Vừa qua, nhà giáo về hưu 71 tuổi Đỗ Văn Xuyền (sinh năm 1937), hiện đang sống tại Việt Trì, sau một thời gian để công nghiên cứu đã bước đầu công bố công trình hơn 50 năm trời nghiên cứu “Giải mã chữ Việt cổ” tại Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi Việt Nam. Để phản biện kết quả nghiên cứu của ông - một người ngoài ngành chungta.com tin rằng cần có một hội đồng chuyên gia đa ngành đánh giá và kết luận. Sơ bộ, đó là một thành quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc, phản ánh sự lao động kiên trì, giàu nghị lực của tác giả và thành quả là một đóng góp có giá trị giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cội nguồn lịch sử, văn hóa của dân tộc và có thể mở ra "cửa sổ mới" hết sức thú vị để chúng ta hiểu được các thư tịch cổ.
Ông Xuyền đã từng làm hiệu trưởng trường cấp II đầu tiên của khu công nghiệp Việt Trì. Ngày ấy Việt Trì còn giữ được dáng vẻ nguyên sơ của một vùng đất cổ, kinh đô Văn Lang với những: Lầu Thượng, Lầu Hạ, Kẻ Lư, Thậm Thình, Mã Quàng... Khi học sinh trường đi lao động còn gánh về những Dao, Mác, Trống đồng, minh khí, nhặt được ông đã nghĩ nơi đây là một công trường chế tác đồ đá mới. Từ đó ông bắt đầu công việc tìm lại dấu vết của người Việt cổ.
-- Xem thêm: Thời Hùng Vương là thời nào?
 |
| Thiên cổ Miếu, thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP Việt Trì, nơi thờ hai vợ chồng thày giáo Vũ Thê Lang, thời vua Hùng. |
Sau nhiều năm nghiên cứu các Ngọc phả tại các đền thờ khác nhau rải rác khắp vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, ông đã tìm ra 18 nơi thờ các thầy giáo, học trò từ thời An Dương Vương, Hùng Vương. Từ đó ông đưa ra một giả thiết ban đầu của mình là trước năm 186 công nguyên là năm chữ Hán được đưa vào Việt Nam thì dân tộc ta đã có chữ viết riêng - chữ Việt cổ, chữ viết đó được các thầy giáo thời Hùng Vương sử dụng.
-- Xem thêm: Thầy giáo và học trò thời Hùng Vương
Giả thiết này hoàn toàn khác với điều đa số người Việt hiện nay vẫn cho rằng là trước khi bị Tàu đô hộ, nước Văn Lang (tức nước Việt) không có chữ viết riêng mà chỉ đến khi người Tàu qua xâm chiếm thì người Việt mới bắt đầu dùng chữ Hán để viết.
Qua nghiên cứu các thư viện và tìm đọc các thư tịch trong, ngoài nước của nhiều nhà nghiên cứu tiền bối đã đi sâu vào vấn đề này: Từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: Từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... ông đều gặp may bởi họ đã khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng.
-- Xem thêm: Giả thuyết chữ Việt cổ đầu tiên là khi nào và chữ Việt cổ còn lưu lại ở những đâu?
 |
| Bản đồ ông Xuyền ghi dấu những đền thờ thầy giáo, học sinh thời vua Hùng đến Hai Bà Trưng |
Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu.
Về việc này, sách Thông Giám Cương Mục do Chu Hy đời Tống viết: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ IV (2352 trước Công nguyên) có Nam Di Việt Thường thị đến chầu, hiến con rùa lớn”.
Sách Thông Chí của Trịnh Tiểu cũng đời Tống nói rõ hơn: “Đời Đào Đường, Nam Di Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa ước được ngàn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ Khoa Đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch”.
Một lần trên đường đi tìm kiếm ông đã dừng chân bên ngôi miếu nhỏ của một xóm núi, đọc được một bản Ngọc Phả thời Trần Thái Tông với những dòng chữ vang vọng tự hào: "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần quy, Bối hữu khoa dấu".
Như vậy thời Hùng Vương, dân tộc ta đã có chữ viết với tên gọi Khoa Đẩu, đó là điều có thể khẳng định chắc chắn.
