 | Thông tin liên quan: Chiếc bánh của Thượng đế24/07/2010 08:51' AM Trên đời có những điều không thể cố là đạt được. Chỉ có thể để tự nhiên làm công việc của mình. Chân lý đã không thể cố. Niềm tin cũng không. Tình yêu càng không bao giờ... Suy tưởng cùng Ông Nguyễn Trần Bạt về “Tự do”21/10/2009 11:20' AM Con người sinh ra có quyền Tự do. “Tự do” – hai tiếng ngọt ngào – đã khiến con người mất bao sức lực và cả máu để mong giành được nó và đâu đó đã tưởng giành được nó. Nhưng tiếc thay, “Tự do” đâu có phải là một thực thể để dễ dàng chiếm giữ! 150 năm "Bàn về tự do"18/10/2009 01:09' AM Bàn về tự do của J. S. Mill đã phần nào tạo nên lực đẩy cho bước tiến ấy, khi góp phần không nhỏ vào những chuyển biến xã hội mang sắc màu dân chủ ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở các nước Tây phương. Toàn bộ tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự do của con người đối với sự phát triển của toàn xã hội. Một xã hội thực sự tự do là một xã hội đảm bảo không gian cho tính đa dạng của ý kiến, hành vi, và lối sống. Nhận thức đầy đủ về tự do là nhân tố căn bản để mỗi người đạt được cho mình sự tự do thực sự. Từ đó, mỗi cá nhân sẽ tích cực tạo nên những giá trị tốt đẹp cho bản thân, cho cộng đồng, cho quốc gia, và cho cả thế giới. Tiếp tục phát triển tư tưởng của Cách mạng tháng Tám02/09/2009 08:47' AM Cách mạng Tháng Tám là bước nhảy vọt vĩ đại của tư tưởng phát triển, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Độc lập, tự do, hạnh phúc, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, đó là những chân lý có sức mạnh mãnh liệt phát huy và khơi dậy sức mạnh của một dân tộc bị nô dịch, áp bức, bị chiến tranh và nạn đói tàn phá. Chính những tư tưởng bất hủ này đã trở thành sức mạnh vật chất của cả một dân tộc, chắp cánh cho dân tộc Việt Nam làm nên những kỳ tích trong chiến đấu và dựng nước... Tương lai của Khai Sáng? (*)25/07/2009 08:00' AM Nguyên tắc của truyền thống Khai sáng là không xem người khác có “ít” lý tính hơn mình, rằng có thể phản bác nhau bằng lập luận chứ không được quy kết bản chất của người khác vào “trục ác”; để từ đó, phân biệt sự Khai sáng với lịch sử của nó và không xem Khai sáng là một công cuộc “nhất thành bất biến” hoặc có thể xoay ngược lại kim đồng hồ. Hành trình đi tìm tự do17/07/2009 12:00' AM Thế giới đã đi qua nhiều chặng đường phát triển, nhưng có thể nói, những thành tựu của khoa học công nghệ, khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn vẫn chỉ dành cho gần một phần ba nhân loại. Hai phần ba còn lại của nhân loại vẫn đang phải vật lộn với cuộc sống để tồn tại. Đó là những con người thiếu tự do, và vì thiếu tự do nên họ lâm vào tình trạng nghèo đói, lạc hậu và không phát triển được... Tự do sinh ra con người11/07/2009 09:24' AM Có nhiều cách lý giải về nguồn gốc hình thành con người, nói đúng hơn là quy luật hình thành các giá trị con người. Tôi cho rằng, con người được sinh ra bởi hai quy luật: quy luật tự nhiên và quy luật xã hội. Quy luật tự nhiên là quy luật sinh học, còn quy luật xã hội là quy luật của tự do. Không phải quy luật tự nhiên sinh ra con người thì đó đã là con người theo đúng nghĩa. Chính tự do sinh ra tất cả các quyền làm người, tự do hoàn thiện con người. Góp vốn tự do02/07/2009 03:22' PM Con người thường mặc nhiên thừa nhận không gian tự do bên trong và không gian tự do bên ngoài bản thân mình là rất trừu tượng, nhưng thực ra không phải vậy. Không gian tự do bên trong chính là đời sống tinh thần của mỗi con người. Còn không gian tự do bên ngoài phản ánh tự do của người dân đối với nhà cầm quyền, tự do của con người đối với nhau, và tự do trong sự tương tác giữa các lực lượng xã hội. Tự do và trách nhiệm cá nhân trong “Tồn tại và hư vô” của J. -P. Sartre.01/07/2009 09:05' AM “Tồn tại và hư vô” của J.