 | Thông tin liên quan: Một số quan điểm về tính khách quan, chân thật trên báo chí hiện nay24/11/2009 02:24' PM Về lý thuyết, uy tín và hiệu quả của báo chí phụ thuộc vào tính khách quan, chân thật của những thông tin mà nó đem đến cho công chúng. Một tờ báo đưa tin sai, dù sau đó đính chính, sẽ tự hạ thắp vị trí của mình trong lòng độc giả. 150 năm "Bàn về tự do"18/10/2009 01:09' AM Bàn về tự do của J. S. Mill đã phần nào tạo nên lực đẩy cho bước tiến ấy, khi góp phần không nhỏ vào những chuyển biến xã hội mang sắc màu dân chủ ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở các nước Tây phương. Toàn bộ tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự do của con người đối với sự phát triển của toàn xã hội. Một xã hội thực sự tự do là một xã hội đảm bảo không gian cho tính đa dạng của ý kiến, hành vi, và lối sống. Nhận thức đầy đủ về tự do là nhân tố căn bản để mỗi người đạt được cho mình sự tự do thực sự. Từ đó, mỗi cá nhân sẽ tích cực tạo nên những giá trị tốt đẹp cho bản thân, cho cộng đồng, cho quốc gia, và cho cả thế giới. Hành trình đi tìm tự do17/07/2009 12:00' AM Thế giới đã đi qua nhiều chặng đường phát triển, nhưng có thể nói, những thành tựu của khoa học công nghệ, khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn vẫn chỉ dành cho gần một phần ba nhân loại. Hai phần ba còn lại của nhân loại vẫn đang phải vật lộn với cuộc sống để tồn tại. Đó là những con người thiếu tự do, và vì thiếu tự do nên họ lâm vào tình trạng nghèo đói, lạc hậu và không phát triển được... Tự do sinh ra con người11/07/2009 09:24' AM Có nhiều cách lý giải về nguồn gốc hình thành con người, nói đúng hơn là quy luật hình thành các giá trị con người. Tôi cho rằng, con người được sinh ra bởi hai quy luật: quy luật tự nhiên và quy luật xã hội. Quy luật tự nhiên là quy luật sinh học, còn quy luật xã hội là quy luật của tự do. Không phải quy luật tự nhiên sinh ra con người thì đó đã là con người theo đúng nghĩa. Chính tự do sinh ra tất cả các quyền làm người, tự do hoàn thiện con người. Góp vốn tự do02/07/2009 03:22' PM Con người thường mặc nhiên thừa nhận không gian tự do bên trong và không gian tự do bên ngoài bản thân mình là rất trừu tượng, nhưng thực ra không phải vậy. Không gian tự do bên trong chính là đời sống tinh thần của mỗi con người. Còn không gian tự do bên ngoài phản ánh tự do của người dân đối với nhà cầm quyền, tự do của con người đối với nhau, và tự do trong sự tương tác giữa các lực lượng xã hội. Cội nguồn cảm hứng là tự do29/06/2009 06:18' AM Tôi đọc những trang đầu tiên của cuốn “Cội nguồn cảm hứng” ở một quán cà phê trên đường Lò Đúc. Những thanh âm huyên náo của phố phường ngoài kia và những trang suy tưởng trong im lặng của ông Nguyễn Trần Bạt có cái gì đó hơi tương phản. Chủ nghĩa tự do: Quá trình phát triển và ảnh hưởng của nó đối với thế giới hiện đại25/06/2009 04:58' PM Chủ nghĩa tự do (CNTD) - hệ tư tưởng chính trị, triết học, đạo đức, là át chủ bài của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội (CNXH). CNTD tuyệt đối hóa tự do cá nhân, phủ nhận vai trò của cộng đồng xã hội và sự can thiệp của nhà nước, do đó là hệ tư tưởng đối lập với chủ nghĩa xã hội. CNTD tuy có vai trò tích cực nhất định trong sự phát triển kinh tế, xã hội ở các nước tư bản, nhưng những hậu quả tiêu cực của nó cũng không nhỏ. Mối quan hệ giữa các nền văn hóa08/02/2009 11:33' AM Trong bài viết này, khi chỉ ra bản chất của những mâu thuẫn giữa các nền văn hoá, văn minh, sự khác nhau giữa