Để có được một đàn bò sữa

Phong DoanhTự trào (2008)
10:21' CH - Thứ sáu, 17/06/2016

ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT ĐÀN BÒ SỮA

Mấy năm trước, nhờ có sức ép của tập san Toán - Cơ mà phong trào làm thơ trở nên rầm rộ, với quy mô hầu như không bỏ sót một ai, dù người đó trước đây còn chưa đọc một bài thơ nào bao giờ. Sự cần mẫn sáng tác của một số đông, trong một tâm trạng nhìn chung là dồn nén, cùng với sự chập chững ban đầu trên diễn đàn thi ca vốn lạ hoắc, đã tạo ra nhiều sắc thái đến nỗi đọc xong mỗi tập san ta như lạc vào một vùng đầm lầy mà ở đó nhiều loại cây lúp súp mọc không hàng không lối, với đủ các kiểu hoa dài dại, màu sắc nhoẹt nhòe khiến dòng thơ chảy lung tung, bế tắc.

Ngày ấy, tự thấy mình phải có trách nhiệm đóng góp sức lực để cải tạo nền thơ cả "đầm lầy" của đơn vị, tôi đã viết bài "Tiến tới hoàn chỉnh một nền thơ ca bất đắc dĩ". Trong bài viết đó tôi cố gắng đề xuất ý kiến rằng, trên tinh thần cầu thị chung, tài năng riêng, mỗi người tự đăng ký cho mình một chỗ đứng cố định trên diễn đàn bằng cách quyết định một lần và dứt khoát xem mình nên bơi ở đâu trong ba dòng thơ thế mạnh của Khoa. Đó là dòng tuyên truyền cổ động, dòng trữ tình và dòng bác học. Chỉ có thế cái "đầm" của chúng ta mới mau có được dòng chảy trong và mát.

Từ đó đến nay nhiều thế hệ nhà thơ có tên tuổi thuộc các dòng thơ khác nhau đã tốt nghiệp về nước, số bạn trẻ mới bổ sung thì còn thiếu kinh nghiệm sáng tác, trong khi sự hối thúc của Tập san thì không hề suy giảm. Thực tế sáng tác ở đây và ở nhiều nơi có hoàn cảnh tương tự cho thấy, "đóng góp" bắt buộc cho Tập san ở dưới dạng một bài thơ là có chi phí thấp nhất. Điều này có lý của nó. Chẳng có ở đâu và chẳng có ai quy định số lượng dòng tối thiểu cho một bài thơ. Càng ít dòng thì độ đậm đặc của ý tưởng trong từng từ, từng chữ lại càng cao, vì đó là hai đại lượng tỷ lệ nghịch. Vì vậy, tôi khuyên bạn nên trở thành thi sỹ, dù là thi sỹ bất đắc dĩ.

