Chiến tranh – bản tính và hoán cải

Nguyễn Hoàng ĐứcÝ hướng tính văn chương, NXB Văn Hoá Dân tộc
09:12' SA - Thứ bảy, 25/04/2009

>> Xem bài trước:

1. Con người toàn diện lớn hơn chiến thắng và thất bại

Thế giới là một lò bát quái đầy súng đạn, thuốc nổ, chất độc hoá học, bom nguyên tử thì làm sao con người có thể sống nổi? May mắn thay cho chúng ta, con người vẫn sống bởi lẽ con người vẫn là con người nhân bản, con người công lý hơn là con người của sức mạnh. Vì: “Nhân đạo nằm trong thực chất của con người” ( Heidegger ) (1).

Con người là xã hội, là nền văn minh chứ con người không phải là một thiểu số sở hữu sức mạnh để cướp đi quyền sống của người khác hoặc bắt số đông phải nhường quyền sống tối ưu cho họ. Đó là ý thức làm người. Ý thức này cách đây gần 2500 năm đã được biểu hiện qua ý chí của người dân Hy Lạp thông qua những thể thức đầu tiên về dân cử để loại bỏ quyền lực độc tôn tàn bạo của những chúa sơn lâm nhằm tôn trọng quyền sống tự quyết của toàn thể cộng đồng. Thể thức dân chủ này đã được Platon mô hình hoá qua lý thuyết chính trị Dân Chủ và Cộng hoà mà được cả nhân loại tranh đấu, hy sinh và theo đuổi suốt dòng lịch sử. “Lịch sử là lịch sử của tự do, lịch sử của những cuộc thăng trầm của tự do” ( Fichte).

Đúng ra, lịch sử là lịch sử của tự do chống lại bạo hành quyền lực đã khiến máu chảy trầm lụt và xương chất chật cứng khắp mặt đất này.

Nhưng tại sao trong khi con người ý thức được rằng con người là toàn thể xã hội, nó không vẫn không thoát khỏi nỗi đau đớn phải làm mồi cho bạo lực? Bởi vì lúc này lúc khác, chỗ này chỗ kia, con người vẫn bị một nhóm thiểu số dụ dỗ và lôi kéo, và lòng ham quyền lực của con người luôn bị phỉnh phờ rằng: nó sẽ có may mắn trở nên thiểu số để ngồi trên đầu đám đông. Song le lịch sử đã mở mắt cho mọi người, ngày nay với một tâm thức đã tiến bộ, con người không thể có ảo tưởng phi lý rằng: tất cả mọi người đều có thể trở nên thiểu số trước đồng bào của mình; thêm nữa thiểu số quyền lực thì chẳng bao giờ có thể tự thay máu quyền lực của mình. Bởi vậy con người cần một định chế cho toàn thể - ở đó mọi người được tự do, được sống yên ổn và thoải mái mà chẳng bị ai dùng sức mạnh để cưỡng chế mình. Dần dần mọi người đã chọn nền chính trị Cộng hoà và Dân chủ, giống Platon đã nói: “Những định chế của thế giới bên ngoài chỉ là phản ánh những giá trị ở bên trong tâm hồn con người(2).

Cuối cùng sau đêm trường thống khổ dưới quyền lực toàn quyền sinh – sát của quân vương, tâm hồn con người đã lựa chọn một mẫu hình dân chủ: Tự do, Nhân bản, Bác ái, và Công chính hơn , vì con người muốn lên ngôi chủ nhân ông chính mình, nó được tự do sống như con người, tự do theo đuổi những giá trị của con người. Con người không muốn bị biến thành phương tiện phục vụ lợi ích cá nhân cho kẻ khác, nó không muốn phải làm nô bộc, làm con vật dưới ngai vàng của ông chủ, Sartre nói: “Cứu cánh của con người là chính nó” (Destin de l’homme est en lui meme) (3).