Chữ Việt cổ của cha ông
 |
| Đây là loại chữ ông Xuyền cho là chữ Việt cổ |
Nhưng thứ chữ đó hình dạng ra sao? Cấu trúc thế nào? Ông luôn sẵn sàng lao vào tìm kiếm dù cho thiếu thốn, bệnh tật và đã có tuổi.
Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15, cuộc đốt phá hết thư khố quốc gia và thư khố của các bộ (sau cuộc tấn công vào đồn Mang Cá) của Pháp năm 1875, liệu có còn sót lại những gì?
 |
|
Chữ Việt Cổ trên trống đồng Lũng Cú |
 |
| Trên bốn chiếc qua đồng Đông Sơn có chạm khắc 28 ký tự. Đó là những ký tự Việt cổ mà cho đến nay chưa giải mã được |
Ông đã tìm đến những nơi đồn là có chữ Việt cổ. Nhưng đôi khi thất vọng: Chữ khắc trên viên gạch ở Hoàng thành Thăng Long chỉ là chữ Chăm và những trang sách trên lá buông ở đỉnh Trường Sơn và ở Thư viện Nghệ An chỉ là chữ Lào cổ. Nhưng ông vẫn tin vào sự cất giấu lưu giữ của tổ tiên về chữ Việt cổ (như khi đi tìm dấu vết của các thầy giáo thời trước Hán).
Ông Xuyền đến Sa Pa, trên tảng đá vùng Hầu Thảo, sau khi cạo lớp rêu phủ đã tìm được những chữ giống như chữ cái của Vương Duy Trinh, Hiệp biện Đại học sỹ, Tổng đốc Thanh Hóa. Trong cuốn Thanh Hóa quan phong viết năm 1903, Vương Duy Trinh đã giới thiệu một số chữ lạ sưu tập được, khẳng định đó là chữ Việt cổ từ thời Hùng Vương, và đưa ra nhận xét: “Vì Thập Châu là nơi biên viễn nên dân ta còn lưu giữ thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp bắt bỏ hết để học chữ Trung Quốc”.
 |
|
Chữ cổ trên bãi đá cổ Sapa |
 |
|
Phải chăng đây là chữ Việt cổ (trích Thanh hóa Quan Phong) |
Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố công trình nghiên cứu “Về một nền văn tự trước Hán và khác Hán”, Giáo sư Lê Trọng Khánh thì khẳng định “Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa Đẩu thời tiền sử để ghi tiếng dân tộc mình”.
Nhớ tới câu nói của Vương Duy Trinh: "Vì thập Châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy", ông hướng tìm tòi lên vùng Tây Bắc, Việt Bắc, vùng khu 4 cũ, rồi lăn lộn lên cả Đông và Tây dãy Trường Sơn để tìm theo dấu vết.
Để đi được dài ngày và đi xa, với số tiền lương hưu ít ỏi, ông đã phải tính đến việc ăn ngủ giản tiện nhất, đó là: một chiếc võng bạt, một bi đông đựng nước, một ít bánh mì sấy khô và dăm gói mì tôm. Thế là ông "cầm cự" được hàng chục ngày để đi đến các vùng sâu vùng xa, quyết tìm cho ra chữ Việt cổ.
Trong các tài liệu sưu tầm được, ông đặc biệt chú ý đến một bộ chữ lạ. Rất tiếc là những trang sách này đã bị nguỵ trang và khoá mã, mặc dù vậy nó đã tồn tại hàng mấy trăm năm mà không ai chú ý tới. Linh cảm mách bảo, ông đã thức nhiều đêm trắng để mày mò giải mã. Kiến thức tổng hợp và vốn ngoại ngữ đã giúp ông rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu chữ Việt cổ. Kết quả, ông đã khu biệt được loại ký tự này với các loại văn tự xung quanh, tìm ra được hình dạng, chức năng của từng chữ cái và cách cấu trúc của một loại ký tự mà người ta đã nhầm là chữ Mường, chữ Thái...
 |
| Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi cả nước khởi nghĩa giành độc lập, mùa xuân năm 40, được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ |
 |
| Câu thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ |
Qua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ người Việt cổ HauĐricourt, ông khẳng định được bộ ký tự này có từ trước công nguyên (loại ký tự bắt nguồn từ chữ Khoa đầu tượng hình chuyển sang chữ cái có ghép vần). Căn cứ vào ý kiến của giáo sư Lê Trọng Khanh: "Các dân tộc Bách Việt dùng thứ chữ này".