-P.Sartre được công bố lần đầu tiên vào năm 1943 tại Paris. Đây là tác phẩm không chỉ đánh dấu cột mốc quan trọng trong dòng chảy của triết học hiện sinh, mà còn cho thấy rõ tư tưởng triết học hiện sinh độc đáo của J.-P.Sartre. Trong bài viết này, tác giả tập trung luận giải quan niệm của J. -P. Sartre về tự do với tư cách phương thức hiện hữu của tồn tại người và duy nhất phù hợp với tồn tại người trong mối quan hệ không thể tách rời với trách nhiệm - trách nhiệm đối với thế giới và đối với bản thân mình của con người. Cội nguồn cảm hứng là tự do29/06/2009 06:18' AM Tôi đọc những trang đầu tiên của cuốn “Cội nguồn cảm hứng” ở một quán cà phê trên đường Lò Đúc. Những thanh âm huyên náo của phố phường ngoài kia và những trang suy tưởng trong im lặng của ông Nguyễn Trần Bạt có cái gì đó hơi tương phản. Chủ nghĩa tự do: Quá trình phát triển và ảnh hưởng của nó đối với thế giới hiện đại25/06/2009 04:58' PM Chủ nghĩa tự do (CNTD) - hệ tư tưởng chính trị, triết học, đạo đức, là át chủ bài của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội (CNXH). CNTD tuyệt đối hóa tự do cá nhân, phủ nhận vai trò của cộng đồng xã hội và sự can thiệp của nhà nước, do đó là hệ tư tưởng đối lập với chủ nghĩa xã hội. CNTD tuy có vai trò tích cực nhất định trong sự phát triển kinh tế, xã hội ở các nước tư bản, nhưng những hậu quả tiêu cực của nó cũng không nhỏ. Đọc lại Mác về báo chí tự do20/06/2009 08:00' AM Báo chí nói chung là sự thực hiện tự do của con người. Do đó ở đâu có báo chí ở đó có tự do báo chí. Bản chất của báo chí tự do – đó là bản chất dũng cảm, có lý tính, có đạo đức của tự do. (Các Mác) Khái niệm tự do19/06/2009 06:39' AM Từ xưa đến nay, tự do luôn là một khái niệm bí ẩn và trừu tượng đối với con người. Đúng như tên gọi, tự do không chịu khuôn mình vào bất kỳ chiếc khung nào, ngay cả trong những nỗ lực của các nhà triết học, các nhà khoa học ở mọi thời đại nhằm mô tả và lý giải khái niệm tự do. Có lẽ vì thế, cho đến nay, tự do là cái gì đó quen thuộc mà vẫn xa lạ đối với con người... Sự tha hoá của cái Tôi22/11/2008 11:19' AM Ở một bộ phận lớn của thế giới là khu vực chậm phát triển, hiện tượng cái Tôi tha hóa xảy ra rất phổ biến. Vậy có mối liên quan nào giữa sự tha hóa này với trạng thiếu tự do không? Theo quan điểm của tôi, chính sự thiếu tự do đã khiến cho đời sống tinh thần của con người trở nên mất cân bằng và do đó tạo ra sự tha hóa của cái Tôi... Một không gian tự do cho sự phát triển của cá nhân02/09/2008 02:00' PM Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập bằng lời bất hủ : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Suốt hơn nửa thế kỷ qua mọi người chúng ta đều chân thành xúc động khi đọc những lời hào hùng này... |
"Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do" - Hồ Chí Minh -
Tự do không phải là thuật ngữ xa lạ, càng không phải một phát hiện bởi nó gắn liền với con người như một công cụ để tồn tại, để sống và để phát triển. Tuy nhiên, đối với con người, tự do vẫn phần nào bí ẩn; chúng ta, dường như, chưa nhận thức trọn vẹn về nó, càng chưa biết khai thác và sử dụng nó như một công nghệ phát triển.
Thời kỳ Khai sáng đã đánh dấu một bước ngoặt không chỉ trong lịch sử mà còn trong nhận thức của con người. Các học giả của thời kỳ ấy không phải những người đầu tiên bàn về tự do nhưng họ là những người có công rất lớn trong việc xây dựng những nhận thức mới về tự do và thức tỉnh nhân loại về các giá trị của nó. Phương Tây đã đón nhận những đóng góp ấy và là những người đầu tiên được nếm vị ngọt của tự do và hưởng thụ những thành quả của nó.