Nhưng có một thực tế khác dễ nhận biết, và cần phải biết. Đó là, số ý tưởng để có thể viết nên một bài thơ ở mỗi một người là một số hữu hạn, tuy về trị số thì có khác giữa người này với người kia. Ví dụ, nếu bạn là sinh viên khoa Toán - Cơ, là một đoàn viên gương mẫu, bạn có thể chỉ cần sản sinh ra 5 x 12 -2 = 58 ý tưởng thơ, dù cho 58 số của Tập san, bằng với số tháng bạn lưu lại ở Khoa. Bạn được trừ hai bài vì thông thường bạn về nước vào tháng 7 sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Trong khi đó, một nhà thơ chuyên nghiệp cần phải tìm tòi, thainghén cỡ ít thì cũng khoảng vài nghìn tứ thơ. Nhưng, dân số trên trái đất này ngày càng đông. Số lượng người, vì những hoàn cảnh khác nhau, có nhu cầu làm thơ cũng tăng gần như tỷ lệ thuận với mức tăng dân số. Ấy là chưa nói một lượng lớn các ý tưởng đã bị các nhà thơ quá cố của quá khứ đã xài mất rồi. Vì vậy, rất dễ xảy ra trường hợp hai hoặc hơn hai cá thể khác nhau, trong những thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau nhưng lại hội tụ đến cùng một ý tưởng. Sẽ rối tung lên, sẽ mất đoàn kết, nếu họ đều hiện thực hóa ý tưởng "chung" đó thành thơ, tuy có thể khác nhau ở cách thể hiện và độ chín. Vì vậy, để khuyến khích sự sáng tạo, phần nào cũng là làm tăng thể tích thơ cho nhân loại, Hội các nhà thơ thế giới, sau nhiều năm bàn cãi, tranh luận đã đi đến sự nhất trí toàn cầu như sau: "Hai bài thơ trên cùng một ngôn ngữ được gọi là khác nhau, nếu tìm được ít nhất một từ có trong bài này mà không có trong bài kia và ngược lại. Trong trường hợp hai ngônngữ khác nhau thì hai bài thơ chỉ khác nhau nếu một trong hai tác giả thừa nhận rằng bài thơ của mình là được dịch từ một bài thơ tiếng nước ngoài có cùng một ý tưởng". Sau đây chúng ta sẽ sử dụng tên gọi quốc tế vắn tắt của quy định trên là WTO, nghĩa là quan điểm toàn cầu về chuyên môn, ở đây là về thơ (World Technical Opinion). Trong các trường hợp ngữ cảnh không được rõ ràng, để tránh nhầm lẫn với Tổ chức thương mại thế giới, một tổ chứcchuyên lovề vật chất của nhân loại, người ta còn viết WTOp để nhấn mạnh đây là quy định về thơ, một Hiệp ước lo về tinh thần cho tất cả mọi người trên trái đất. Chữ p nhỏ viết ở cuối, thấp hơn một chút có nghĩa là Poetry, tức là thi ca.

WTO đối với các nhà thơ chuyên nghiệp dễ hiểu như ta hiểu môn Giải tích vậy. Song, nó đủ phức tạp đối với các nhà thơ nghiệp dư, lại còn bất đắc dĩ như chúng ta, vì vậy, cần có một vài ví dụ minh họa.

Ta lấy trường hợp câu ca dao nổi tiếng sau làm ví dụ để phân tích:

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
(1)

Dưới đây là một số "áng thơ" được gọi là có quan hệ "gốc gác", từ góc độ nào đó, với (1) lần lượt là:

Anh đi anh nhớ quê nhà,
Như canh rau muống nhớ cà dầm tương (2)

Canh rau muốn nhớ quê nhà
Anh đi anh nhớ, anh nhớ cà dầm tương
(3)

Canh cà, rau muống dầm tương
Anh đi nhớ, nhớ quê nhà, nhớ anh
(4)

Anhđi anh nhớ quê nhà
Nhớ
cơm gạo tám, nhớ gà xé phay (5)

Nhớ dầm cà tương, canh rau muống
Nhà quê nhớ anh, anh nhớ đi
(6)

Với quy định trên thì ta thấy, (1), (3), (4), (6) chỉ là một bài thơ, vì dễ dàng nhận thấy rằng, chúng chỉ là câu hoán vị khác nhau của 14 chữ, theo khuôn lục bát hay song thất cũng vậy, mặc dầu ý thơ có vẻ hơi khác nhau. Chẳng hạn, trong (3) anh chưa chắc đã đi xa quê, mà có thể chỉ là sang hàng xóm thôi, nhưng dặn vợ ở nhà, bữa trưa nấu canh rau muống ăn với cà dầm tương. Trong khi đó phương án (4) có thể hiểu là lần này anh đi xa quê thật rồi, anh cứ đi đi, em nhớ anh, còn anh thì phải nhớ em (quê nhà) và đừng quên chỉ dùng canh cà và rau muốn chấm tương. Về thể thơ thì (6) khác hẳn (1), ngoài ra với (6) ta có thể hiểu, người vợ nhắc chồng: ở quê có việc, anh nhớ mà về, trước khi về quê đừng quên dầm cà và luộc rau muống. Như vậy, các "tuyệt tác" (1), (3), (4) và (6) có thể cho ta cácngữ cảnh hay các trạng thái tình cảm khác hẳn nhau, hay nói một cách thơ hơn là chúng làm cho tâm hồn ta rung động với các tần số có khi rất khác biệt, nhưng chúng chỉ là một. Biết làm thế nào, quy định là quy định, làm sao khác được. Nhưng, nếu nghĩ thêm một chút thì đúng là chúng giống nhau thật vì quanh đi quẩn lại trong bát cơm mà ta sẽ ăn chỉ có sự phối hợp của ba lực lượng: cà, rau muốn và tương. WTOp cũng có lý!

