trường chuyên lớp chọn hay những chương trình đào tạo cử nhân tài năng (đã được thí điểm ở một số trường đại học lớn và bước đầu cũng đã tỏ ra là thành công). Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là phải tạo ra một thể chế lành mạnh bởi chỉ một thể chế lành mạnh mới có thể phát huy tốt nhất những khả năng của họ và cũng chỉ một thể chế lành mạnh mới hấp dẫn những người có khả năng và tài năng. Mặt khác, một thể chế lành mạnh sẽ kích thích cảm hứng phát triển trong từng cá nhân. Sự cộng hưởng cảm hứng của từng cá nhân, đến lượt mình, sẽ tạo ra cảm hứng phát triển của những cộng đồng và điều này chắc chắn sẽ xúc tiến tiến trình phát triển của cả đất nước. Đối với những người tài năng, việc duy nhất chúng ta cần làm sau khi tìm thấy họ là hãy trao tự do cho họ, nói cách khác, hãy để tài năng của họ phát triển một cách tự do mà không có bất kỳ sự lăng-xê nào bởi tài năng là một thứ tài sản mà người sở hữu nó là người ít biết về nó nhặt. Cần nhận thức rằng, đôi khi, việc quảng cáo rầm rộ về một tài năng có thể hạn chế, hoặc thậm chí, tiêu diệt sự phát triển của một tài năng và những can thiệp mang tính chất định hướng có thể giới hạn không gian phát triển cũng như không gian sáng tạo của họ.

Về vấn đề sử dụng tài năng, chúng tôi cho rằng, đầu tiên cần phải có một cơ chế tuyển chọn dân chủ, công khai minh bạch để đảm bảo các yếu tố khả năng và tài năng có thể xuất hiện. Điều thứ hai nhưng không kém phần quan trọng là chúng ta phải xây dựng một cơ chế pháp quyền để đảm bảo các yếu tố khả năng và tài năng có thể phát triển mà không bị vùi dập. Chỉ khi nào làm được hai điều trên thì chúng ta mới có thể sử dụng nhân tài và đó cũng chính là tiền đề để phát huy một trong những nguồn nội lực quan trọng nhất - nguồn lực con người.

Thực ra, vấn đề của chúng ta không dừng lại ở việc làm thế nào để phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân tài mà quan trọng hơn cả là làm thế nào để xây dựng một đội ngũ trí thức Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, nói đến tri thức là nói đến một phạm trù nhân cách và khi nói về nhân cách, cái đầu tiên phải bàn đến là tình yêu trong mỗi một con người, trong đó yêu nước là tình yêu quan trọng nhất. Cổ nhân dạy rằng " Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" nghĩa là ngay cả những kẻ tầm thường còn phải chịu trách nhiệm trước sự hưng thịnh của nước nhà, vậy thì trí thức lại càng không thể làm ngơ trước những vấn đề của đất nước. Hơn nữa, tri thức là những kẻ uống sữa" của nhân dân nên trí thức buộc phải biến mình trở thành tội đồ của nhân dân, phải nói hộ nhân dân giống như ngày xưa Nguyễn Trãi từng đau nỗi đau của một cô gái câm - ở đây, cô gái câm là biểu tượng của nhân dân, những người bất lực trong việc diễn tả cả nỗi đau cũng như nguyện vọng của mình. Trí thức là những người dũng cảm và dám nói lên sự thật, thay vì chỉ đóng vai trò phụ họa như phần đông những người tự xưng là trí thức hiện nay. Nói tóm lại, trí thức phải tìm thấy vai trò thực sự của mình trong sự nghiệp phát triển đất nước.


Nhân tài chính trị - lời giải cho bài toán phát triển

Đến nay, quan niệm của ta về nhân tài tiến bộ hơn và chứa đựng những đòi hỏi cụ thể hơn, tuy nhiên, cũng mới chỉ chú trọng dấn các nhân tài trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, hay nói cách khác là "nhân tài công nghiệp". Như vậy, nhân tài là ai? Chúng tôi cho rằng, nhân tài là người nhận ra nh~lg yếu tố mà một dân tộc cần và đáp ứng một cách thông minh nhất. Cái mà dân tộc Việt Nam đang cần, do đó, là nhân tài chính trị.

Vậy thì một nhân tài chính tả cần phải giải quyết những vấn đề nào? Trong quan điểm của chúng tôi, nhân tài chính trị phải giải quyết không chỉ bài toán chính trị cụ thể của từng giai đoạn lịch sử mà cả những bài toán chính trị có tính truyền thống của lích sử. Phải hiểu rằng những bài toán chính trị truyền thống bao giờ cũng chứa đựng trong nó những yếu tố riêng biệt của từng thời dại và do đó, nhà chính trị buộc phải giải các bài toán chính tả truyền thống bằng những lực lượng trong thời đại của mình trên cơ sở tính đến những nhân tố riêng biệt. đó. Trong trường hợp của Việt Nam, một nhân tài chính trị cần phải giải quyết sáu vấn đề 'căn bản nhất - đó là định vị Việt Nam trong tiến trình phát triển của thế giới, xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam, xây dựng hệ tư tưởng quân sự Việt Nam, xây dựng chương trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa bên cạnh Trung Quốc, xây dựng tầng lớp thượng lưu và đội ngũ trí thức trong xã hội Việt Nam và thừa nhận các giá trị phương Tây. Chỉ khi nào sáu vấn đề này được giải quyết thì chúng ta mới có thể thay đổi vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