Tuy nhiên, ở một số vùng kém phát triển, con người vẫn mơ hồ trước tự do và dừng lại ở việc nhận thức nó như một công cụ thỏa mãn các đòi hỏi mang tính bản năng. Vậy đâu là căn nguyên của hiện tượng này và phải chăng, có mối liên hệ giữa tình trạng kém phát triển với trạng thái thiếu hoặc không có tự do? Bài viết “Biện chứng của tự do” sẽ góp phần trả lời câu hỏi ấy.
TỰ DO NHƯ MỘT PHẠM TRÙ TRIẾT HỌC
Những quan niệm về tự do
Ngược dòng lịch sử, có thể thấy các học giả phương Tây đã sớm đưa ra một số định nghĩa về tự do. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra hai cách hiểu về tự do phổ biến nhất của Locke và Hegel.
Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào (Locke)
Đây là định nghĩa nguyên thủy nhất về tự do và cũng từng được khá nhiều người tán đồng. Tuy nhiên, định nghĩa này có những hạn chế nhất định, thể hiện ở chỗ nếu tự do chỉ thuần túy là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào thì sẽ có rất nhiều người nhân danh tự do để thỏa mãn những mong muốn hay tham vọng cá nhân của mình, phá hoại trật tự xã hội, và do đó, làm phương hại đến sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng.
Tự do là cái tất yếu được nhận thức (Hegel)
Nhận thức được sự hạn chế của định nghĩa về tự do của Locke, Hegel đã xây dựng một định nghĩa mới về tự do. Đó là, tự do là cái tất yếu được nhận thức. Câu hỏi đặt ra là, vậy cái tất yếu là gì? Ở đây, cái tất yếu được hiểu là các quy luật tự nhiên. Do vậy, có thể viết lại định nghĩa về tự do của Hegel như sau: tự do là các quy luật tự nhiên được nhận thức. Hegel cho rằng con người càng nhận thức một cách chính xác, rõ ràng và toàn diện về cái tất yếu bao nhiêu thì càng có tự do bấy nhiêu.
Định nghĩa này đã phát triển hơn một bước so với định nghĩa của Locke, tức đã đưa tự do từ một trạng thái bản năng đến tự do trong mối tương quan với cái tất yếu. Như vậy, ranh giới của trạng thái tự do và trạng thái không có tự do chính là cột mốc nhận thức được cái tất yếu. Nhận thức được cái tất yếu, con người sẽ không nhân danh tự do để thực hiện những hành vi kìm hãm sự phát triển của bản thân anh ta và cả cộng đồng. Chính lúc ấy, tự do sẽ là điều kiện tinh thần giúp con người tiếp cận với sự phát triển thực thụ và toàn diện.
Trong khi ở phương Tây, các học giả bàn về tự do một cách sôi nổi và đầy cảm hứng thì ở phương Đông, tự do chưa phải là một khái niệm hoàn chỉnh mà mới chỉ được hiểu theo nghĩa tự do bản năng, hay như cái cho phép, hệ quả là, cái gì không cho phép nghĩa là không tự do. Chẳng hạn, giải thoát là một trong những phạm trù triết học tôn giáp Ấn Độ để chỉ trạng thái tinh thần, tâm lý, đạo đức của con người thoát ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ ải của cuộc đời. Có thể nói, triết học Ấn Độ chỉ xoay quanh giải thoát con người trong đời sống tinh thần (gần như tiệm cận trạng thái siêu thoát) thay vì đưa ra các tư tưởng phát triển con người bằng cách giải phóng con người khỏi những ràng buộc. Triết học Trung Hoa cổ đại từng đề xướng tư tưởng “vô vị” nghĩa là tự do tuyệt đối không bị ràng buộc bởi bất cứ ý tưởng dục vọng, đam mê, ham muốn nào; tức sống, tồn tại theo bản tính tự nhiên, không cần sự tham gia có tính chất xã hội.
Tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi
Tự do được hiểu một cách rất khác nhau giữa các dân tộc và thậm chí, giữa các thành viên của dân tộc. Thực ra, người ta chỉ nhận ra giá trị của tự do khi đã bị mất tự do, hay nói cách khác, người ta chỉ cảm thấy giá trị của tự do khi vướng phải những giới hạn của nó bởi chính những giới hạn ấy sẽ đánh thức con người, giúp con người thoát ra khỏi trạng thái thụ động đón nhận một phần của tự do như sự nhân nhượng của bề trên đối với kẻ dưới. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, tự do không phải là một loại quyền được trao tặng bởi bất kỳ thể chế nào mà nó là bản chất tự nhiên của con người, tức là nó gắn liền với con người ngay từ khi sinh ra. Có thể nói, tự do là không gian sống của mỗi cá nhân, ai cũng có thể khai thác không gian ấy, thậm chí mở rộng nó, nếu hiểu được bản chất và giá trị của tự do.
Tuy nhiên, trước khi bàn về phép biện chứng của tự do, chúng ta cần phải xây dựng một định nghĩa về tự do. Chúng tôi cho rằng, tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi, hệ quả là, bất cứ xã hội nào cho phép sự dịch chuyển song song này diễn ra một cách thuận lợi trong một trật tự hài hòa và cân đối, xã hội ấy sẽ đạt tới trạng thái tự do. Phép biện chứng của tự do cần phải góp phần vào việc thay đổi nhận thức của con người về tự do, trên cơ sở ấy hỗ trợ quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi ở mỗi cá nhân cũng như cả cộng động. Đó chính là tiền đề của sự phát triển.
TỰ DO VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
Tự do là một khái niệm phức tạp, đa chiều và gồm có nhiều thành tố. Nó không phải là một cảm giác mặc dù nếu thiếu cảm giác về tự do thì cũng không thể tạo thành khái niệm tự do. Điều quan trọng nhất là khi nghiên cứu tự do là chúng ta phải phân tích các thành tố tạo thành khái niệm tự do, vị trí và ảnh hưởng của từng thành tố đối với đời sống. Trên cơ sở đó, con người sẽ nhận thức được mình nên chuyển nhượng bộ phận nào của tự do, chuyển nhượng cho ai và vào thời điểm nào để phần tự do mình cống hiến không trở nên vô nghĩa.
Tự do là một trong những điều kiện ban đầu để hình thành hạnh phúc. Đồng thời, nó là nguyên liệu đầu vào của đời sống con người, hạnh phúc chính là kết quả của việc chuyển hóa tự do thành những sức mạnh nhất định và toàn bộ quá trình chuyển hóa chính là tiến trình phát triển. Vì vậy, có thể nói, phân tích tự do, hạnh phúc và quá trình phát triển chính là phân tích quá trình vận động của tự do.
Điều quan trọng nhất là, trên cơ sở các phân tích về tự do, chúng ta cần phải xác lập ranh giới giữa các loại đối tượng, đó là loại đối tượng có năng lực sử dụng và khai thác tự do và loại đối tượng không có năng lực khai thác và sử dụng tự do, bởi tự do chỉ dành cho những người có trình độ nhận thức nhất định. Mặc dù tự do là sở hữu tự nhiên của con người, nhưng không phải tất cả mọi người đều có năng lực và xứng đáng được khai thác thứ tài sản vô giá ấy. Xác lập ranh giới giữa những loại đối tượng khác nhau sẽ giảm bớt những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xây dựng tự do như một công nghệ phát triển. Chỉ có như thế, tự do mới trở thành điểm xuất phát của mọi quá trình phát triển cả về mặt nhận thức lẫn hành vi.
Mối quan hệ giữa các thành tố của tự do
Có thể hiểu, tự do gồm có hai thành tố quan trọng nhất là tự do nhận thức và tự do hành động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Vậy, đâu là mối liên hệ giữa hai thành tố này?
Tôi cho rằng tự do nhận thức là nền tảng để con người đi tới tự do hành động. Không có tự do nhận thức tức là không có tự do tinh thần, con người sẽ không thể có tự do hành động bởi luôn vấp phải các rào cản về mặt nhận thức, và do đó, con người sẽ cảm thấy bị hạn chế, bị mất tự do ngay từ trong ý nghĩ chứ không chỉ trong hành vi của mình. Điều này hoàn toàn trái ngược với tinh thần về tự do mà chúng tôi đã đưa ra trong phần trên, đó là tự do là sự dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi. Phải hiểu rằng, tự do nhận thức sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển và dịch chuyển của ý nghĩ, trong khi đó, tự do hành động sẽ tạo điều kiện cho sự dịch chuyển của hành vi song song và tương ứng với sự dịch chuyển của ý nghĩ.