Mặt khác, ta lại thấy (1), (2) và (5) đều nói lên nỗi niềm hớ quê da diết, đến nỗi chẳng biết cái nào da diết hơn cái nào. Mỗi cái có một sắc thái riêng, một nét đẹp riêng. Nếu (1) và (5) thể hiện nỗi nhớ quê qua nỗinhớ các món ăn đặc trưng mang tính trường kỳ của một thời đã làm nên da thịt, tóc tai của mình hôm nay, tuy các món ăn đó có khác nhau về độ dinh dưỡng, tùy thuộc hoàn cảnh của mỗi người, thì (2) lại ví von tình cảm gắn bó của mình với quê hương nơi chôn rau cắt rốn như mối tình canh rau muống với cà dầm tương, một mối tình dung dị, nhưng đẹp và nổi tiếng với hầu hết mọi người dân sống dưới lũy tre xanh ngàn đời trong các làng quê Việt Nam. Ba nỗi nhớ quê này, theo quy định, chúng khác hẳn nhau, thể hiện bằng các chữ in đậm. Đó là những thứ có trong cái này mà chẳng có trong cái kia và ngược lại. Nhân đây tôi cũng xin nói với các bạn sinh viên trẻ, các nhà thơ tương lai rằng, khi viết thơ, ta nên chú ý đến các đối tượng mà mình hướng tới thì mới đạt hiệu quả cao. Cái món trong (1) nó bình dị, gần gũi với số đông đảo người Việt Nam, nên khi nó được mang ra để nhớ thì ắt hẳn nó dễ đi vào lòng người hơn là những món quá đắt trong (5) đối với số đông nói trên. Qua các món khoái khẩu đó ta cũng biết được nhiều về hoàn cảnh và nhân cách của tác giả. Người vô danh tạo ra (1) (vô danh vì nó là ca dao) đại diện cho tầng lớp nghèo nhưng thanh tao, có thú ẩm thực dân dã mà cao sang, còn cái tác giả thèm cơm támgà xé phay là con nhà giàu, là thiểu số, nhớ về những món ăn đọc lên đã thấy cồn cào trong bụng, nhưng lại như bị tố cáo là kẻ tham ăn. Mà ngay cả những người giàu nhưng khôn ngoan, trong bụng thì họ thèm món (5) nhưng khi nói ra thì họ lại chọn món (1), đơn giản là vì món (1) có tính khái quát cao hơn, thơ hơn, mà lại còn rẻ nữa.

Tiếp theo đây tôi muốn nói đến một lợi ích to lớn mà WTOp mang lại cho chúng ta, những người cần có một bài thơ để nộp cho Tập san hàng tháng. Đó chính là cách tiếp cận trong sáng tác thơ mà ta có thể gọi nôm na là một lần và cho mãi mãi, hoặc thơ tổng quát. Tôi xin lấy một ví dụ cụ thể. Giả sử bạn làm một bài thơ như sau với tiêu đề A+B:

A + B

A yêu B, B yêu A
Ai ai cũng bảo thật là đẹp đôi
A xinh B cũng chẳng tồi
A cười, B há mồm ngồi ngắm A

Với một công thức tổng quát như vậy, bạn có thể yên tâm sản xuất một bài báo tường ở dạng thơ chỉ trong không đầy nửa phút. Thật vậy, trong bài báo đầu tiên bạn gửi đăng nguyên văn bài thơ (công thức trên), cuối bài bạn chỉ cần gán: A = Hoa, B= Bướm. Thế là bạn đã có một bài thơ trữ tình hoàn toàn không tầm thường, nghĩa là một bài báo chất lượng cao. Nhưng lợi ích quan trọng và to lớn của nó nằm ở chỗ. Tháng sau, trước thời hạn phải nộp bài một phút, bạn lấy một tờ giấy trắng và viết:

A + B (xem Tập san số X)
A= Hằng, B = Cường

Và thế là, bạn lại có một bài thơ trữ tình không tầm thường, nghĩa là một bài báo chất lượng cao. Không có ai, dù kẻ đó rất không ưa bạn vì lý do nào đấy, lại có thể nói rằng bạn chép lại bài thơ đã nộp lần trước. Trong trường hợp này bạn đã được WTO bảo vệ. Rõ ràng, vào WTOp cũng có nhiều cái lợi đấy chứ! Cũng chẳng có lý do nào cấm bạn trong 56 tháng tiếp theo gán cho A và B các giá trị (đúng hơn là các đối tượng) cụ thể khác nhau, nhưng nhớ là phải hợp lý, để lại có bài báo được xếp vào loại chất lượng cao, do một bài thơ hoàn toàn không tầm thường mang lại.

Cái chốt của vấn đề bây giờ chỉ còn ởchỗ, làm thế nào tạo ra được một bài thơ tổng quát hoàn toàn không tầm thường. Dễ dàng nhận thấy rằng, dòng thơ tuyên truyền cổ động không thích hợp với cách tiếp cận này, vì tính khô khan cũng như tập xác định củanó thường rất nghèo nàn. Thơ bác học cũng có thể sử dụng cho mục đích này. Tuy nhiên, dòng thơ ấy rất kén độc giả (người đọc phải có IQ cao, biết nhiều, hiểu rộng) nên tính phục vụ xã hội không cao. Chỉ có dòng trữ tình là thích hợp. Một mặt, dòng này ai cũng thích, không kể giới tính, tuổi tác. Mặt khác, các đại lượng tổng quát viết trong nó thường có tập đối tượng không hạn chế. Chẳng hạn như A và B trong ví dụ trên, bạn có thể ngồi hàng tháng liền mà không liệt kê hết được các giá trị mà chúng có thể nhận. Đó chính là cái bạn cần. Vậy, điều tiếp theo chúng ta cần bàn là làm thế nào sáng tác được một công thức hoàn toàn không tầm thường. Muốn thế trước tiên bạn cần phải có hiểu biết đúng đắn về hai phương diện: thi sỹ trữ tình, họ là ai, và thơ của họ có đặc điểm gì độc đáo.

Đặc điểm nổi bật nhất của thơ trữ tình là nó thường có tính lạc quan. Nó mang đến cho người đọc những cảm giác yêu đời, yêu nhiều người, yêu nhiều thứ và một tâm trạng vui vẻ, thư giãn nhiều hơn là nỗi đau dằn vặt đớn đau. Nếu có đớn đau thì cũng nhẹ nhàng thôi. Chợt đến rồi chợt tan có khi chưa kịp nhận biết. Vì những luận cứ đó mà nhiều người ví các nhà thơ trữ tình như là men rượu, biến những thứ thường thường như gạo, ngô, khoai, sắn, thậm chí cả nước rỉ mật ở các lò ép mía thành một chất lỏng lý tưởng, ai uống vào cũng thấy ngất ngây. Một sự so sánh khá thành công, tuy vậy, ví thơ trữ tình với rượu có một điểm không đạt, ví như ta biết, rượu không dùng được cho nhiều người, đơn cử như phụ nữ có thai, người cao huyết áp, và đặc biệt là trẻ em, một nhóm độc giả khá quan trọng. Trong khi đó, thơ trữ tình, với đặc trưng nói trên, rất bổ cho mọi người, không trừ một ai. Mãi tới gần đây mới có được sự nhất trí rộng rãi trong đại đa số các quốc gia trên toàn thế giới về một định nghĩa không chính thống về nhà thơ trữ tình, và thơ trữ tình. Theo cách nhìn sát thực và tích cực thì, nhà thơ trữ tình như một nàng bò sữa, từ những chất liệu thô, ráp như cỏ, rơm, lõi ngô, cám gạo... đã tạo ra cho đời một thứ chất lỏng còn hơn cả lý tưởng, bổ ích cho mọi người, cho mọi lứa tuổi, dễ uống và an toàn. Đó là sữa bò tươi.

Vì tất cả các lý lẽ nêu trên, tôi mong ở đơn vị ta đàn bò sữa càng ngày càng đông. Nhưng làm thế nào để có thể biến mình thành một con bò sữa? Rõ như ban ngày rằng, muốn có các tia sữa lạc quan thì bầu vú