tôn giáo và văn minh, nguyên nhân của sự xung đột giữa các tôn giáo, sắc tộc giữa các cộng đồng dân tộc, tác giả đã đi đến khẳng định rằng, sự phát triển của văn hoá, văn minh không những không làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các cộng đồng xã hội, mà trái lại, còn là điều kiện để các dân tộc xích lại gần nhau hơn... Văn hóa: cái nhìn từ nền tảng16/10/2008 08:25' AM Văn hóa là khả năng học vấn hay tinh hoa của lối sống? Là cách thức sinh hoạt hay thể thức của tinh thần? Là truyền sống hay sáng tạo thời thượng? Là vật chất hay tinh thần? ... Chẳng phải là những câu hỏi dễ trả lời, và người ta chẳng ra nổi cái bùng binh cuộc tranh luận về văn hoá, có khi đôi co điều tiếng với nhau bằng một nhãn quan nhân danh chỗ đứng của mình. Khoa học công nghệ và sự đổi mới giữa các nền văn hóa04/08/2008 08:34' AM Bài viết đề cập đến một vấn đề phức tạp, mang tính toàn cầu - vấn đề quan hệ của khoa học công nghệ với sự đối thoại giữa các nền văn hoá. Theo tác giả, văn minh phương Tây bao gồm hai nền văn hoá: một bên là nền văn hoá mang đậm tính truyền thông, tôn giáo hay tính biểu tượng và bên kia là nền "văn hoá" mang tính khoa học công nghệ... Tự do và trách nhiệm trong hoạt động của con người01/07/2008 05:38' PM Tự do và trách nhiệm chính là những biểu hiện sức mạnh bản chất của con người. Tự do và trách nhiệm hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử của nhân loại cũng như của các cộng đông người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội và con người. Cải cách văn hóa13/05/2008 06:20' PM Sự không phát triển về mặt con người không chỉ thể hiện ở sự lạc hậu về chính trị, kinh tế mà còn cả môi trường văn hoá. Nếu văn hóa chưa được giải phóng, tức là vẫn tồn tại nền văn hóa không thích ứng với sự phát triển thì dân tộc đó vẫn là nô lệ của chính họ... Văn hóa là hiểu biết và thương yêu20/03/2008 08:44' AM Văn hóa là những gì làm cho con người rộng hơn và sâu hơn (hoặc cao hơn, sâu hay cao chỉ là một cách nói). Phát triển con người cả bề rộng lẫn bề sâu. Đó là sự hoàn thiện hóa con người... Thế động của văn hóa12/01/2008 08:11' AM Khi nói đến văn hóa Việt Nam, phần lớn những nhà nghiên cứu thuộc thế hệ đàn anh thường nói lên một khái niệm ước lệ như "Nước Việt ta có bốn nghìn năm văn hiến". Đó là cách nói ở "thế tĩnh". Coi văn hóa là một gia tài quá khứ mang một giá trị tượng trưng và mơ hồ cần được chưng trong tủ kiếng hay cất kỹ trong cái tráp sơn son thếp vàng của lòng tự hào dân tộc... Văn hóa và mô hình phát triển phổ biến15/12/2007 09:11' AM Tác giả đã lý giải những khuynh hướng văn hoá đòi hỏi sự thay đổi mang tính sáng tạo đối với mô hình phát triển hiện tồn và tin rằng, chừng nào mà văn hoá đích thực còn tồn tại thì nó vẫn là nơi chứa đựng những giá trị người và đó là cơ sở cho một sức sống mới... |
Bài viết đề cập đến mối quan hệ giữa 3 phạm trù: tự do, văn hoá và phát triển. Sự gặp gỡ giữa ba phạm trù này là ở chỗ, chúng phát triển những năng lực của con người. Chúng như là sự hiện thực hoá khát vọng hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ của con người. Tự do là nhận thức được cái tất yếu để tự quyết định, nghĩa là nó hướng đến cái chân. Phát triển kinh tế - xã hội là phát triển con người, nghĩa là hướng đến cái thiện. Cái mỹ - phạm trù còn lại thuộc về văn hoá và nó bao quát cả chân lẫn thiện. Tất cả quy tụ trong chủ nghĩa cộng sản, Cái mà C.Mác và Ph.Ăng ghen đồng nhất với văn hoá hay sau này, V.I.Lê nin đồng nhất với văn hoá vô sản.