Khi con người ý thức được nó là cứu cánh cao cả của chính nó, con người nghĩ rằng: nó phải tôn trọng tự do của người khác, phải để cho người khác tự do theo đuổi cứu cánh của chính mình, cũng như người khác phải tôn trọng và để cho nó theo đuổi cứu cánh làm người tối hậu của nó. Và khi sự liên đới tự do, bình đẳng , tôn trọng giữa người với người hiện ra một cách không tước đoạt lẫn nhau thì hoà bình có mặt. Một nền hoà bình cho phép con người được được sống trong bầu không khí nhân ái, tín phục lẫn nhau: tôi và anh, anh và tôi, tôi và người khác, người khác và tôi, đó là nhân loại. Lúc đó ranh giới vị kỷ cá nhân sẽ mất đi nhường chỗ cho tình yêu con người, rồi lòng vị kỷ quốc gia cũng mất đi nhường chỗ cho một tinh thần hợp nhất bác ái nhân loại. Thánh Gandhi nói: “ Tôi là người yêu nước, bởi lẽ tôi là con người – tôi là nhân loại” (Je suis patriote, parce que je suis homme et humain) (4).

Tinh thần nhân loại bao trùm lên tinh thần vụ lợi của một gia tộc, chủng tộc, hay một dân tộc. Tinh thần này mặc dù đã bị nhiều cá nhân hay nhóm thiểu số cố tình bôi lem để thủ lợi trong suốt dòng lịch sử, thì vẫn cứ sáng ngời trong lương tri nhân bản của con người. Trước công nguyên hơn 500 năm, Lão Tử đã nói: “Dầu đắc thắng đừng cho là hay, đắc thắng mà cho là hay ấy là thích giết người. Kẻ thích giết người không thể vừa ý thiên hạ” (Đạo đức kinh, chương 31).

Cách đây hơn 2000 năm, tinh thần này cũng được thể hiện qua đời sống của kinh thành La Mã. Trong nghi lễ mừng chiến thắng, người dân bao giờ cũng vừa ca ngợi vừa chế nhạo kẻ chiến thắng; và trong nghi thức tang lễ, người dân vừa khóc thương ca ngợi đức hy sinh vừa nhạo báng người quá cố dại dột ( theo Bakhtin ‘Lý luận và thi pháp tiểu thuyết’, tr.149). Đó là thái độ phản tỉnh toàn diện của con người trước chiến thắng và thất bại. Con người toàn diện lớn hơn cả chiến thắng và thất bại, từ thẳm sâu ý thức của mình con người nhận biết chiến thắng đó là sự kết thúc chiến tranh để đem đến hoà bình, và giống như những cơn giông tố có vùng vằng xé nát bầu trời và mặt đất thì cũng chỉ để cân bằng lại áp xuất không khí đã trở nên quá ngột ngạt nhằm tái sinh lại một bầu trời trong xanh lồng lộng thanh thản. Không! Bầu trời thanh thản phải là cứu cánh của tự nhiên. Hoà bình phải là cứu cánh của chiến tranh. Chiến tranh giống như những cơn bão chỉ là sự giải quyết nhất thời những mâu thuẫn của xã hội nhằm đưa con người trở về không khí nhân ái hoà bình. Chiến tranh không phải là cứu cánh của con người, giống như cái chết không phải là khát vọng của cuộc sống.

Vả lại con người khát tự do. Con người biết rằng chiến tranh là bạo lực, và bạo lực luôn là sự đè nén áp bức con người. Muốn có tự do con người phải khao khát hoà bình. Spinoza nói: “Tự do suy tưởng không chỉ có thể hoà hợp với việc gìn giữ hoà bình mà còn là lời chào của một quốc gia. Người ta không thể phá hoại tự do suy tưởng mà cùng lúc lại không phá đổ nền hoà bình của quốc gia cũng như sự tín phục nó” (la liberte’ de penser non seulement peut se concilier avec le maintien de la paix et la salut de l’Etat, mais meme qu’on ne pourrait la detruise sans detruire du meme coup et la paix de l’Etat et la piete elle meme) (5).