1. Định vị Việt Nam trong tiến trình phát triển của thế giới

Nhiệm vụ đầu tiên và cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất của nhân tài chính trị là trả lời câu hỏi Việt Nam đang ở đâu trong tiến trình phát triển của thế giới. Dường như, câu hỏi này chưa bao giờ được đặt ra một cách nghiêm túc, hay nói cách khác, chúng ta chưa bao giờ có nhu cầu nhận thức một cách chính xác về đất nước, tổ quốc và cộng đồng của mình trên tất cả các khía cạnh. Trong khi Nhật Bản tự nhận mình là một quốc gia nghèo, khan hiếm tài nguyên và người Nhật Bản cần phải có những phẩm chất nhất định để tạo ra sức mạnh dân tộc thì Việt Nam luôn tự ca ngợi mình như một quốc gia giàu đẹp, rừng vàng biền bạc với những con người Việt Nam anh dũng, thông minh... Phải chăng chúng ta có quá nhiều ưu điểm trong trí tưởng tượng của mình và chính điều đó đã khiên cả một dân tộc nhận thức sai về tầm vóc cũng như địa vị thực sự của mình?

Để nhận thức rõ về Việt Nam, trước hết là phải nhận thức về con người Việt Nam. Người Việt Nam có ưu điểm và nhược điểm gì? Người Việt Nam có những năng lực và khiếm khuyết như thế nào? Người Việt Nam được đánh giá ra sao trong quá trình hội nhập hay để hội nhập thành công, chúng ta còn thiếu những phẩm chất nào? Hết thảy những vấn đề này cần được nghiên cứu một cách cụ thể nhằm trả lời câu hỏi con người Việt Nam đang ở đâu trong tiến trình phát triển của thế giới. Có thể nói, Việt Nam đời sống hiện đại. Gần đây, khi xây dựng chiến lược phát triển thành cường quốc, Trung Quốc đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác tài nguyên biển. Biển trong nhãn quan người Trung Quốc không chỉ là một thứ tài nguyên kinh tế mà còn là một thứ tài nguyên chính trị và tài nguyên quân sự. Khi nhận thức về tài nguyên Việt Nam, chúng ta cũng nên có một cách tiếp cận như vậy để có thể khai thác một cách hiệu quả những ưu thế của mình.

Thứ ba là phải nhận thức về những điều kiện địa chính trị, địa kinh tế, địa quân sự của Việt Nam. Xét về mặt vị trí địa lý, Việt Nam là một quốc gia mặt tiền. Tuy nhiên, trong khi nền kinh tế hàng hải, nền kinh tế viễn dương đã hình thành từ rất lâu, đã tạo ra đế quốc Tây Ban Nha, đế quốc Anh, đế quốc Pháp, đã tạo ra người Hà Lan và một hệ thống thuộc địa mà phải mất đến hàng trăm năm chúng ta mới tạo ra các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thì Việt Nam vẫn chưa tham gia vào nền kinh tế hàng hải, vẫn chưa có hải quân, vẫn chưa có chiếc thuyền. Việt Nam là một dân tộc mở cửa gần như muộn nhất ở khu vực Đông Nam Á và không có năng lực viễn chinh. Chính điều đó đã khiến Việt Nam, trong một khoảng thời gian rất dài, trở thành một bộ phận biệt lập trong các tiến trình quốc tế.

Khi bàn về các yếu tố địa kinh tế, địa chính trị và địa quân sự của Việt Nam, chúng ta buộc phải phân tích Trung Quốc như một trong những biến số quan trọng nhất. Hãy thử quan sát các quốc gia khác bên cạnh Trung Quốc. Nước Nga nằm phía trên Trung Quốc phát triển hơn Trung Quốc và có cả sức mạnh lẫn tham vọng của một cường quốc. Nước Mông Cổ, xét về mặt dân số, chỉ là một nước nhỏ nhưng đã từng làm rung chuyển cả thế giới. Đội quân gần như bất khả chiến bại của Thành Cát Tư Hãn đã trở thành ác mộng đối với cả châu âu bởi vó ngựa của quân Mông Cổ đi đến đâu thì thêm một thành trì bị hạ tới đó. Đến thời Hết Tất Liệt, ông ta không nuôi ý chí chinh phục thế giới như các Đại Hãn tiền nhiệm, mà dốc hết khả năng để chinh phục toàn cõi Trung Quốc trong một chiến dịch dài ngót mười năm. Năm 1263, ông rời kinh đô về Bắc Kinh. Trong trận hải chiến cuối cùng vào năm 1279 tại vịnh Quảng Đông, Hết Tất Liệt đã đánh bại nhà Nam Tống. Từ đó, Hết Tất Liệt cai trị toàn cõi Trung Quốc, xưng là hoàng đế, lập ra nhà Nguyên (1280-1367). Hải quân Nhật Bản cũng từng đánh bại Trong Quốc những năm 1894 - 1895 và làm thế giới sửng sất với việc chiến thắng Nga trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật 1904 - 1905. Nhật Bản cũng từng khiến thế giới phải ngưỡng mộ trước cái gọi là sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Đến nay, quốc gia này vẫn tương đối thành công trong việc duy trì và khẳng định địa vị của mình trên trường quốc tế. Hàn Quốc cũng xác lập cho mình một vị thế bình đẳng so với Trung Quốc. Nam Hàn, đến nay, phát triển hơn Trung Quốc cả về kinh tế lẫn chính trị còn Bắc Hàn, mặc dù là một nước bé (xét về mặt dân số) nhưng đủ ý chí để biến mình trở thành kẻ đối thoại bình đẳng với Hoa Kỳ, thậm chí dám thách đố Hoa Kỳ trong lĩnh vực quân sự. Hồng Kông hay Đài Loan cũng không phải là những kẻ thất bại trong việc xử lý vấn đề Trung Quốc. Cả Hồng Kông và Đài Loan đều phát triển và tương đối độc lập với Trung Quốc, đặc biệt là Đài Loan vẫn không ngừng nuôi tham vọng trở thành một nước Đài Loan độc lập. ân Độ luôn luôn là một đối thủ đáng gờm của Trung Quốc và không ít người tin rằng trong tương lai, ấn Độ sẽ trở thành một cường quốc châu á. Rõ ràng, việc ở gần Trung Quốc không kìm hãm sự phát triển của chuỗi các quốc gia ấy.