Khi đã đọc thông viết thạo chữ Việt cổ, ông lại tìm đến các vùng người Thái, người Mường. Loại văn tự này có thể ghi được tiếng Thái, tiếng Mường nhưng không đầy đủ. Ông lại tìm đến các vùng quê Thái Bình, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thanh Nghệ Tĩnh... để lắng nghe những người già phát âm.
Thứ ký tự này đã giúp ông ghi lại đầy đủ giọng nói, âm vực của họ, giúp ông giải thích được tiếng nói khác nhau của từng vùng - gần như nó đã ghi lại nguyên tiếng nói người Việt cổ. Nó đã giúp ông giải thích được nhiều vấn đề còn thắc mắc. Ví dụ: Vì sao trong tờ Le Paria và tờ L'Humanité từ những năm 20 của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chữ Nguyễn Ái Quốc được viết là Nguyễn ái Quấc. Và trong cuốn sách sổ sáng của Filíp Bỉnh viết ở Bồ Đào Nha năm 1822, chữ huyên được viết là huên, chữ dòng được viết là dào.
 |
| So sánh chữ Việt cổ với ngôn ngữ các nước quanh ta |
 |
| Một số bài thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ |
-- Xem thêm: Ông Xuyền đã giải mã hình dạng chữ Việt cổ như thế nào?
Cũng như vậy ông có thể chứng minh được một nền văn tự có trước Hán và khác Hán, của giáo sư Hà Văn Tấn qua việc giải thích sự tồn ghi trong cuộc khai quật của bà Cô La Ni ở Lam Giận Hoà Bình năm 1923. Tháng 9/2004, giáo sư Hà Văn Tấn đã mời ông về Hà Nội nghe ông kể lại quá trình đi tìm chữ Việt cổ và khi được ông tặng bản Hịch của Hai Bà Trưng đã chuyển sang chữ Việt cổ, giáo sư đã cảm động nghẹn ngào: "Vấn đề lớn lắm. Chúng ta phải sớm báo cáo lên nhà nước".
Dịp hè năm nay, nghe tin tỉnh Sơn La tìm được hàng nghìn cuốn sách cổ có chữ lạ. Ông cầm vài tờ photo lên, đọc mà nước mắt ràn rụa. Như vậy điều dự đoán của các nhà khoa học trước đây đã được chứng minh: Thứ ký tự đặc biệt để ghi âm tiếng nói của người Việt cổ (thứ chữ dân tộc ta đã có từ thì đại Hùng Vương) đã được các dân tộc sử dụng chung và còn được lưu giữ bảo tồn ở vùng Tây Bắc cho đến ngày nay.
Chữ Việt cổ có liên hệ gì với chữ Quốc Ngữ?!
Chữ Quốc ngữ xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ 17. Nhiều cuốn sách cổ được in từ buổi đầu chữ Quốc ngữ xuất hiện, đến nay hầu như không ai đọc được.
Khi đem bộ chữ Việt cổ đã được giải mã thử đọc một số cuốn sách cổ, như cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La” (1651) của Alexandre de Rhodes, hay cuốn “Sách sổ sang” của Philip Bỉnh (Giám mục người Việt, ở Thủ đô Bồ Đào Nha những năm 1790-1820), thầy giáo Xuyền đã rất thú vị khi dễ dàng đọc được những từ khó mà lâu nay nhiều người không đọc cũng không giải thích được.
Chính từ việc này, thầy Xuyền đã đưa ra một giả thuyết: Chữ Quốc ngữ có lẽ không phải là một công trình hoàn toàn mới của Alexandre de Rhodes.
 |
| Những trang viết trong cuốn “song ngữ” La Tinh- Việt cổ do ông Xuyền biên soạn. |
Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ?!
Giả thuyết của thầy Xuyền không phải không có căn cứ. Bởi chữ Quốc ngữ và chữ Việt cổ do ông giải mã có cùng cấu trúc ghép vần tương tự nhau, chỉ khác nhau về hình dạng mà thôi!
Chính trong cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La”, Alexandre de Rhodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, nó đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo ông Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ!
.
.
.