Một quốc gia không thể hùng mạnh nếu quốc gia đó cứ liên miên mở hết cuộc chiến tranh này đến chiến tranh khác. Cổ nhân Trung Hoa cho rằng, con người phải được yên tĩnh mới có thể suy ngẫm mọi sự sâu sắc. Yên tĩnh là gì? Đó chính là điều kiện bình yên trong đời sống, tâm trí con người không bị khuấy rộn bởi tiếng la hét thị uy, tiếng la rú sợ hãi, tiếng binh khí, tiếng đuổi bắt, tiếng chết chóc... Các triết gia Hy Lạp cổ đại cho rằng: một quốc gia chỉ thịnh vượng văn minh khi con người được tạo điều kiện thoải mái, tự do suy nghĩ và hành động; khi đó người dân sẽ tận lực xây dựng quốc gia bởi họ tin tưởng và yêu quốc gia như thể chính mình; ngược lại trong trường hợp người dân chẳng tín phục quốc gia nữa, họ sẽ bỏ mặc quốc gia để xây đắp cho bản thân mình. Lúc đó xã hội chỉ còn là những cá nhân rời rạc đã đánh mất niềm tin cậy vào công chính, và trở thành những cá thể vụ lợi đánh thó lẫn nhau. Platon nói: “Sự tạo dựng thế giới là sự thắng lợi của tín phục đối với sức mạnh(6).

Tín phục là tin cậy, là tinh thần bác ái nhân bản, nó là tình yêu giữa người với người, giữa người với công lý và chân lý. Tình yêu phải chiến thắng bạo hành và tín phục phải chiến thắng cơ bắp. Cũng vậy, ý thức hoà bình phải chiến thắng cơn điên chiến tranh. Tuy nhiên trước khi đi tìm kiếm nền hoà bình cho con người, chúng ta hãy phản tỉnh toàn diện bộ mặt gớm ghiếc của chiến tranh đã.

2. Kẻ giết tù binh cũng sẵn lòng giết đồng đội mình

Trong cuốn “Bàn tay bẩn” ( Les maines sales ), Sartre nói một câu bất hủ:

Tôi thích người sợ cái chết của kẻ khác, điều đó chứng tỏ họ biết sống” ( Je prefere les gens qui ont peur de la mort des autres. C’est la preuve qu’ils savent vivre). Đó là sự thật, một sự thật đã được chứng nghiệm nhiều lần và lặp đi lặp lại trong đời sống. Bạn thử nhìn xem, chẳng phải : những tên đạo chích chuyên đi đánh cắp của người, vào lúc quẫn bách hoặc cùng đường chẳng ăn cắp được của thiên hạ, chúng sẽ đánh cắp lẫn nhau; những tên cướp khi bí kế sinh nhai chúng chẳng tấn công cướp giật ngay cả đồng bọn thân thiết nhất của mình là gì. Bạn có an lòng đánh bạn với kẻ giết người chẳng nương tay không? Thực tế chứng tỏ một kẻ sẵn lòng giết tù binh trong tay, thì đến lúc nào đó chỉ vì lợi hắn cũng sẵn lòng giết đồng đội của mình. Tại sao vậy? Bởi lẽ hắn đã làm quen với việc trà đạp và tàn sát giá trị nhân loại, đối với hắn thì tù binh hay bạn chẳng cách nhau đầy gang tấc, khi cầu lợi hắn sẵn sàng hạ thủ cả tù binh lẫn đồng đội của mình.

Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức

- Sinh năm 1957, học đại học An Ninh
- Anh là một người khác thường mà nhà thơ Đỗ Minh Tuấn gọi là "Anh hề triết học, chàng Đông-ki-sốt văn chương"

Tác phẩm đã in
1. Ý hướng tính văn chương. Chuyên luận và 9 cuốn khác.

Tác phẩm sắp in
1. Ngưỡng cửa làm người (tiểu thuyết, 2 tập, và 12 cuốn khác)
2. Người Việt Nam tự ngắm mình (chuyên luận)
3. Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại (chungta.com đăng nhiều kỳ)
4. Hành trình tâm linh nhân loại (chuyên luận, chungta.com đăng nhiều kỳ)
5. Công lý và Dục vọng (chungta.com đăng nhiều kỳ)
6. Quan phẩm và Nhân phẩm (chungta.com đăng nhiều kỳ)
7. Tự do nền móng thiết yếu của con người (chungta.com sẽ đăng nhiều kỳ)

Xem trang Tác giả...