Có thể nói, Việt Nam gần như là nước kém thành công nhất trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến Trung Quốc. Tại sao lại như vậy? Có nhiều lý do, trong đó, đầu tiên và quan trọng nhất là bởi chúng ta không độc lập với Trung Quốc về mặt văn hóa nói chung và về mặt tư tưởng nói riêng. Khi viết về Ngô Thì Nhậm, chính em ruột của ông đã viết rằng " Anh ta lúc xuất thế thì dùng đạo Nho, lúc nhập thế thì dùng đạo Thiền" - đó là một sự thừa nhận về việc Việt Nam không có hệ tư tưởng của riêng mình. Hệ tư tưởng của Việt Nam, xét về mặt bản chất, là một sự vay mượn chủ yếu các tư tưởng Trung Quốc, trong đó nổi bật là Nho giáo. Trong một khoảng thời gian rất dài, người ta đã quan niệm rằng, tinh hoa trong hệ tư tưởng Trung Quốc chính là Luân lý Nho gia - cái mà một số quốc gia châu á, trong đó có Việt Nam vin vào để tự hào về những giá trị châu Á của mình. Tâm lý này đã khiến Việt Nam không thể ra khỏi quá khứ và lệ thuộc vào Trung Quốc. Dường như các nhà chính trị Việt Nam không nhận thức được rằng nếu tiếp tục tự hào về những giá trị châu Á theo cái cách như vậy thì vĩnh viễn chúng ta sẽ không thể độc lập với Trung Quốc về mặt tư tưởng. Hãy thử nghiên cứu cách thức mà một số quốc gia khác lựa chọn để thoát ra khỏi những ảnh hưởng của Luân lý Nho gia. Rõ ràng, Nhật Bản và Hàn Quốc đều chịu ảnh hưởng của Khổng giáo nhưng họ vẫn có một nền văn hóa tương đối khác biệt với Trung Quốc bằng cách thừa nhận những giá trị tiến bộ của văn hóa phương Tây, trong đó nổi bật là các giá trị tự do dân chủ. Ngay cả người cộng sản Bắc Hàn họ cũng có lý thuyết riêng của họ - đó là lý thuyết chủ thể và hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc. Không thể phủ nhận rằng, chính sự độc lập về mặt văn hóa của hai quốc gia này đã tạo ra cho họ một vị thế khác trong mối tương quan với Trung Quốc. Do đó, Việt Nam cần phải tạo ra các giá trị của mình bằng cách dũng cảm vứt bỏ những giá trị văn hóa lạc hậu chứ không phải đoạn tuyệt với những giá tư châu á hay văn hóa phương Đông bởi chúng là sản phẩm của lịch sử và không ai có thể đi tới tương lai mà không có hành trang là quá khứ. Quan trọng hơn, Việt Nam cần phải xây dựng một nền văn hóa mở" - nền văn hóa có khả năng thải hồi những yếu tố lạc hậu và tiếp nhận những yếu tố tiến bộ.

Những phân tích trên đưa đến kết luận, xác định vị trí của Việt Nam trong tiến trình phát triển của thế giới là nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà chính trị Việt Nam. Họ buộc phải thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy để biến Việt Nam trở thành một bộ phận trong các tiến trình quốc tế. Chỉ có như thế thì chúng ta mới có thể phát triển một cách thực thụ.

2. Xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam

Bàn về việc xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam, cần phải phân tích sự ảnh hưởng lẫn nhau của chính trị, kinh tế và văn hóa. Tài sản cơ bản của người Việt Nam là ruộng hay làng xã kinh tế, do đó, là kinh tế làng xã và hình thành nền chính trị làng xã cũng như văn hóa làng xã. Bên cạnh đó, xét về mặt địa lý, Việt Nam nằm trong khu vực lạc hậu. So với Trung Quốc, Việt Nam giáp với các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam, tức là vùng lạc hậu nhất của Trung Quốc. Xét trong khu vực, trước những năm 60, khu vực Đông Nam á cũng rất lạc hậu. Tuy nhiên, cùng với sự xuất hiện của người Pháp vào cuối thế kỷ XIX, nhờ thứ "công cụ không tự giác của lịch sử" như Marx nói mà Việt Nam đã dược tiếp cận với các tư tưởng, tự do, dân chủ của llthế kỷ ánh sáng" và điều này phần nào đã cải thiện tình trạng lạc hậu trên nhiều phương diện, đặc biệt, là lạc hậu về nhận thức và tư tưởng của chúng ta. Như vậy, không thể phủ nhận rằng chính sự tồn tại dai dẳng và sâu sắc của yếu tố làng xã cùng với những đặc điểm địa lý cũng như lịch sử đó đã hạn chế không gian phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa của chúng ta. Trong giai đoạn hiện nay, về vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế Việt Nam, chúng ta không có định nghĩa" chuyển đổi" rõ ràng và cũng không hoạch định lộ trình chuyển đổi một cách chủ động và hợp lý, không nhận ra rằng chính điều đó có thể khiến cho chúng ta rơi vào trạng thái chuyển từ sự phiêu lưu này đến một sự phiêu lưu khác.

Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam là xây dựng một cách trọn vẹn tư tưởng phát triển các nguồn lực, các trạng thái tự nhiên cũng như các quan hệ quốc tế của Việt Nam. Việc xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam cần phải dựa trên sự phân tích rất rõ các đặc điểm về tài nguyên, dân cư, xã hội, văn hóa cũng như các đặc điểm địa kinh tế, địa chính tả và phải theo xu hướng hội nhập. Cần phải nhận thức rằng, toàn cầu hóa là cơ hội của các nước lạc hậu và vì thế, các nhà chính trị của các quốc gia lạc hậu phải xem nó như một sự động viên có chất lượng quốc tế về cải cách. Do đó, cải cách cơ cấu kinh tế theo khuynh hướng hội nhập là một trong những điểm quan trọng của việc xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam. Cần phải nhắc lại rằng, bất kỳ dân tộc nào cũng phải phát triển (nói chung) và xây dựng hệ tư tưởng kinh tế (nói riêng) dựa trên những đòi hỏi nội tại về sự phát triển chứ không phải do sức ép, bởi sự phát triển do sức ép chính là tiền đề của sự phát triển bằng mọi giá. Với cách tiếp cận như vậy chúng tôi cho rằng vấn đề đặt ra không phải là tình huống buộc phải cải cách, mà cải cách như một nhu cầu tự thân của nó, như một chương trình mà con người hoạch định về tương lai của mình. Do đó, xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam tức là xây dựng một hệ thống các mục tiêu mà ở đó con người tự giác hướng về tương lai của mình. Cần phải xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam trong điều kiện hiện tại của đời sống quốc tế chứ không phải bằng cách quay trở lại quá khứ bởi như trong phần trước đã phân tích, lời giải của bài toán chính trị truyền thống luôn chứa đựng chất lượng của thời đại, cụ thể là thời đại toàn cầu hóa. Thời đại hội nhập là thời đại nện cho việc xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và nó chính là xây dựng các giải pháp phát triển theo khuynh hướng hội nhập. Hiện Việt Nam đã gia nhập ASEAN, cố gắng gia nhập WTO, tham gia các Hiệp định song phương và đa phương. Mặc dù những bước đi này có thể không phải là những thành tố quan trọng nhất trận chương trình xây dựng hệ tư tưởng kinh tế Việt Nam, nhưng chúng là những giải pháp có giá trị làm nền cho việc xây dựng hệ tư tướng kinh tế Việt Nam.

Hiện giờ, chúng ta đang có cơ hội để xây dựng các tư tưởng kinh tế, hay nói cách khác là xây dựng tư tưởng phát triển thời bình. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể làm việc đó một cách trọn vẹn hay không nếu vẫn tự trói mình trong những nỗi lo ngại không chính đáng? Và liệu chúng ta có thể tạo ra chất lượng anh hùng của mình trong cuộc sống thật hay không nếu vẫn chìm đắm trong ánh hào quang của quá khứ? Đó chính là những câu hỏi lớn mà một thiên tài chính trị phải trả lời trước khi bắt tay vào sứ mệnh của mình.

3. Xây dựng hệ tư tưởng quân sự Việt Nam

Theo ước tính, trung bình khoảng 200 năm, Việt Nam lại có một cuộc chiến tranh. Thời gian hòa bình, do đó, dài hơn thời gian chiến tranh. Tuy nhiên, người Việt Nam luôn tự hào về chiến thắng của mình và vì thế, biến chiến tranh trở thành nội dung quan trọng nhất trong lịch sử.