Mặt khác, tự do nhận thức chính là điều kiện tiên quyết để xây dựng các mô-đun nhận thức, biến không gian nhận thức của mỗi cá nhân và cộng đồng thành một vườn ươm các mô-đun tư duy của con người. Khu vườn đó chỉ đa dạng và phong phú chừng nào tự do hạnh phúc được công nhận như một trong những nguyên lý căn bản nhất. Sự phong phú và đa dạng về mặt nhận thức sẽ dẫn tới sự phong phú và đa dạng của hành động. Điều này sẽ tạo ra không gian đa chiều trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa - điều kiện cần và đủ để mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi nhà nước, mỗi thể chế duy trì và phát triển sự đúng đắn của mình. Mặt khác, đến lượt mình, tự do hành động lại tạo điều kiện cho việc mở rộng không gian nhận thức của mỗi cá nhân và cộng đồng, bởi thông qua tự do hành động, con người sẽ có điều kiện làm phong phú kinh nghiệm sống, kinh nghiệm văn hóa của mình, và do đó, có thể xúc tiến những cái mới về nhận thức và tự điều chỉnh nhận thức của mình. Đây chính là mối liên hệ hữu cơ giữa hai thành tố cơ bản nhất của tự do.
Mối quan hệ giữa tự do và phát triển
Chúng ta đã trăn trở rất nhiều trước vấn đề tại sao trong lịch sử cận đại và hiện đại phương Đông lại chậm phát triển hơn phương Tây. Để trả lời cho câu hỏi ấy, chúng ta đã tốn rất nhiều công sức và nhiệt huyết mà vẫn chưa tìm ra lời giải thích xác đáng. Phần lớn tài nguyên của nhân loại nằm ở phương Đông, nhưng phương Tây là cả chiến thắng trong hầu hết các cuộc chạy đua đến sự phát triển. Trong khi đó, ngụy biện với chính mình, phương Đông đắm chìm và tự cổ vũ mình trong những giá trị Châu Á đến khi nhận ra những giá trị ấy cũng chỉ là một dạng tài nguyên chứ không thể và không phải là sự phát triển thực. Vậy đâu là căn nguyên và lời giải của hiện tượng này?
Các phân tích về tự do cho thấy rằng chính sự thiếu tự do ở phương Đông là nguyên nhân sâu xa nhất gây nên tình trạng chậm phát triển, và do đó, nhận thức lại tự do, ý nghĩa và vai trò của nó đối với đời sống cũng như công nhận tự do như quyền và sở hữu tự nhiên của con người chính là giải pháp triệt để để phương Đông tiếp cận sự phát triển.
Chúng tôi tán đồng luận điểm của Amartya Sen, một trong những nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, khi ông cho rằng “Phát triển như là tự do”. Sở dĩ có thể nói như vậy là bởi cấu trúc tự do, nói chung, gồm có tự do kinh tế, tự do chính trị và tự do tinh thần. Tự do kinh tế chính là nguyên khí của nền kinh tế thị trường - giải pháp duy nhất để phát triển kinh tế. Tự do chính trị chính là điều kiện tiên quyết để xây dựng một nhà nước dân chủ - phương thức quản lý ưu việt cho phép phát triển con người một cách toàn diện. Tự do tinh thần, tức không lệ thuộc vào nhận thức của người khác, chính là nguyên khí của khoa học nhận thức, nó chính là yếu tố quan trọng nhất tạo ra sự sáng tạo và sự đa dạng của khoa học nhận thức, tức sự đa dạng về mặt tinh thần.
Mối quan hệ giữa tự do và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cũng là một khía cạnh quan trọng trong các phân tích về tự do. Cần lưu ý rằng trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ thể hiện ở sự hiện đại của tư liệu sản xuất mà quan trọng hơn là ở sự tiến bộ của nhận thức. Tự do đánh thức các năng lực phát triển, đó là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, sự phát triển của trình độ lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò đáng kể vào việc mở rộng không gian tự do của con người. Nói cách khác, lực lượng sản xuất phát triển đến đâu thì không gian tự do sẽ mở rộng đến đó, và do đó, có thể kết luận giữa hai cặp phạm trù này luôn có một sự dịch chuyển song song và tương ứng.