Trong chiến tranh, liệu chúng ta có thể hy vọng đối thoại với một đối phương chẳng còn thích sống nữa, một đối phương mà tất cả khát vọng chỉ dồn vào ham muốn giết chóc trong uất hận, một đối phương chỉ còn thích nhìn xác chết? Chắc là không! Hoà bình chỉ đến với những đội quân, những địch thủ, những dân tộc đã chán ngấy chém giết, và họ sợ phải nhìn cái chết của người khác mặc dù chẳng phải là người thân của họ.

Kẻ nào ý thức được cái chết thì mới biết sống. Đó phải là chân lý!

Một chiến thắng có thể có ý nghĩa với đội quân này hoặc đội quân khác, nhưng nói chung đó là sự thất bại của nhân loại, bởi lẽ con người đã giết chóc lẫn nhau. Từ xa xưa, Lão Tử nói: “Một chiến thắng phải được cử hành theo nghi thức tang lễ”. Có đúng không? Có chiến thắng nào mà không gây mất mát và chết chóc cho cả kẻ chiến thắng và người chiến bại. Chiến thắng càng vẻ vang thì máu đổ càng nhiều, và cùng lúc với những khuôn mặt đang hoan hỉ đón chờ người thân sống sót trở về thì có vô vàn bộ mặt tang thương vật vã trong đau đớn đầy nước mắt khi chẳng còn nhìn thấy người chồng, người con thêm một lần nữa. Đây là một giá trị nhân bản đã được ý thức từ rất sớm ngay giờ phút ban mai của lịch sử nhân loại. Có những dân tộc bán khai đã có một phong tục rằng: tất cả những kẻ chiến thắng khi trở về không được đi thẳng vào làng bằng cổng chính, họ phải xuống tắm ở chiếc ao ngoài cổng làng để tẩy uế tội ác, sau đó phải đi vòng về nhà theo đường ngang ngõ tắt, và trên đường đi họ phải cúi mặt để cho những người hàng xóm lảng tránh họ. Tại sao vậy? Người ta cho rằng: kẻ chiến thắng là kẻ đã sống sót, và muốn sống sót hắn đã giết chết địch thủ của mình. Hắn là sát nhân. Đó là nỗi ngang trái của lương tri nhân bản con người. Người ta vui mừng khi nhìn thấy người thân của mình trở về nhưng lại ám ảnh về tội sát nhân. Tương tự như vậy, trước công nguyên, Heraclite đã lý giải bản chất đích thực của vinh quang như sau: “ Con đường đi lên và đi xuống là một và cùng là một” ( La route qui mont et qui descend est une, et la meme).

Có con đường đi lên nào mà chẳng phải đi xuống. Hai đội bóng giao đấu với nhau, kết cục đội nhảy lên sung sướng vì thắng trận, đội lã chã nước mắt vì thua cuộc. Tất cả chỉ nằm trong một trận đấu, kẻ này không thắng thì kẻ khác thắng và ngược lại. Vậy chiến thắng chỉ là thất bại đã trồi lên khỏi hố thẳm, còn thất bại chỉ là chiến thắng tụt xuống hố thẳm. Và Heraclite lý giải tiếp: “Những chiến thắng vĩ đại nhất là những thất bại tang thương nhất” ( Les plus grandes victoires sont les plus grandes defaites). Chiến thắng và thất bại là một cặp song hành, bởi ý thức về điều đó mà dân làng đã lảng tránh những kẻ chiến thắng trở về. Kẻ chiến thắng trở về mang đầy vinh quang của sự sống sót khải hoàn, nhưng sự sống sót của họ hàm chứa rằng đã có những kẻ chết thay họ; và từ một hướng nhìn khác, thì chính họ là nghịch bản tang thương của những kẻ ngã xuống. Thực chất họ chỉ là sự tang thương cất tiếng khóc khải hoàn, còn kẻ ngã xuống chỉ là những kẻ chiến thắng rủi ro hát khúc chiêu hồn tử sĩ.

Từ khía cạnh khác, chiến thắng và thất bại được cấy sâu vào chân móng bản chất gây hấn: tử thủ hay chiếm đoạt của con người. Người ta muốn sống sót trước hết người ta phải tự vệ, và khôn ngoan hơn người ta tìm cách tấn công kẻ khác, và sau đó sợ bị người khác tấn công hay trả thù người ta lúc nào cũng nơm nớp giữ lấy mình bằng cách củng cố thật nhiều bạo lực. Thích Minh Châu nói: “Tự chủ biến nghĩa đi trở thành tự vệ, và sau cùng tự vệ biến nghĩa đi và trở thành tự động hay thụ động(7).