Tự do là một quan hệ. Đối lập với tự do là lệ thuộc, là nô lệ. Sự ra đời của các thiết chế nhà nước trong xã hội có giai cấp với những thể chế chính trị khác nhau dường như đã hạn chế tự do của con người. Vì vậy, khởi điểm của hành trình nhận thức tự do của nhân loại là tự do trong các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, để khẳng định quyền tự do chân chính của con người như một tất yếu, nhận thức của nhân loại đã phải viện dẫn đến tự do trong quan hệ với tự nhiên và với chính bản thân mình. Ở Trung Quốc, Lão Tử đề xướng thuyết vô vi, chủ trương không làm gì trái với tự nhiên, trái với đại đạo của trời đất. Tự nhiên ở đây được hiểu là những quy luật vận hành tất yếu của vũ trụ. Không làm trái với tự nhiên, hơn thế nữa, con người phải hoà mình vào tự nhiên. Vì vậy, "vô vi” biểu hiện như một lối sống nhiều hơn là nhận thức triết học về tự do. Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử phản đối cách cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời: "Dân sở dĩ đói là vì trên thu thuế nhiều, dân sở dĩ khó trị là vì trên theo lối hữu vi" (Chương 75, Đạo đức kinh). Khổng Tử cũng nói đến mệnh Trời nhưng với mục đích mượn cái vô hình làm chỗ dựa và làm tăng thêm uy lực cho cái hữu hình là hoàng đế và triều đình. Vì vậy, hợp với mệnh Trời thật ra là một quan hệ xã hội và về thực chất, là sự lệ thuộc vào uy quyền áp đặt của chế độ phong kiến. Triết học tôn giáo Ấn Độ sử dụng phạm trù giải thoát như một trạng thái tinh thần, vượt lên những ham muốn trần tục và sự khổ ải trần thế của con người, ít nhiều, đấy là một trạng thái đối lập với lẽ tự nhiên. Như vậy, ngoại trừ Lão Tử, phương Đông thuyết minh nhiều cho cái bị cấm đoán hơn là cái được phép. Sự thống trị hàng ngàn năm của tư tưởng Không giáo cùng với sự kéo dài quá mức của thiết chế nhà nước phong kiến đã khiến xã hội nhầm lẫn khi coi tự do là cái được ban phát từ trên xuống, là ân huệ của nhà vua. Và điều này lại đưa đến một nhầm lẫn khác: tự do không phải là một vận động của lịch sử nên có thể áp đặt một mô hình chủ quan từ bên ngoài, mô hình phương Tây chẳng hạn.