Phải khẳng định rằng tự do bao giờ cũng là điểm xuất phát của sự phát triển và không thể có sự phát triển nào đi trước tự do. Sự phân biệt rành mạch hai khái niệm tự do và bản lĩnh tự do sẽ giúp nhà cầm quyền nhận ra nỗi sợ về sự mất ổn định do sự thiếu kinh nghiệm tự do của người dân tạo ra là một nỗi sợ hoàn toàn vô lý bởi kinh nghiệm tự do, hay bản lĩnh tự do chỉ hình thành khi người dân có tự do và có quyền sử dụng và khai thác nó trong đời sống của mình. Đó cũng chính là một trong những ý nghĩa căn bản của các phân tích về tự do.
Bên cạnh đó, tự do còn là hạt nhân của mọi cuộc cải cách, trong đó có bốn cuộc cải cách quan trọng nhất, đó là cải cách chính trị, cải cách kinh tế, cải cách văn hóa và cải cách giáo dục. Tự do kinh tế đi trước để con người nếm được các thành quả sự phát triển. Chừng nào cảm nhận được vị ngọt, tức các thành quả thu được từ tự do kinh tế, con người sẽ nhận thức được giá trị của tự do chính trị. Tự do chính trị chính là nhu cầu đòi hỏi thể chế khẳng định các quyền tự do. Tuy nhiên, con người còn là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nói cách khác, con người chính là sản phẩm của văn hóa. Do vậy, nếu không có tự do văn hóa, con người sẽ không thể ra khỏi quá khứ và không tìm được yếu tố bảo trợ tinh thần cho tự do kinh tế và tự do chính trị. Mặt khác, thiếu yếu tố bảo trợ tinh thần là tự do văn hóa, tự do kinh tế và tự chính trị sẽ tạo ra trạng thái phát triển không ổn định vì luôn bị níu kéo bởi sự lạc hậu về mặt văn hóa. Cải cách giáo dục là tiền đề của việc xây dựng một lực lượng tiên tiến hùng hậu của xã hội, đủ năng lực để duy trì và nâng cao chất lượng của sự phát triển. Tựu trung lại, bốn cuộc cải cách này với hạt nhân là tự do đều nhằm tiếp cận trạng thái phát triển bền vững. Phát triển bền vững không thuần túy là sự phát triển ổn định và liên tục mà còn là sự ổn định của các nguồn phát triển. Nếu cải cách kinh tế tạo ra được sức mạnh hữu hình của sự phát triển thì tự do về chính trị và tự do về văn hóa sẽ tạo ra tính ổn định của các nguồn của sự phát triển, hay nói cách khác chính là tạo ra phạm trù phát triển bền vững. Đó chính là một trong những điểm mấu chốt quan hệ giữa tự do và phát triển.
Mối quan hệ giữa tự do và dân chủ
Ở phương Tây, người ta cho rằng, tự do là một quyền tự nhiên, là không gian vốn có của mỗi con người, và do đó, Nhà nước dân chủ là kết quả của sự nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ để nhà nước có vốn liếng điều hành xã hội. Từ đó, có thể khẳng định, sự tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân cho chính phủ như một hình thức góp vốn chính là bản chất khế ước xã hội. Điều hành đất nước bằng pháp luật, hay các khế ước xã hội chính là điểm ưu việt của phương thức quản lý theo mô hình dân chủ.
Russeau viết “Với khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do thiên nhiên và hạn chế cái quyền được làm những điều muốn làm mà làm được; nhưng mặt khác, con người thu lại quyền tự do dân sự và quyền sở hữu những cái mà anh ta có”. Cũng trong phần này, ông viết “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ, mà tuân theo các quy tắc mà mình đặt ra là tự do”. Như vậy, bản chất của tự do là gì và đâu là giá trị cao quý của nó? Có thể khẳng định ngay rằng, bản chất của tự do chính là việc tuân theo các quy tắc của nhận thức của mình chứ không lệ thuộc vào nhận thức của người khác. Do đó, giá trị cao quý của tự do chính là đảm bảo và trao trả một cách nguyên vẹn không gian sống của con người và tạo điều kiện cho hành vi của mỗi con người phản ánh một cách trung thực gương mặt của nhận thức của mình. Câu hỏi được đặt ra: Hình thái nhà nước nào đảm bảo được tính ổn định hay giá trị bền vững của tự do công dân? Lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng chế độ chính trị tiên tiến có thể đảm bảo quyền tự do công dân chính là chế độ dân chủ. Khi bàn đến tự do, người ta mới nói dân chủ là tất yếu, tức là xã hội không thể tiếp tục duy trì tình trạng độc tài.