Nguồn:
Tổng hợp Số lượt đọc:
1663
-
Cập nhật lần cuối:
10/07/2008 08:46:55 AM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
7 |
cần phục hưng dân tôc Việt của chúng ta Tôi thất sự xúc động trước những gì đã tìm ra, chữ viết, kinh dịch, và nhiếu thứ khác nữa. Chúng ta phải nhanh chóng hòan thiện để phổ biến cho mọi người vốn quý của dân tộc, một ngày nào đó tất cả chúng ta sẽ tự hào vì mình là người Việt, có như thế dân tộc chúng ta mới trường tồn và vững mạnh đi lên.
Chúng ta phải nhanh chân lên, đòan kết lại kẻo quá trễ! Một nền văn minh của dân tộc Việt đã bị mất! Tôi đang đi tìm các bài viết để nghiên cứu thêm về chữ khoa đẩu thì bắt gặp bài viết này. Cảm ơn tác giả đã bỏ rất nhiều thời giờ, công sức và tiền bạc để nghiên cứu về chữ viết của tổ tiên chúng ta.
Tôi đang tranh luận với 1 thầy giáo về nền văn minh dưới thời các vua Hùng nên muốn tìm các bài viết về chữ khoa đẩu để thấy rằng văn minh dưới thời vua Hùng giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc.
Vấn đề là ở chỗ người Hán âm mưu đồng hóa dân Việt mình, cho nên họ đã cấm người Việt học chữ khoa đẩu, là chữ viết riêng của dân Việt. Khi người Việt không đọc được chữ của mình thì lịch sử, văn học, văn minh của một dân tộc không còn nữa. Người Việt chúng ta đã bị biến thành dân mọi rợ ngu dốt, học chữ Hán để chúng dễ dàng biến dân Việt thành dân Hán.
Theo những nghiên cứu dựa vào chữ khoa đẩu dưới thời Lý thì lúc đó (thời Hùng Vương) bên đất Việt mình văn minh, võ học, tư tưởng, học thuật có phần hơn Trung Quốc. Về võ học, sử sách còn ghi Vạn Tín hầu Lý Thân thắng các cao thủ trong triều Tần Thủy Hòang, giúp xây Vạn Lý Trường Thành, đánh giặc Hung Nô.
Chúng ta có chữ khoa đẩu từ xưa ghi lại văn minh thời vua Hùng, văn minh thời Lĩnh Nam đều chép bằng loại chữ này. Đến thời Hai Bà Trưng, công chúa Phùng Vĩnh Hoa cũng đã tìm được 74.988 bộ sách đã được viết trong suốt các triều đại lịch sử trước kia. Kinh thì có các bộ Bách Tộc, Kinh Dương, Lạc Long... Những sách chép về y học, thiên văn học, lịch số học, cùng với hàng nghìn bộ sách lặt vặt rất nhiều. Có thể nói, lúc đó văn minh hai nước Trung-Việt ngang nhau.
Khi Mã Viện đánh thắng Hai Bà Trưng rồi chiếm lấy nước ta, Mã Viện đã ra lệnh thu hết sách vở chở về Lạc Dương, cấm học chữ khoa đẩu hoặc trong nhà người nào có sách bằng chữ khoa đẩu sẽ bị bắt để cho dân Việt chúng ta không còn biết nguồn gốc và xem chúng ta giống như các bộ tộc man di mọi rợ.
Cái thành công của tụi Hán là làm cho chúng ta tin mình như vậy. Vì những thư tịch cổ của mình bị mất nên tụi Tàu nó muốn chép láo lếu về dân Việt của mình như thế nào cũng được vì tụi nó nghĩ rằng không còn ai biết để mà sửa lại. Trong bộ Hậu Hán thư của Phạm Việp còn ghi rằng dân Việt lúc đó không biết lễ nghĩa và chính Sĩ Nhiếp là người đầu tiên dạy dân Việt học chữ Hán với lễ nghĩa. Thế mà ngày nay nhiều người Việt còn coi bộ sách này làm khuôn vàng, thước ngọc để tra cứu sử Việt.
Cũng may là đến thời nhà Lý vẫn còn công chúa Bình Dương con vua Lý Thái Tông và một số người vẫn còn biết chữ khoa đẩu để mà ghi chép lại, nếu không thì không biết đâu mà tìm.