Ở phương Tây, do sự đề cao vai trò của cá nhân, tự do được nhận thức và xây dựng như một phạm trù triết học quan trọng gắn với cái tất yếu Phần lớn các nhà duy tâm chủ nghĩa đều coi tự do và tất yếu là hai khái niệm loại trừ lẫn nhau với hai khuynh hướng: Thứ nhất, tự do là tự do ý chí, là khả năng hành động phù hợp với sự thể hiện ý chí mà sự thể hiện này lại không do điều kiện bên ngoài quy định, thứ hai, con người không có chút tự do nào, tính tất yếu hoàn toàn thống trị. Điển hình cho khuynh hướng đầu tiên là Lốccơ với định nghĩa: "Tự do là khả năng con người có thể làm bất kì điều gì mình mong muốn mà không gặp bất kì cản trở nào". Quan niệm này rõ ràng đã thách thức tính trách nhiệm và cả đạo đức, tự do được xem như một trạng thái bản năng. Khuynh hướng thứ hai lại tuyệt đối hoá tính khách quan mà thuyết định mệnh là một ví dụ. Trái ngược với cả hai khuynh hướng trên, Hê ghen là người đầu tiên đưa ra một quan điểm đúng đắn về quan hệ giữa tự do và tất yếu. Xuất phát điểm của Hê ghen là quan niệm về tự do của Giáo hội Thiên Chúa giáo. Ông viết: "Tự do chủ quan hay tự do đạo đức này, chủ yếu được gọi là tự do theo nghĩa của người châu Âu. Căn cứ trên quyền tự do như vậy thì con người cần phải phân biệt giữa cái thiện và cái ác nói chung “ . Từ quan hệ giữa thiện và ác, Hêghen đào sâu mối quan hệ giữa tự do và tất yếu, coi tự do là sự nhận thức được cái tất yếu, còn "cái tất yếu chỉ mù quáng chừng nào người ta chưa hiểu được nó". Ở đây, Hê ghen đã vượt qua quan niệm đạo đức về tự do: tự do không phải ở chỗ lựa chọn giữa cái thiện và các ác, mà là ở sự lựa chọn giữa cái tất yếu và mù quáng. Tất yếu dường như là cái đối lập với tự do, cái mà tự do phải vượt qua để khẳng định mình. Tuy nhiên, Hê ghen quan niệm tất yếu là anh có quy luật của thế giới, là cái đưa thế giới tới một mục đích xác định, là "lý tính thế giới". Vì vậy, tất yếu của Hê ghen hoàn toàn không mù quáng. Khi tất yếu được con người nhận thức, nó mở ra cho con người khả năng bắt cái tất yếu phục tùng lợi ích và nhu cầu của mình, nghĩa là lý tính thế giới khẳng định được nó và nó chuyển hoá thành tự do. Chiến thắng của tự do cũng là chiến thắng của lý tính. ông viết: "Chân lý của tất yếu là bản thân tự do". Như vậy, tự do của Hê ghen không chỉ giới hạn trong nhận thức: "...Tự do chính là ở chỗ làm sao để tồn tại là bản thân mình, tồn tại chỉ lệ thuộc vào bản thân mình, làm sao để tự quyết định được bản thân mình". Từ đây, có thể nhận ra rằng, Ph.ăng ghen hoàn toàn tán thành Hê ghen khi viết: "Tự do không phải là ở sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng - có được nhờ sự nhận thức này - buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định", ' "tự do là ở sự chi phối được chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên".
Tất yếu biểu hiện không chỉ trong những quy luật tự nhiên, mà còn trong các quy luật xã hội. Nhìn từ quan hệ xã hội, tự do là một thể chế chính trị quy định quan hệ giữa người và người, giữa công dân và nhà nước. Cùng quan điểm với Hêghen, Rútxô khẳng định: "Làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ, mà tuân theo các quy tắc của mình đặt ra là tự do". Quy tắc đó chính là pháp luật hay khế ước xã hội. Ông viết: "Với khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do tự nhiên và cái quyền hạn chế được làm những điều muốn làm mà làm được, nhưng mặt khác con người thu lại quyền tự do dân sự và quyền sở hữu những cái mà anh ta có". Trong quan hệ với thể chế chính trị, tự do là quyền tự nhiên của con người. Tuyên ngôn Lập quốc năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp đều khẳng định điều này. Tuy nhiên, trong xã hội tư sản, tự do đã bị cắt xén bởi pháp luật của xã hội đó phụ thuộc vào ý chí của thiểu số chiếm đoạt tư liệu sản xuất. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tập trung phân tích và chỉ ra khả năng tự do của con người và xã hội trong quan hệ đối lập với một phạm trù mới - phạm trù tha hoá. Trong guồng máy kinh tế của chủ nghĩa tư bản, cái đối lập với tự do là tha hoá. C.Mác và Ph.Ăngghen, trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, đã khẳng định: "Hoạt động tự do, có ý thức là tính chất loài của con người”. Hoạt động sinh sống của con người là hoạt động có ý thức. Đó là một đặc trưng quan trọng để phân biệt con người với con vật. Hoạt động sinh sống có ý thức khiến con người trở nên tự do: "... Con người là một sinh vật có ý thức, nghĩa là đời sống của bản thân con người là một đối tượng của con người. Chỉ vì thế mà hoạt động của con người là hoạt động tự do. Lao động bị tha hoá đảo ngược quan hệ đó khiến cho con người chính vì là một sinh vật có ý thức, chỉ biến hoạt động sinh sống của mình, bản chất của mình thành phương tiện để duy trì sự tồn tại của mình mà thôi". Như vậy, logic của vấn đề tự do trong xã hội tư sản là phải xoá bỏ sự tha hoá. Mà xoá bỏ tha hoá trước hết là xoá bỏ chế độ tư hữu. Mặt khác, C.Mác và Ph. Ăngghen quan niệm thực chất của tự do là tự do phát triển toàn diện những khả năng của con người. Lập luận của hai ông là để có tự do, cá nhân phải được sống trong những "cộng đồng thực sự": "Chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng, mới có thể có tự do cá nhân”. Trong những cộng đồng của các xã hội từ chủ nghĩa tư bản trở về trước, "tự do cá nhân chỉ tồn tại đối với những cá nhân đã phát triển trong khuôn khổ của giai cấp thống trị và chỉ trong chừng mực họ là những cá nhân của giai cấp ấy”. C.Mác và Ph.Ăngghen gọi đấy là những "cộng đồng giả", "cộng đồng hư ảo", bởi bao giờ chúng cũng tồn tại độc lập với các cá nhân và "vì nó là sự liên hợp của một giai cấp chống lại một giai cấp khác, cho nên đối với giai cấp bị trị, nó không những là một cộng đồng hoàn toàn hư ảo mà còn là một xiềng xích mới". Do đó, "sự phụ thuộc của những cá nhân vào những giai cấp nhất định không thể bị xoá bỏ chừng nào chưa hình thành một giai cấp không phải bảo vệ một lợi ích giai cấp riêng biệt chống lại giai cấp thống trị. Cộng đồng thực sự mà C.Mác và Ph.Ăngghen nói đến là chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản sẽ giải thoát con người khỏi sự tha hoá ấy để trả nó về trạng thái tự do. Khi đó, "những lực lượng khách quan, xa lạ, từ trước đến nay vẫn thống trị lịch sử thì sẽ do chính con người kiểm soát", con người bắt đầu tự mình làm ra lịch sử của chính mình một cách tự giác. Đấy chính là thời điểm mà Ph.Ăngghen gọi là "bước nhảy của nhân loại từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do" . Lúc đó, tự do không phải là một sự chia sẻ hay nhượng bớt như quan niệm của Rútxô, mà là một sự cộng đồng, bởi "Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện của sự phát triển tự do của tất cả mọi người". Tự do không phải là của ban phát từ bện trên hay sự kết nối theo hàng dọc từ trên xuống, mà là sự kết nối theo hàng ngang trong một cộng đồng dân chủ, tiến bộ.
Tóm lại, từ quan điểm duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét phạm trù tự do trong điều kiện cụ thể của xã hội tư bản, đối lập tự do với tha hoá, đối sánh quan hệ giữa thống trị và bị trị. Đóng góp của hai ông trong vấn đề này là, Thứ nhất, gắn tự do với hoạt động và đó là hoạt động sinh sống có ý thức của con người, thứ hai, coi tự do là tự do phát triển toàn diện những khả năng của con người và thứ ba, chỉ ra con đường để đạt đến tự do.