Nền dân chủ được hình thành trên cơ sở các quyền tự do được thể chế hóa, nói cách khác, tự do chính là nguyên liệu quan trọng nhất để xây dựng nền dân chủ. Có thể nói, sở dĩ nền dân chủ ngày càng phát triển và chứng minh vai trò của nó trong việc xúc tiến sự phát triển và tiến bộ xã hội là bởi nó đã nhận thức đúng đắn về tự do thể hiện ở việc xây dựng các khế ước xã hội. Khế ước xã hội không phải là những mệnh lệnh mà là những thỏa thuận của con người trên cơ sở nhận thức về tự do và tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân để xác lập trạng thái phát triển hài hòa và cân đối.
Trên cơ sở đó, cần phải đi đến nhận thức rằng, không có một môi trường nào có thể hỗ trợ sự phát triển của con người tích cực bằng một môi trường đảm bảo tự do cá nhân thông qua sự tự nguyện nhượng bớt một phần tự do cá nhân, tức một nhà nước dân chủ.
Một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa tự do và dân chủ là, tự do là thứ tài sản tự nhiên vô giá nhất của con người và xã hội được cấu thành từ sự góp vốn của con người, ở đây, vốn được hiểu là một phần tự do cá nhân. Vì vậy, bản chất của nhà nước là một khế ước, mà ở đó, con người tự nguyện góp một phần tự do. Gia đình là một đơn vị xã hội mà mỗi người, ngoài quan hệ huyết thống, còn tự nguyện góp một phần tự do. Do đó, chế độ độc tài là chế độ chiếm đoạt vốn liếng tự nhiên của đời sống con người tự do. Đó chính là bản chất của sự tham nhũng tinh thần, tức chiếm đoạt tự do của người khác thay vì sử dụng sự tự nguyện chuyển nhượng tự do của họ một cách minh bạch. Đó cũng chính là hạn chế của các nhà nước phi dân chủ. Các phân tích về tự do phải chỉ ra ai chiếm dụng vốn liếng của con người và phải giúp con người đi tới nhận thức rất quan trọng, đó là trạng thái không có tự do của nhiều người sẽ tạo ra quyền tự do tuyệt đối của một hay một số con người. Luận điểm này đã được khẳng định từ thời kỳ Khai sáng - thời kỳ của những tên tuổi vĩ đại như Voltaire, Didro, Montesquieu hay Russeau.
Hết thảy con người khi sinh ra đều bình đẳng, và được tự nhiên ban cho những quyền không thể phủ nhận, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền này, các nhà nước được hình thành trên cơ sở sự đồng thuận của các thành viên trong một xã hội. Nếu hiểu theo nghĩa này thì tự do là một khái niệm rất nhân văn, nó gắn liền với cái Tự nhiên (nói chung) và con người (nói riêng).
Tự do còn là một phạm trù văn hóa, nói khác đi, văn hóa chính là không gian tinh thần của tự do. Ý nghĩa và hành vi của con người “lội bộ” trong một cánh đồng mênh mông các đối tượng hình thành từ quá khứ, hay các ý niệm, khái niệm và nhận thức về văn hóa. Do đó, chính văn hóa mới có khả năng điều chỉnh hành vi và ý nghĩ của con người. Văn hóa điều chỉnh tự do cá nhân trở thành tự do cộng đồng tức là nó xây dựng các khái niệm sơ khai của khế ước xã hội, mọi khế ước xã hội đều xây dựng trên kinh nghiệm văn hóa chứ không phải kinh nghiệm pháp lý. Nguồn:
Tạp chí Khoa học & Tổ quốc Số lượt đọc:
19929
-
Cập nhật lần cuối:
30/05/2007 01:57:22 PM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
8 |
Tự do thuộc về ý thức Tự do thuộc về phạm trù ý thức hệ, cái mà chỉ con người mới có.
Con người phát triển ở bậc cao, có ý thức hệ ở bậc cao, ở đó nhận thức về tự do sẽ ở bậc cao hơn. Ngược lại, con người chỉ với ý thức hệ bậc thấp thì sẽ mơ tới cái tự do cấp thấp.