Nếu chúng ta không có 1 nền văn minh tích tụ trước từ thời vua Hùng, người Việt không có nguồn gốc lịch sử, văn học hay võ thuật không thể tự nhiên tình cờ có Hai Bà Trưng cùng với 162 vị anh hùng nổi lên đánh những trận kinh thiên động địa như trận Trường An, Nam Hải, Hồ Động Đình, Tượng Quận... gắn liền với tên tuổi của các vị công chúa Hoàng Thiều Hoa, Thánh Thiên, Phật Nguyệt, Phùng Vĩnh Hoa làm cho tụi Hán phải chống cự vất vả. Những trận chiến kia vẫn còn vết tích để lại trên phần đất Lĩnh Nam của chúng ta mà tụi Tàu chiếm giữ đến ngày nay.
Chúng ta có cơ sở để tự hào về dân tộc chúng ta, tự hào về 4000 năm văn hiến. Thật đáng tự hào Đọc bài viết này tôi thật sự xúc động và tự hào. Chúng ta đã có một nền văn hiến riêng biệt.
Hi vọng các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu để đưa ra những kết luận chính xác rõ ràng. Thiết nghĩ mỗi người dân của Việt Nam ta cần biết thông tin này. Thật đáng tự hào làm sao! Thật khâm phục công sức của ông Dù kết quả của công trình này thế nào, thanh niên chúng tôi hết sức khâm phục ông vì sự say mê tìm tòi.
Chúng ta sẽ rất tự hào, văn hoá của chúng ta sẽ rẽ sang một hướng khác khi chúng ta có chữ viết riêng từ xa xưa, có nhiều nguồn gốc chung với các dân tộc khác người Hán. Tại sao một công trình nghiên cứu quan trọng như thế này lại được ít người biết đến? Tôi thật sự xúc động và cảm phục trước những đóng góp của Thầy giáo Xuyền đối với lịch sử nước nhà. Một công trình khoa học có tầm vóc Quốc gia như vậy mà chỉ được thực hiện bởi một con người đã là đáng khâm phục, nhưng cảm động hơn là nó được thực hiện từ một con người có tấm lòng vàng, với cái võng và chút bánh mình sấy khô.
Trong khi nhà nước đã và đang đổ hàng nghìn tỷ đồng cho các trường vụ viện mà chỉ có một vài công trình khoa học đáng kể, thì một Thầy giáo lại làm được điều kỳ diệu. Khó mà đánh giá hết được những kết quả to lớn mà công trình của Thầy Xuyền mang lại cho đất nước, thế nhưng ở Việt nam này, mấy người đã biết đến thầy?
Thật là buồn. Đáng vui và đáng buồn Vui là lại thêm một điều nữa về cội nguồn dân tộc mà ta có thể tự hào.
Buồn là một sự kiện lớn lao thế này lại ko dành được sự quan tâm nhiều của dư luận và xã hội. Sự kiện này chưa thấy lên báo, chưa thấy lên truyên hình, vì cả đất nước Việt Nam có bao nhiêu người biết đến và đọc được bài báo này. Trong khi đó, những câu chuyện về lịch sử Ai cập, kiến trúc châu Âu... lại được phát đi phát lại trên truyến hình.
Đáng buồn thay... như thế làm sao trách thế hệ trẻ chưa có sự quan tâm đúng mực đến lịch sử! Một tấm lòng đáng trân trọng Tôi đã đọc bài viết này với một sự say mê khó tả. Tôi cảm thấy xúc động. Chưa bàn đến tính chính xác từ các giả thuyết thầy giáo Xuyền đưa ra, chỉ riêng cái công sức mà ông thể hiện để đi tìm tiếng nói đã mất của tổ tiên đã là một cái gì đó cực kì đáng trân trọng. Thành quả khoa học phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện vật chất của bản thân người nghiên cứu. Nhưng vật chất chưa phải là tất cả. Khi có một tình yêu và lí tưởng lớn, người ta có thể làm nên những điều phi thường. Giá mà các nhà khoa học Việt Nam, nhất là các nhà khoa học trẻ có được phẩm chất này thì nền khoa học của chúng ta sẽ tiến xa!
Qua chungta.com, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Xuyền. Tại sao Bộ khoa học và công nghệ lại không có 1 giải thưởng thường niên dành cho những nghiên cứu xuất sắc của những người không chuyên? Một việc nên làm quá đi chứ.