Một lược sử ngắn về tự do như trên cho thấy, hành trình sáng tạo văn hoá của nhân loại cũng là hành trình hướng tới tự do. Văn hoá là cái đối lập với trạng thái tự nhiên (Pufenđorf), sự sinh thành con người lần thứ hai (Herder), sự phát triển các năng lực thiên bẩm của con người (I.Can tơ)... Văn hoá là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người trên cơ sở con người nhận thức những quy luật của tự nhiên. Thực chất của văn hoá là quá trình con người ngày càng thoát khỏi những ràng buộc mù quáng của tự nhiên và sau đó là của xã hội để tự khẳng định mình. Sáng tạo văn hoá đã từng bước chặn đứng và loại trừ vĩnh viễn tiến hoá sinh học trong cơ thể người, buộc nó phải nhường chỗ cho. tiến hoá xã hội, để lịch sử trở thành quyển sách mở của những lực lượng bản chất người. Như vậy, cuộc gặp được báo trước giữa văn hoá và tự do là ở sự phát triển con người. Phát triển toàn diện những năng lực của con người là thước đo của văn hoá cũng như thước đo của tự do. Theo đó, đích đến của văn hoá là tự do và bản chất của tự do là văn hoá. Văn hoá là khải hoàn của tự do. Đây là một trong những luận điểm khoa học mà Ph.ăng ghen đã xây dựng để chống lại Đuyrinh: "Những con người vừa mới tách khỏi loài vật thì trong tất cả mọi mặt cơ bản cũng đều không có tự do, chẳng khác gì bản thân loài vật, nhưng mỗi bước tiến lên trên con đường văn hoá lại là một bước tiến tới tự do".
Trong nhận thức của nhân loại hiện nay, phát triển con người là nội dung chính yếu của phát triển kinh tế - xã hội. Quan niệm phát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu đã tự phủ định mình bởi những kết cục không bền vững. Tăng trưởng kinh tế phải "kết nối" với phát triển con người, lấy phát triển con người làm mục tiêu. Phát triển kinh tế bền vững cần đến sự phát triển con người bền vững. Lý thuyết phát triển con người bền vững là đóng góp của hai nhà nghiên cứu Mahboub Haq và Amartya Sen khi làm việc cho Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc Theo họ, mục tiêu của sự phát triển là "tạo điều kiện mở rộng khả năng làm nhiều hơn, sống tốt hơn và lâu hơn, tránh được bệnh tật và nắm được chìa khoá của kho tàng tri thức của nhân loại". Do đó, quá trình phát triển trở thành "quá trình phát triển năng lực chứ không phải tối đa hoá những lợi ích vật chất hay hưởng thụ cuộc sống vật chất". Chính theo nghĩa này mà Amartya Sen khẳng định: "Phát triển như là tự do"
Từ đây, có thể nhận ra một tam giác vận động của lịch sử nhân loại: tự do - văn hoá - phát triển. Ba phạm trù này tương tác lẫn nhau, trong đó văn hoá là trục định hướng cho tự do và phát triển. Văn hoá đưa con người đến tự do và là động lực của phát triển. Tự do chân chính là tự do có văn hoá (theo nghĩa có ý thức trong quan hệ với cộng đồng) và phát triển bền vững cũng là phát triển có văn hoá (theo nghĩa hướng đến phát triển con người) . Tự do là nhận thức được cái tất yếu để tự quyết định, nghĩa là nó hướng đến cái chân. Phát triển kinh tế - xã hội là phát triển con người, nghĩa là nó hướng đến cái thiện. Cái mỹ - phạm trù còn lại thuộc về văn hoá và nó bao quát cả chân lẫn thiện. Như vậy, tam giác tự do - văn hoá - phát triển là sự hiện thực hoá của khát vọng chân - thiện - mỹ, tất cả quy tụ trong một tương lai của nhân loại mà C.Mác và Ph.Ăngghen diễn đạt là "chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị, : chủ nghĩa nhân đạo, với tính cách là chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị, = chủ nghĩa tự nhiên", Đó chính là chủ nghĩa cộng sản, cái mà hai ông đồng nhất với văn hoá hay sau này, được V.I.Lênin đồng nhất với văn hoá vô sản. Nguồn:
Tạp chí Triết học Số lượt đọc:
2342
-
Cập nhật lần cuối:
28/09/2007 03:58:45 PM Khoảng cách thế hệ: có đáng sợ?30/07/2010 02:13' PM Không phải bây giờ mới có vấn đề này. “Chứng cớ” là từ điển Oxford đã có nó từ lâu với định nghĩa rất khoa học: generation gap là sự khác biệt về thái độ giữa những người khác thế hệ. Trong đó, chữ “thái độ” được giải thích là sự suy nghĩ và cảm nhận như thế nào về một sự việc, một người nào đó. "Gameshow" công sở28/07/2010 10:14' AM Điều muôn thuở khiến dân văn phòng lo ngại là gì? Chắc không phải tai nạn lao động, vì nghề văn phòng là nghề an toàn nhất trên đời. Nhìn quanh một lúc, hóa ra chúng ta ngại nhau. Quan hệ đồng nghiệp từ trước đến giờ có những khía cạnh ngoại giao như lớp đường phủ trên chiếc bánh văn phòng. Còn nhân của nó, ăn vào mới biết mùi vị thực sự... Đông Kinh Nghĩa thục và những điều kiện Hiện đại hoá25/07/2010 01:42' PM Tự do này, độc lập này mà đồng bào ta vừa giành lại, chúng ta phải gìn giữ trong lĩnh vực tinh thần. Các dân tộc trường tồn chính là nhờ có thành tựu nghệ thuật và khoa học. Chúng ta cần dõng dạc và hào hùng tự khẳng định mình trong tư cách một dân tộc. Đó là lời dặn dò của cụ Nguyễn Hữu Cầu – suy ra cũng là những lời dặn dò Đông Kinh Nghĩa thục... Về lại quê nhà24/07/2010 07:50' AM Năm 2007, chuyện cô dâu Huỳnh Mai bị người chồng Hàn Quốc giết chết sau đám cưới hai tháng đã làm nhiều người phải kinh hoàng. Chỉ một ngày trước khi bị đánh đến chết với 18 cái xương sườn gãy, cô đã viết: “Em muốn về lại Việt Nam... về Việt Nam em sẽ làm lại từ đầu và đối xử tốt với ba mẹ em”. Về sách “Học làm người” của Nguyễn Hiến Lê23/07/2010 07:19' AM Đáp lại câu hỏi của một “hâm mộ”: “… nhờ đâu từ thuở “mồ côi cha” với đàn em gái bé bỏng, níu áo bà quả phụ trẻ sống lay lắt với bà con bên nội bên ngoại ở thị xã Phan Thiết; mà từ tuổi 12 đã có ý chí sắt đá tự lập miệt mài học tập để có thành công như ngày nay?" Một số tờ báo tiêu biểu từ khởi thuỷ đến năm 194517/07/2010 03:38' PM Cùng với sự phát triển của đất nước, báo chí Việt Nam cũng đã có những bước phát triển kỳ diệu. Đến nay, cả nước đã có 524 cơ quan báo chí với 650 ấn phẩm báo chí, 50 đơn vị báo điện tử và hơn 10.000 người được cấp thẻ nhà báo đang hoạt động. Xin giới thiệu một số tờ báo tiêu biểu từ khi báo Việt Nam mới bắt đầu hình thành đến năm 1945. Hội Ánh sáng – một hình thức nhân đạo, xã hội chủ nghĩa13/07/2010 02:39' PM Sống trong một xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến, cuộc sống người dân quê cam chịu tối tăm giữa bùn lầy, nước đọng bởi còn một lý do nữa là do thất học và nghèo đói mà phải vậy. Phát hiện ra điều đó cùng với việc châm biếm đả kích thói hư tật xấu, những cảnh bóc lột hà hiếp dân lành của bọn phong kiến thực dân. Tự lực văn đoàn đã có phát kiến là thành lập Hội ánh sáng để cải thiện nhận thức của người dân. Đây không chỉ là lý thuyết mà là việc làm thực tế. Chuyện đàn bà12/07/2010 08:58' AM Ngày xưa, đàn bà có nết là những kỹ nữ có tiếng tăm lừng lẫy. Thời ấy, kỹ nữ là vật phụ thuộc sống nhờ đàn ông, song đã trở thành kỹ nghệ cao cấp thông thạo cầm, kỳ, thi, họa, lại cũng là những người