Lịch sử Việt Nam chỉ ra rằng các chính quyền mới đều được thiết lập sau một cuộc chiến tranh. Lực lượng chủ yếu tham gia một cách kiên nhẫn vào phần lớn các cuộc chiến tranh là nông dân. Chiến thắng, do đó, thuộc về những người nông dân chứ không thuộc về những dối tượng khác, chẳng hạn giới trí thức. Chiến thắng của người nông dân Việt Nam, chính vì thế, là thắng hai đối tượng cùng lúc - đó là giặc ngoại xâm và giới trí thức Việt Nam. Chính vai.trò mờ nhạt của giới trí thức Việt Nam trong phần lớn các cuộc chiến tranh đã duy trì trạng thái chậm tiến bộ của các triều đại. Đó là một thực tế mà chúng ta buộc phải thừa nhận.

Tuy nhiên, nông dân Việt Nam không phải là người khởi xướng các cuộc chiến tranh. Có thể thấy phần lớn các cuộc chiến tranh của Việt Nam được khởi xướng bởi tầng lớp thống trị trong xã hội cũ, nhân dân là người được huy động và nông dân là đối tượng tham chiến. Điều đó nói lên rằng, Việt Nam không có quân đội chuyên nghiệp. Các triều đại phong kiến Việt Nam không đủ khả năng tài chính để xây dựng lực lượng quân đội chuyên nghiệp nên phải gửi đội quân của mình vào nhân dân; khi có chiến tranh, nhà nước sẽ huy động. Điều đó dẫn đến sự hình thành khái niệm chiến tranh nhân dân và đến nay, các tư tưởng chiến tranh nhân dân vẫn chi phối các trạng thái hiện tại của việc xây dựng lực lượng vũ trang Việt Nam. Trong trường hợp của Việt Nam, nhân dân được huy động như một đại lượng vô hạn và chính điều đó đã vô tình làm mất đi bản chất nhân văn của khoa học quân sự. Hệ tư tưởng quân sự mới của Việt Nam, do đó, cần phải được xây dựng trên tinh thần kéo dài những khoảng thời gian hòa bình của nhân dân và để nhân dân không trở thành khái niệm và nội dung chủ yếu trong các cuộc chiến tranh. Những cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc có thể sẽ không bao giờ xảy ra ở Việt Nam nữa, nhưng những cuộc chiến tranh khác có thể sẽ xảy ra. Chính bởi vậy, chúng ta cần phải xây dựng tư tưởng quân sự của mình để hoàn thiện hai nội dung căn bản: thứ nhất là xây dựng lực lượng quân đội chuyên nghiệp để có thể tham gia vào các cuộc chiến tranh như một động thái chính trị mềm dẻo và cần thiết và thứ hai là xây dựng đời sống dân sự nằm bên ngoài mọi sự lôi kéo của các cuộc chiến tranh. Đây là nhiệm vụ chính trị không kém phần quan trọng so với việc xây dựng các tư tưởng kinh tế, bởi nếu không làm được như vậy, dân tộc Việt Nam sẽ không có sự phát triển ổn định, chúng ta sẽ tiếp tục bị lôi kéo vào những cuộc chiến tranh và như thế, dân tộc Việt Nam sẽ không có tương lai.

4. Xây dựng chương trình phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa bên cạnh Trung Quốc

Nhiệm vụ tiếp theo của thiên tài chính trị là giải quyết vấn đề sống, phát triển và hình thành các ưu thế bên cạnh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Đây là một trong những vấn đề chính tả truyền thống đối với Việt Nam. Thực ra, các nhà chính trị Việt Nam luôn khó khăn trong việc giải bài toán chính trị với Trung Quốc. Trung Quốc luôn nuôi trong mình tham vọng trở thành cường quốc và các nhà chính trị Trung Quốc cả trong quá khứ lẫn hiện tại không ngừng hoạch định các bước đi chiến lược để biến tham vọng đó trở thành hiện thực. Chính vì lý do đó, mà Trung Quốc ngày càng trở thành một biến số quan trọng trong bài toán chính trị của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam trên tư cách một nước láng giềng của Trung Quốc với đầy đủ những ấn tượng về sự bị bành trướng cả về kinh tế lẫn văn hóa bởi Trung Quốc.

Xét về mặt văn hóa, các nước Đông Á nói chung và cụ thể là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam là bốn quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của Không giáo. Cả bốn quốc gia này đều trải qua một khoảng thời gian rất dài xây dựng xã hội, điều hành và xử lý các vấn đề khác nhau, lãnh đạo từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở dựa trên các nguyên tắc của Không giáo. Tuy nhiên, trong số bốn quốc gia này, Việt Nam là nước khó khăn nhất trong việc thoát ra khỏi những ảnh hưởng của Không giáo. Điều này thể hiện rất rõ ở tình trạng lạc hậu về tư tưởng và lạc hậu về chính trị ở Việt Nam. Nhiều học giả cố gắng giải thích những thất bại của Việt Nam trong việc xử lý vấn đề Trung Quốc theo những cách khác nhau, cố tình không thừa nhận sự thật là Việt Nam rất lúng túng khi xử lý các vấn đề với Trung Quốc trong khi sự hào hùng là một trong những yếu tố thẩm mỹ rất quan trọng có tác dụng kích thích cảm hứng phát triển. Tại sao lại như vậy? Phải chăng là bởi một ngàn năm Bắc thuộc? Phải chăng, ngay cả sau khi có các triều đại phong kiến độc lập cha ông ta vẫn phải sang tận Trung Quốc để xin được công nhận là An Nam Quốc vương, là một phiên thần của Trung Quốc? Trong quan điểm của chúng tôi, lý do quan trọng nhất là bởi Việt Nam không có một tầng lớp thượng lưu và đội ngũ trí thức thực thụ - những người đủ năng lực để đối thoại chính trị một cách bình đẳng và đủ khí phách để xử lý các vấn đề Trung Quốc.