Chiến thắng hay thất bại? Chủ động hay bị động? Ông chủ hay thằng ở ? chỉ là mặc cảm của quyền lực con người , cái mặc cảm mà Dostoievski đã nói: “Con người là một động vật thích quyền lực, quyền lực đó dù ở trên một con ruồi”. Chúng ta hãy ngắm một gã gác cổng lúc nào cũng khúm núm trước mặt ông chủ hoặc quan trên, nhưng lại ra vẻ khó dễ phùng mang trợn mắt thị uy những người đến cầu cạnh công việc. Chúng ta đừng tưởng gã có hai thái độ: bợ đỡ và nạt nộ. Thực ra gã chỉ có một mặc cảm quyền lực, gã càng tự ti về thân phận của mình trước ông chủ bao nhiêu thì càng nạt nộ người khác bấy nhiêu để mong bù trừ mặc cảm của mình.

Cũng vậy nhìn ra xã hội với những ông chủ lớn, những dân tộc lớn cũng chỉ vì mặc cảm quyền lực, mặc cảm tự ti về thân phận của mình mà người ta muốn dùng bạo hành để lấn lướt kẻ khác. Chẳng phải nước Đức đã tham gia phát động Chiến tranh thế giới thứ nhất, và khởi phát Chiến tranh thế giới thứ hai chỉ vì mặc cảm về một nước Phổ luôn luôn phân rã và lép vế là gì? Chiến tranh về thực chất chỉ là cuộc tranh chấp bạo lực để cướp quyền điều khiển người khác, kẻ chiến thắng sẽ làm ông chủ, kẻ thua sẽ làm nô lệ. Aristote vạch ra cốt lõi của chiến tranh như sau: “Chiến tranh là một phương tiện tự nhiên để chiếm hữu, do đó săn bắn cũng là một thứ chiến tranh, người ta dùng phương tiện này không những đối với thú vật mà còn đối với những người sinh ra chỉ để vâng lời kẻ khác nhưng lại không chịu vâng lời(8).

Người ta chinh phục người khác, dân tộc khác để chiếm đoạt biến họ thành những thuộc hạ biết vâng lời. Nghĩa là bằng bản năng thích quyền lực của mình, người ta dường như chỉ thích sống yên ổn khi đạt được sự phân rẽ đẳng cấp rõ ràng: người ta là ông chủ, là tầng lớp thượng đẳng bên trên, còn kẻ khác là hạ cấp, là tôi tớ, nô bộc. Kinh Gita có câu: “Sự khác nhau giữa con người hành động giác ngộ và con người hành động ngu si là con người giác ngộ thoát khỏi ảnh hưởng của đẳng tính trong khi kẻ ngu bị các đẳng tính điều khiển” ( tr.25).

Kẻ yêu đẳng tính là kẻ thích chiến tranh. Để đẩy dân tộc Đức vào cuộc chiến tranh một cách cuồng nhiệt, Hitler đã mượn hình ảnh tự nhiên để chứng tỏ đẳng cấp của người Đức như sau: dân tộc Đức văn minh phải có trách nhiệm truyền bá, nô dịch hoá, thậm chí tàn huỷ các dân tộc mọi rợ khác, và đừng phân vân thế là làm ác. Chúa sinh ra hàng triệu con mèo, có để cho một con mèo nào phải yêu lấy chuột đâu.

Theo Hitler, thì dân tộc Đức là mèo, còn các dân tộc khác hôi thối, nhơ nhớp như chuột cần phải săn bắt, tiêu diệt. Và Hitler tiếp tục bài giảng về đẳng cấp siêu phàm của người Đức: con ngựa thì nhanh nhẹn tinh khôn, con lừa ngu nhưng vẫn còn được việc, nhưng con ngựa lai giống với con lừa sẽ đẻ ra con la vô cùng đần độn, nhỏ bé, yếu ớt và ngớ ngẩn. Bởi vậy phải thuần hoá nòi giống, không để người Đức cao cả phải sống chung hoặc ân ái cùng các dân tộc mang dòng máu thấp hèn khác, vì thế phải giết, giết chết, phải tận diệt dân Do Thái. Kết quả đã có bao nhiêu phòng ngạt, lò sát sinh được mọc lên để hoá kiếp những “con la” Do Thái.