tự do nhất, sống bình đẳng với đàn ông, cho nên có nết nhất. Ngày nay, đương nhiên không cần phải hy sinh bản thân, không cần phải sống giữa bùn nhơ mà chẳng hôi tanh mùi bùn như bông sen, không cần phải qua vực thẳm máu và nước mắt. Đàn bà có khí chất, có phong độ mỗi ngày một đông... Bài khác: Đánh thức đất trong Tết nguyên đán01/01/1900 12:00' AM Nguyên đán là từ Hán – Việt. Như vậy từ “Tết” có tên gọi khi nước ta tiếp xúc với văn hóa Hán. Cái tên Tết mà các cụ xưa dùng để chỉ Tết Nguyên đán thì cũng là diễn nôm chữ “Nguyên”. Nguyên có nghĩa là bắt đầu, lớn, đứng đầu. Kinh Dịch cũng bắt đầu bằng quẻ Nguyên. Giao lưu văn hóa trong thời đại toàn cầu hóa22/08/2007 06:30' PM Giao lưu văn hóa là một quy luật của thời đại, là hiện tượng phổ biến của xã hội loài người. Nhờ GLVH đúng hướng mà các nước chậm phát triển có cơ hội trở thành nước phát triển. Trong mọi hoạt động văn hóa Ðảng và Nhà nước ta bao giờ cũng nêu cao định đề biện chứng : kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nguyên tắc kế toán và chính sách xã hội29/07/2007 09:47' AM Có người sẽ hỏi, chính sách xã hội liên quan gì đến các nguyên tắc kế toán? Nếu giả như không có các công cụ đo lường như cân, đồng hồ và thước để đo khối lượng, thời gian, độ dài..., thì đời sống xã hội sẽ ra sao? Chắc hẳn xã hội không văn minh nếu thiếu các công cụ đo lường vật lý ấy. Tính Sáng tạo liên quan với đa văn hóa và khoan dung?22/07/2007 06:01' PM Hơn kém nhau bây giờ là: dùng thông tin đó để sáng tạo ra cái gì có giá trị nhất và thiết kế ra sản phẩm mới có giá trị vượt trội so với hàng hóa thông thường. Bị cạnh tranh bởi các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ, Mỹ và các nước phát triển truy tìm và phát huy tối đa thế mạnh cốt lõi của họ đó là tính sáng tạo... Sách & văn hóa đọc trong đời sống hôm nay09/07/2007 10:36' AM Xuất phát từ vị trí, vai trò, tác dụng của sách báo và nhằm tôn vinh văn hoá đọc mà Tổ chức UNESCO trong phiên họp Đại hội đồng lần thứ 28 (1995) đã quyết định chọn ngày 23/4 hàng năm làm “Ngày Sách và bản quyền thế giới". Về môi trường văn hóa và môi trường văn hóa ở Việt Nam08/07/2007 07:18' AM Việc sử dụng lý thuyết môi trường văn hoá là một cách kiến giải mới, một phương án tư duy mới về những vấn đề quen thuộc. Tác giả đã sử dụng lượng thông tin rất phong phú để lý giải môi trường văn hoá Việt Nam từ các phương diện: tư tưởng - lý luận, kinh tế xã hội, đời sống tinh thần xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra kết luận rằng, nét chủ đạo của môi trường văn hoá Việt Nam hiện nay là tốt đẹp và lành mạnh... Phát triển xã hội tự quản05/07/2007 07:14' PM Trật tự xã hội, được coi là mục tiêu khách quan của pháp luật, được bảo đảm không chỉ bằng cách áp dụng pháp luật, mà còn có thể dựa vào các chuẩn mực khác. Chẳng hạn, cả mua vé và xếp hàng để mua vé nghe ca nhạc đều là những hành vi cần được thực hiện trong khuôn khổ trật tự xã hội. Nhưng mua vé là một giao tiếp được pháp luật ràng buộc; còn xếp hàng lại là một giao tiếp thuần tuý xã hội, chỉ chịu sự chi phối của những quy ước mặc nhiên hình thành trong cuộc sống dân sự... Văn hóa và hội nhập25/06/2007 07:10' AM Lúc bình tĩnh ngồi nghĩ, lại cảm thấy nhờ thế được nâng mình lên. Và quan trọng nhất, qua cái sự kiếm cơm của thiên hạ, tự nhận ra con người thực của mình.Với từng cá nhân cũng vậy mà với cả xã hội cũng vậy... |