Chúng tôi cho rằng, chiến lược tồn tại và phát triển bên cạnh Trung Quốc của Việt Nam cần phải được xây dựng trên tinh thần làm cho Việt Nam khác với Trung Quốc chứ không phải làm thêm nào để Việt Nam có thể cạnh tranh với Trung Quốc. Một trong những lý do khiến chúng ta không thành công khi xử lý các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, là chúng ta đã không nhận ra và khai thác những ưu thế của Việt Nam - trên tư cách một nước nhỏ và linh hoạt - so với Trung Quốc - một đất nước cồng kềnh, phức tạp và rất khó thay đổi. Chúng ta từng cố gắng học Trung Quốc về mặt chính trị và đó cũng chính là sai lầm của Việt Nam khi xử lý các vấn đề Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản và Hàn Quốc đã chủ động trong việc thay đổi các tiêu chí chính trị nhằm phát huy tối đa sức mạnh của dân tộc bé hơn để trở nên cơ động hơn, sắc sảo hơn, linh hoạt hơn và rõ ràng, họ đã thành công. Vậy thì làm thế nào để Việt Nam khác với Trung Quốc? Như trong phần trước đã phân tích, một trong những lý do khiến Việt Nam không thể thoát ra khỏi cái bóng của Trung Quốc là sự xâm nhập và bành trướng về mặt tư tưởng, cụ thể là ảnh hưởng của Khổng giáo. Do vậy, để đem lại cho hệ tư tưởng Việt Nam một bản sắc mới, chúng ta buộc phải thừa nhận các tinh hoa giá trị phương Tây với linh hồn là tự do, dân chủ. Hệ giá trị phương Tây sẽ trở thành đối trọng của hệ tư tưởng Trung Quốc và Việt Nam sẽ tự tìm ra mình, tự xác lập hình ảnh của mình giữa hai hệ giá từ đó. Điều này sẽ được phân tích kỹ hơn trong phần cuối của bài viết.

Như vậy để có thể xử lý tết các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, cần phải nghiên cứu và tập hợp những lý luận và kinh nghiệm sống bên cạnh Trung Quốc trong mối tương quan với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể của Trung Quốc.

Dựa trên cơ sở đó, chúng ta sẽ xây dựng các bài toán mẫu với những lời giải mẫu cho một số tình huống. Quan trọng nhất là luôn phải xem Trung Quốc như một biến số trong mọi toan tính kinh tế cũng như chính trị và từ đó, có các đối sách chủ động trong mối quan hệ với Trung Quốc. Hết thảy những việc này cần phải được tiến hành với một nhận thức mới - thay vì coi Trung Quốc là một nước lớn, hãy coi Trung Quốc tà một thị trường lớn, chúng ta sẽ tiếp cận và xâm nhập Trung Quốc như những nhà buôn thực thụ với một đầu óc kinh doanh tỉnh táo, với những nhận thức chính trị thực dụng và với những bản sắc văn hóa khác biệt.

5. Xây dựng tầng lớp thượng lưu và đội ngũ tri thức Việt Nam

Khi lý giải tình trạng lạc hậu trên nhiều phương diện của Việt Nam, các học giả mới chỉ tập trung vào những lý do kinh tế hay lý do chính tả. Chúng tôi cho rằng, sự thiếu vắng một tầng lớp thượng lộ chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc chúng ta chậm phát triển. Sự thiếu vắng này, dường như, bắt nguồn từ cấu trúc quyền lực trong xã hội Việt Nam. Chúng ta không có niềm tự hào của tầng lớp thượng lưu hay nói cách khác, xã hội Việt Nam, dân tộc Việt Nam không có tầng lớp thượng lưu nên không có các cá nhân đối thoại bình đẳng, và do đó, không có sự đối thoại chính trị bình đẳng.

Nhằm chứng minh luận điểm này, chúng tôi cho rằng cần phải làm rõ hơn khái niệm tầng lớp thượng lưu. Tầng lớp thượng lưu, trước hết, khác với tầng lớp quan lại. Quan lại, hay nói cách khác, chức tước là do được phong còn thượng lưu phải là người có những tố chất cao quý thiên bẩm kết hợp với những tố chất hình thành trong quá trình tương tác với xã hội. Do đó, nếu tầng lớp thượng lưu thực sự tồn tại thì nó sẽ tồn tại với mọi thời đại và không phải lúc nào cũng đồng nhất với tầng lớp cầm quyền. Tìm hiểu lịch sử những dân tộc khác, chúng ta sẽ thấy nước Pháp mặc dù trải qua cuộc cách mạng hơn 200 năm nhưng tầng lớp thượng lưu Pháp theo đúng nghĩa cổ xưa vẫn tồn tại. Hiện nay, những người cộng sản Trung Quốc cũng đã bắt đầu xây dựng tầng lớp thượng lưu của mình. Trong khi đó, xã hội Việt Nam chưa bao giờ có tầng lớp thượng lưu bởi chúng ta không có cả cơ sở vật chất lẫn cơ sở sinh hoạt tinh thần cho tầng lớp thượng lưu.