Ý kiến của bạn: |  | | Ông Xuyền và những con chữ ông khảo cứu |
Thông tin liên quan: Sự “nổi loạn” đáng được đón nhận!11/09/2008 02:53' PM “Không thể hiểu nổi ngôn ngữ của giới trẻ 8X, 9X ngày nay, đi ăn chơi cùng nhau, đến khi cần thanh toán thì chúng gọi “Campuchia”, sử dụng thì toàn câu dạng bị động. Không chừng 10 năm nữa, ngôn ngữ tỏ tình sẽ thành... Anh yêu bởi em!”. Sự “nổi loạn” đáng được đón nhận!11/09/2008 02:53' PM “Không thể hiểu nổi ngôn ngữ của giới trẻ 8X, 9X ngày nay, đi ăn chơi cùng nhau, đến khi cần thanh toán thì chúng gọi “Campuchia”, sử dụng thì toàn câu dạng bị động. Không chừng 10 năm nữa, ngôn ngữ tỏ tình sẽ thành... Anh yêu bởi em!”. Ludwig Wittgenstein - Cha tinh thần của triết học phân tích11/08/2008 08:17' AM Ludwig Josef Johann Wittgenstein - nhà triết học người Áo sau đổi sang quốc tịch Anh, là một trong những triết gia đã để lại dấu ấn riêng trong thế kỷ XX, người đặt nền móng cho "bước ngoặt ngôn ngữ" trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại và giữ vai trò đặc biệt trong triết học phân tích và triết học ngôn ngữ... Bài khác: Tốc độ của sự đọc04/12/2007 11:14' AM Tốc độ đọc nhanh có khi thể hiện khả năng phi thường và cũng có lúc phơi bày sự phô trương vồ vập của độc giả... Thuật ngữ và cuộc sống16/02/2007 11:57' AM “Phong thủy” được xem là một môn khoa học của người Á Đông, phát khởi từ Trung Hoa đã hơn 3.000 năm. Muốn giải thích các môn khoa học của người Trung Hoa bằng phương pháp luận duy vật thì khó hơn lên trời... Văn viết khác văn nói01/01/1900 12:00' AM Khác với văn nói, văn viết mang tinh chất hành chính hoặc báo chỉ nên cách viết phải bảo đảm tính khúc chiết, trong sáng, mạch lạc, tiết kiệm ngôn từ mà giàu lượng thông tin. Ngôn ngữ có đóng khuôn tư duy không?01/01/1900 12:00' AM Thực ra cách chúng ta nói năng thế hiện về chúng ta nhiều điều. Tiếng địa phương hoặc trọng âm của chúng ta có thẻ chỉ ra chúng ta sinh trưởng ở đâu, trong khi vốn từ của chúng ta có thế gợi ra kiểu giáo dục chúng ta có trải qua. Nhưng nếu ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng - tiếng Anh, Tây Ban Nha, Quan Thoại, Việt... có chỉ ra được cách chúng ta tư duy, hoặc là hình thành ý tưởng chăng. Hình và ý trong tiếp cận hình tượng13/09/2006 04:34' PM Nếu hình ảnh ra đời thì sức khái quát của hình tượng rộng hơn. Nếu hình ảnh là kết quả của cảm nhận hình dạng, hình thể thì khả năng tạo liên tưởng và ấn tượng thị giác sẽ mạnh hơn. Nếu hình ảnh bắt nguồn từ thế giới tự nhiên thì chất lãng mạn và xúc cảm sẽ rất dồi dào… Cái lý của những thành ngữ “phi lý"30/08/2006 06:31' PM Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta dùng tiếng Việt một cách tự nhiên. Không mấy ai và không mấy khi phải băn khoăn về nghĩa lý của điều này điều khác. Tuy nhiên, đôi khi do nghề nghiệp hoặc rất tình cờ, chúng ta đề cập tới logic của những hiện tượng tiếng Việt... Phát kiến của Engen về sự hình thành tiếng nói của loài người và chiếc chìa khóa của việc dạy tiếng12/08/2006 06:18' PM Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đưa vào thành tựu của nhiều khoa học, với trí tuệ bác học, Engen đã miêu tả, lý giải, luận chứng được một cách đúng đắn nhất sự hình thành con người, một sinh vật xã hội khác về chất với tổ tiên của nó là loài vượn trong tác phẩm hết sức nổi tiếng: Vai trò của lao động trong quá trình vượn biến thành người... |