Nhưng thực chất của vấn đề đẳng cấp là gì? Machivelli một chuyên gia cỡ bự hàng đầu thế giới về môn chiến tranh đã nói toẹt ra rằng: “Người ta làm hại nhau vì sợ hoặc vì ghét” ( Quân Vương ). Tại sao Hitler lại thù hằn người Do Thái, có phải thực sự họ là những con la, hay họ là những kẻ có não trạng và nền văn hoá tâm linh đáng gờm nhất thế giới?

Con người thích quyền lực, thích làm chủ, thích làm cha mẹ người khác, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi cuộc chiến tranh. Vậy chiến tranh bao giờ thì hết đất sống trong lương tri nhân bản của con người? Câu trả lời sẽ là: chiến tranh chỉ tiệt nọc khi con người gạt bỏ toàn diện những tham vọng về quyền lực mong đè nén người khác. Mặt khác, chiến tranh vẫn còn, nó vẫn xảy ra hăm hở và cuồng khích trên mặt đất này mỗi ngày, bởi lẽ người ta thích tranh đấu cho chiến tranh để thủ lợi hơn là tranh đấu để kết thúc chiến tranh. Tóm lại bằng một tâm hồn tha thiết quyền lực đầy gây hấn người ta cứ quảng diễn một nền hoà bình trên môi miệng khi mà trong túi vẫn thủ sẵn súng ngắn sẵn sàng nhả đạn. Thích Minh Châu nói: “Chiến tranh càng ngày càng lan rộng, không phải vì thiếu người tranh đấu cho hoà bình, mà bởi vì có quá nhiều người tranh đấu cho hoà bình”.

Con người có thích ủng hộ chiến tranh để trao vào tay kẻ mạnh thứ bạo lực sẽ cướp đi quyền sống tự do của họ? Không đời nào! Con người không muốn làm bầy cừu trước nanh vuốt của vài con sói. Con người muốn tự do. Vậy thì con người phải khao khát hoà bình, vì chỉ có hoà bình mới đem lại cho con người những giá trị nhân bản phi sắt thép, binh khí, và súng đạn. Con người yêu hoà bình. Hiển nhiên rồi. Vậy chúng ta hãy cùng chiêm nghiệm một nền hoà bình, và suy tư một ý thức cho hoà bình – vì hoà bình.


3. Muốn hòa bình hãy dứt bỏ lòng ham muốn bạo lực

Lão Tử nói : “Người ta đều biết phòng ngừa hoạ hoạn, ít người biết làm cho hoạ hoạn đừng sinh ra”.

Gốc của hoạ hoạn ở đâu? Nó nằm ngay trong bản tính cuồng si bạo lực của con người. Vậy muốn diệt trừ tận gốc hoạ hoạn, mỗi con người phải gột rửa tự tâm hồn mình những cặn bã của bạo lực, làm sao tâm hồn mình chỉ còn là cõi lòng dạt dào nhân ái với tha nhân. Vậy trước hết chúng ta hãy phản tỉnh đào luyện chính mình. Thế giới chỉ có thể hoà bình khi mọi cá nhân đều khát hoà bình. Thánh Gandhi nói : “Hoà bình trước hết phải là cuộc tận hiến bản thân mình” ( La paix est la avant tout sacrifice de soi) (9).

Như vậy, trước hết ta phải nghĩ rằng: ta là kẻ thù của ta, và không ai khác ngoài sự uất hận của ta, sự đam mê quyền lực của ta sẽ gieo vào cuộc đời sự gây chiến đầu tiên, rồi bạo lực lây nhiễm bạo lực, súng đẻ ra súng, oán hận chồng chất oán hận, chiến tranh sẽ kéo theo chiến tranh mãi mãi chẳng ngừng. Bởi vậy, muốn chấm dứt chiến tranh xã hội, trước hết ta hãy chấm dứt chiến tranh trong lòng mình. Hãy vượt lên uất hận và mở ra trang bao dung đầu tiên của sự nghiệp hoà bình. Descartes nói : “Tự thắng mình còn hơn thắng vũ trụ”.