Bàn về Trung Quốc, không phải vô cớ mà Giang Trạch Dân đưa ra lý thuyết Ba đại diện. Về bản chất, lý thuyết Ba đại diện chính là công cụ để giải quyết bài toán chính trị của Trung Quốc. Nó nhằm trả lời câu hỏi ai là người có đầy đủ những phẩm chất cần thiết để đại diện cho dân tộc Trung Quốc trong các đối thoại chính trị. Tuy nhiên, lý thuyết Ba đại diện cũng chỉ là một công cụ lý thuyết, nó không đủ và không thể thay thế việc xây dựng tầng lớp thượng lưu. Tầng lớp thượng lưu, theo đúng nghĩa, phải là những người có khả năng đồng nhất địa vị thượng lưu của mình với địa vị đại diện quyền lực của mình. Nói cách khác, tầng lớp thượng lưu chính là sự thống nhất giữa những giá trị cao quý mà nhân dân linh cảm thấy với quyền lực mà nhân dân tìm thấy. Đó cũng chính là chất lượng đại diện của tầng lớp thượng lưu. Linh cảm dẫn đến chất lượng đại diện chỉ có thể tồn tại dựa trên nền tảng của chế độ dân chủ phát triển - tại đó sứ mệnh chính trị được trao vào tay ai hoàn toàn dựa trên cơ sở sự linh cảm của nhân dân về chất lượng đại diện của một số tầng lớp nhất định.

Từ các phân tích trên có thể rút ra kết luận, nhiệm vụ của cải cách văn hóa Việt Nam là chỉ ra cho mọi người thấy các giá trị cơ bản tạo ra các tiêu chuẩn của tầng lớp thượng lưu trong xã hội Việt Nam. Nhiệm vụ của giới học giả nước nhà là chứng minh các giá trị có thể làm nền tảng để xây dựng tầng lớp thượng lưu Việt Nam. Song song với việc xây dựng tầng lớp thượng lưu, cần phải xây dựng đội ngũ trí thức. (Trong trường hợp tầng lớp thượng lưu đồng nhất với đội ngũ trí thức thì có thể nói xã hội đã đạt đến trạng thái phát triển lý tưởng). Cần nhấn mạnh rằng, tầng lớp trí thức phải được xây dựng dựa trên những dự báo chính xác về loại lao động đáp ứng tết nhất các đòi hỏi phát triển của một dân tộc. Nếu không căn cứ vào những dự báo như vậy, chúng ta sẽ lại có một tầng lớp trí thức đóng vai trò mờ nhạt, thụ động trong mọi vấn đề. Xây dựng tầng lớp thượng lưu và đội ngũ trí thức của Việt Nam, do đó, trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà chính trị Việt Nam, bởi đội ngũ trí thức chính là những người đại diện cho trí tuệ của cả dân tộc còn tầng lớp thượng lộ vừa phản ánh chất lượng của những dự báo chính trị, vừa truyền tải những thông điệp chính tả quan trọng nhất. Tuy nhiên, làm thế nào để những thông điệp này trở thành những "dòng chủ lưu" trong xã hội? Rõ ràng, nhiệm vụ đó thuộc về tầng lớp trung lưu - những người đóng vai trò khuếch đại các thông điệp chính trị quan trọng và lành mạnh.

Xác lập cơ cấu xã hội hợp lý đảm bảo cho sự hình thành và phát triển của tầng lớp thượng lưu và đội ngũ trí thức Việt Nam, đó cũng chính là nhiệm vụ của nhân tài chính trị.

6. Thừa nhận các giá trị phương Tây với đặc trưng là tự do, dân chủ

Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia châu Á, chẳng hạn Nhật Bản hay Hàn Quốc, chỉ ra rằng, sự xâm nhập của các giá trị phương Tây chính là một trong những chất xúc tác đối với tiến trình phát triển của những quốc gia này. Khi bàn về vấn đề hệ tư tưởng, nhiều học giả có khuynh hướng phân biệt hệ tư tưởng phương Đông, hệ tư tưởng phương Tây, thậm chí cố gắng chứng minh hệ tư tưởng phương Đông như một hình ảnh đối lập của hệ tư tưởng phương Tây. Thiết nghĩ, trong thời đại toàn cầu hóa, sự phân biệt thái quá này hoàn toàn không cần thiết nữa, và nếu chúng ta tiếp tục xử lý các vấn đề chính trị với cách nghĩ như thế thì phương Đông sẽ không bao giờ phát triển một cách thực sự và lành mạnh.

Tại sao Việt Nam cần phải thừa nhận các giá trị phương Tây? Thứ nhất là bởi các giá trị phương Tây, tiêu biểu là tự do, dân chủ đã được chứng minh là các giá trị tiên tiến. Chúng ta không nên coi những giá trị này là sản phẩm của phương Tây mà hãy xem đó như những sáng tạo của loài người. Phương Tây chỉ là kẻ đi trước, tận hưởng trước và trả giá trước. Thứ hai là bởi như trong phần trước của bài viết đã phân tích, chúng ta cần phải làm cho mình khác với Trung Quốc. Nếu "đóng cửa" về mặt tư tưởng và cố tình không thừa nhận tính tiên tiến của các giá trị phương Tây thì Việt Nam sẽ không bao giờ thoát ra khỏi ảnh hưởng của hệ tư tưởng Trung Quốc, cụ thể là Khổng giáo. Do đó, Việt Nam cần phải thừa nhận các giá trị phương Tây để chấm dứt tình trạng bị '"Trung Quốc hóa" ít nhất về mặt tư tưởng. Sẽ là rất thiển cận nếu ai đó cho rằng việc thừa nhận các giá trị phương Tây sẽ khiến Việt Nam biến thành phương Tây bởi rõ ràng Nhật Bản hay Hàn Quốc đã thừa nhận các giá trị phương Tây nhưng họ vẫn là chính họ.

Không thể phủ nhận rằng hệ giá trị phương Tây với hạt nhân là tự do đã gieo trồng những mầm phát triển ở bất cứ nơi đâu mà nó có mặt. Bởi tự do là có hứng phát triển; tự do luôn dẫn đến sự sáng suốt trên tất cả các khía cạnh, đặc biệt là nhận thức và khi đã sáng suốt về mặt nhận thức thì các giải pháp sẽ rất đúng đắn. Một trong những nguyên nhân khiến mọi thời đại chính trị của Việt Nam không thành công khi giải quyết vấn đề chính trị với Trung Quốc là chúng ta không độc lập về mặt nhận thức. Chúng ta không chấp nhận các giá trị phương Tây và lấy Trung Quốc làm mẫu nên chúng ta không thể tách khỏi Trung Quốc. Do đó, thừa nhận các giá trị phương Tây chính là nâng cao năng lực đề kháng của Việt Nam khi sống bên cạnh Trung Quốc vĩ đại.

Không ít người đặt câu hỏi tại sao chủ nghĩa Marx lại có ma lực đối với những nước cộng sản. Trong tác phẩm Giang Failure, Brezensky đã cho rằng sở dĩ Chủ nghĩa Marx hấp dẫn đối với các nước cộng sản là bởi nó hứa hẹn một tương lai không có bóc lột và điều này thỏa mãn khát vọng của tầng lớp lao động. Tuy nhiên, hơn cả thế, chủ nghĩa Marx còn thỏa mãn tuyệt đối sự kiêu ngạo của tầng lớp trí thức - những kẻ luôn khao khát cải tạo thế giới. Trung Quốc là một trong số rất ít những nước cộng sản còn lại nhận ra tính không thực dụng của chủ nghĩa Marx và vì lý do đó, họ đã sắp xếp hệ tư tưởng theo chiều dọc. Từ Không giáo đến chủ nghĩa Marx, đến tư tưởng Mao Trạch Đông, học thuyết của Đặng Tiểu Bình và lý thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân. Đối với Không giáo hay chủ nghĩa Marx, Trung Quốc ứng xử theo lối kính nhi viễn chi. Họ có những người thực dụng như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình để đưa Trung Quốc ra khỏi quá khứ. Nhận ra sự tới hạn trong học thuyết của Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đã sáng tạo ra lý thuyết Ba đại diện nhằm thay đổi chất lượng đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc - tức thay vì đại diện cho những lực lượng cụ thể, Đảng Cộng sản Trung Quốc đại diện cho những giá trị tiên tiến cụ thể. Nhưng rõ ràng, sự phát triển tốt của một Đảng chính trị không thể thay thế sự phát triển tốt về mặt chính trị của cả một dân tộc; nói cách khác, một dân tộc chỉ có thể phát triển tết về mặt chính trị khi thừa nhận sự đa dạng tinh thần như là tiền đề của nền dân chủ. Vì những lý do đó, Trung Quốc không thể nào trì hoãn quá trình tiệm cận nền dân chủ, và cần phải cảnh báo rằng khi nào Trung Quốc đạt tới trạng thái dân chủ về mặt chính trị, mọi sức mạnh trong cơ thể người khổng lồ ấy sẽ được giải phóng và liệu còn chăng cái gọi là cơ hội cải cách hay cơ hội phát triển cho Việt Nam? Một thiên tài chính trị cần phải dũng cảm đối mặt với câu hỏi đó.

Kết luận

Lịch sử Việt Nam thế kỷ trước được ghi dấu bởi Hồ Chí Minh - người đã giải quyết thành công vấn đề chính trị căn bản nhất - đó là độc lập dân tộc. Hy vọng rằng, trong thế kỷ XXI, chúng ta sẽ tìm thấy những tố chất Hồ Chí Minh trong các nhà chính trị Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, trước khi đi tìm những tố chất đó, chúng ta phải tự do và quan trọng nhất là phải tự do với chính mình và về lịch sử của mình.

ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,