Khi ta biết thắng ta, biết tự chế ngự mình, thì ta không còn mặc cảm về địa vị nô bộc của mình nữa, và từ đó ta cũng tẩy trừ khát vọng muốn làm ông chủ cưỡng đoạt người khác. Chiến tranh là gì? Nó chẳng là gì khác ngoài việc ta trở thành kẻ thù của người khác hoặc người khác là kẻ thù trong ống ngắm của ta. Vậy muốn tiêu trừ chiến tranh trước hết hãy trở thành kẻ thù của chính mình. Ta phải phản tỉnh, kỳ thị, xung đột và cuối cùng hãy làm lành chính mình bằng giải quyết những oán thù của nội tâm; hay bài trừ những tham vọng quyền lực nảy sinh từ một tâm hồn vụ lợi, một oán hận nào đó còn cắm rễ vào mảnh đất vị kỷ cố chấp. Nietzsche nói: “Những kẻ thù nguy hiểm nhất mà bạn có thể gặp bao giờ cũng là chính bạn, bạn rình rập bạn trong tận cùng cốc thâm sơn” ( Zarathustra đã nói thư thế ).

Khi con người còn chứa chấp đầy bản năng vị ngã của mình, nó sẽ trở nên bức tường ngăn cản chính nó than dự vào những giá trị công lý của cuộc đời, vì vậy cần phải: “Học lại sự khoan dung đối với đối với sự sai lầm cần thiết để khám phá sự thật” (Togliatti – Les Marxistes).

Sau khi phản tỉnh để đặt mình vào mức độ khoan dung nhằm gạt bỏ thái độ hiềm khích nhắm tới người khác, ta phải gạt trừ tận gốc lòng tham dục, vụ lợi của mình. Cổ nhân Trung Hoa cho rằng: một cá nhân vụ lợi cho mình sẽ hại đến gia trạch, một nhà vụ lợi cho mình sẽ hại đến làng xóm, một làng vụ lợi cho mình sẽ hại đến quốc gia, một quốc gia vụ lợi cho mình sẽ hại đến thiên hạ. Bởi vậy, muốn có thiên hạ thái bình thì từ cá nhân đến chủng tộc hay quốc gia đều phải bài trừ lòng ích kỷ vụ lợi của mình. Hãy mở lòng ra và hướng đến nhân loại toàn thể. Kinh Gita nói: “Chỉ có con người không màng đến tham dục mới đạt đến hoà bình” (tr.367).

Bộ Kinh ấy còn cho rằng: “Trở ngại lớn của con người là sự cám rỗ và lòng hiềm khích. Chúng sinh từ rung động quan năng. Nhà ngươi phải chiến thắng hai điều đó” (tr.367).

Phải chiến thắng sự cám rỗ và lòng hiềm khích, chúng là lòng tham dục gây chia rẽ và phá hoại hoà bình. Hãy đạp đổ nó đi!

Để phấn đấu cho một nhân loại hoà bình, thiết tưởng đối với chúng ta chẳng có gì hữu ích hơn là học theo tấm gương lý tưởng thực hành “Bất bạo động” của thánh Gandhi, một con người vĩ đại được toàn dân phong thánh bởi một lòng kiên tâm theo đuổi ý chí giành độc lập cho dân tộc Ấn Độ từ tay đế quốc Anh mà chẳng cần dùng tấc sắt nào. Phương Tây kinh ngạc! Cả thế giới kinh ngạc! Thắng lợi của thánh Gandhi không chỉ là thắng lợi của dân tộc Ấn Độ mà là thắng lợi đầu tiên của giá trị nhân bản tín phục loài người trước sắt thép. Thánh Gandhi nói: “Nếu chỉ có thể lựa giữa hèn nhát và bạo động, tôi sẽ khuyên bạo động... Chắc chắn tôi sẽ muốn Ấn Độ dùng khí giới để bảo vệ danh dự của mình hơn là thấy Ấn Độ hèn nhát làm một chứng nhân bất lực cho sự mất danh dự. Nhưng tôi tin rằng phương pháp bất bạo động vô cùng cao cả hơn phương pháp bạo động(10).

Phương pháp bất bạo động là đỉnh cao của nền tảng đạo lý xã hội đã tựu thành nhờ một ý chí tận hiến tột cùng của một con tim, một tâm thức hướng về thế giới toàn thể, bởi lẽ: “Thận trọng là đạo lý nền tảng của đời sống xã hội” (Prudence is the primary virtue of public life) ( theo Bách khoa thần học) (11).

Một xã hội yên bình là xã hội mà ở đó mọi người đều sống bắt đầu từ đức thận trọng khiêm nhường của mình. Đó là những con người muốn sống thực sự trong cộng đồng bình an nhân ái. Cuộc sống với tha nhân trước hết là không khí an ninh. An ninh trong cuộc đời giữa người với người được Dostoievski coi như những bản khế ước hoà bình được ký kết giữa những con người, và kẻ nào làm khác đi, kẻ định lấn lướt vượt trội người khác bằng bạo động hoặc kẻ thực thi bất kỳ tội ác bất thường nào, đó là kẻ tự tay xoá bỏ bản khế ước đã ký vô hình chung giữa hắn với mọi người.

Kẻ đó hiển nhiên là tên đạo chích muốn đánh thó ý nghĩa nhân bản của cuộc cộng tồn liên đới con người.

Cuối cùng chúng ta hãy trở lại câu nói của Thiên Chúa: “Ta cho các ngươi hoà bình và chiến tranh giống như kỳ gieo cấy và mùa gặt hái”. Liệu Chúa có phải Đấng cổ xuý chiến tranh? Tôi không muốn trả lời thay bạn câu hỏi này, bởi vì tôi muốn bạn được tự do chọn nơi bỏ neo cho con tim nhân ái của bạn. Tuy vậy, chúng ta cũng nên biết, trong Kinh Matheus, Chúa Jesus nói: “Tra gươm vào vỏ vì ai cầm gươm sẽ chết vì gươm”.

Nhân loại chỉ thực sự thành nhân khi biết tranh chấp trong nhìn nhận” ( Lý Chánh Trung ) (12).

Dù muốn hay không, chúng ta không thể chối bỏ một thực tại cao quí rằng: Con người là con người của ý thức. Bởi vậy, trước cửa ngõ chiến tranh luôn mở cửa của đời sống còn đầy hiếu chiến, chúng ta hãy phản tỉnh: liệu có phải mình đang tiến hành vi phạm bản khế ước chung sống của nhân loại? Mình có bỏ mặc hay trà đạp giá trị nhân loại?

Sẽ có nhiều cách trả lời, kẻ vụ lợi muốn thủ tiêu một góc chân lý để biện hộ cho hành vi và lợi ích của họ. Còn người công chính lương hảo thì luôn đặt nó vào giữa chân lý toàn hảo. Đó là chân lý của công lý, bình đẳng, bác ái và lợi ích của nhân loại toàn thể.

Khi có một nhân loại toàn thể thì con người có cần giao chiến để trao đổi văn hoá không?

Hy vọng rằng: khi văn hoá nhân loại đạt đến mức tiến bộ nhất định thì trò chơi bạo lực không trở thành một cơn khát cuồng si nữa.

Bạo lực sẽ chấm hết! Trí tuệ hiền minh sẽ lên ngôi!

Hãy tin là vậy!


Ghi chú:

1- sđ d (HTLHS)

2- sđ d (CTVBĐ), tr.437

3- Charles Werner “La Philosophie moderne” (PM), Payot Paris 1954, tr.303

4- Sđ d (PdG), tr.37

5- F. Tomlin “Les Grands Philosophes de l’ Occident” (GPO), Payot Paris 1951, tr.148

6- Afred North White Head “ Bước đường phiêu lưu của những dòng tư tưởng” (BĐPLTT). Dịch giả: Nam Chi và Từ Huệ. Văn Đàn 1969, tr.173

7- sđ d (TSNLCN ), tr.61

8- sđ d ( CMVĐ Đ), tr.55

9- sđ d (PdG), tr.191

10- sđ d (CMVĐ Đ), tr.104

11- sđ d (ENC), cuốn P11, tr.997

12- sđ d (CMVĐ Đ), tr.57

Chiến tranh – bản tính và hoán cải
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,