Theo như lý luận ở bài viết, tôi có thể nói rằng tôn giáo cũng là một loại khế ước xã hội mà ở đó người ta chia sẻ một phần tự do, dân chủ của cá nhân để tôn giáo điều hành xã hội giáo phái. Nhưng lịch sử tôn giáo cũng đầy rẫy những phi lý và áp bức, độc đoán, thiển cận, cục bộ tồn tại cho đến ngày nay.
Vậy mà các con chiên của "thế giới tự do" vẫn ngoan đạo. PHÁT TRIỂN THÊM VỀ NHẬN THỨC " BIỆN CHỨNG CỦA TỰ DO " TỰ DO GẮN LIỀN VỚI KHẢ NĂNG NHẬN THỰC THẾ GIỚI ( TỰ NHIÊN , CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI )
Đúng là mọi người sinh ra trong thế giới này đều bình đẳng , có những đặc quyền tự do như nhau . Nhưng không phải tất cả mọi người đều tự do làm tất cả những điều mình muốn .
Vì sao ?
Vì tự do ở đây phải hiểu từ nguồn gốc bản chất chất của thế giới vật chất và tâm linh . Nghĩa là : Bản chất của vật chất là chiếm hữu , sở hữu . Bản chất này sẽ làm rối loạn trật tự xã hội , đưa thế giới đi vào tình trạng hổn loạn , mạnh được , yếu thua ( Một tình trạng đã từng tồn tại trong 01 thế giới " Vật chất nguyên thủy " đã bị hủy diệt ) . Vì vậy tự do cần phải phụ thuộc vào khả năng nhận thức thế giới của từng cá thể sống trong xã hội , nhận thức đầy đủ các quy luật của tự nhiên , sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người , giữa con người với con người trong xã hội để tất cả có thể cùng tồn tại và phát triển .
Riêng đối với tâm linh : Bản chất của tâm linh là nhận bao nhiêu sẽ cho đi bấy nhiêu để giữ vững trạng thái cân bằng của cả hệ thống ( cá nhân và toàn bộ ) . Bản chất này sẽ làm các mối quan hệ luôn trong tình trạng ổn định , hoàn hảo , tốt đẹp ( Một tình trạng đã , đang và sẽ tồn tại mãi mãi trong 01 thế giới " Tinh thần tuyệt đối " ) . Khi con người đã đạt tới trình độ nhận thức cao , hiểu rõ các quy luật tự nhiên , sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người , giữa con người với con người trong xã hội . Tất cả mọi hoạt động đều diễn ra đúng theo quy luật và trong tổng hòa các mối quan hệ tương tác qua lại tốt đẹp , hoàn hảo thì lúc đó con người sẽ cản nhận được tự do thật sự .
Vì sao ?
Vì tất cả nhận thức của từng cá thể tốt đẹp và hoàn là điều kiện để chúng ta đạt tới trạng thái tự do . Ví dụ : nếu trong nhận thức của chúng ta , giết người là xấu xa và tội lỗi , chúng ta luôn luôn tự nhủ phải sống hòa thuận , tránh xa các hoàn cảnh dẫn chúng ta đến trạng thái nhận thức phải hủy diệt 01 cái gì đó thì liệu các quy định luật pháp về tội giết người có còn là mối ràng buộc chúng ta nữa không ?
Như vậy nhận thức chúng ta hoàn toàn tự do , không bị ràng buộc về tội giết người của phát luật vì nhận thức giết người hoàn toàn không hề xuất hiện trong tư tưởng của chúng ta . Nếu tất cả các thành viên trong xã hội đều đạt tới mức độ nhận thức như thế thì liệu luật pháp có còn quy định tội giết người nữa không ? Như vậy thật sự pháp luật chỉ ràng buộc những cá nhân nhận thức chưa đạt tới mức hoàn chỉnh mà vì lẽ đó , cá nhân đó có thể hành động gây phương hại tới người khác , tới xã hội .
Chính vì lẽ đó mà mỗi xã hội , tùy theo trình độ nhận thức chung của toàn xã hội mà luật pháp quy định mức độ tự do của từng cá nhân để hạn chế tới mức thấp nhất những tổn hại đến sự tồn tại và phát triển của từng xã hội . Không có một chuẩn mực chung nào để quy định mức độ tự do của từng xã hội bởi vì trình độ nhận thức của mỗi xã hội khác nhau đều không giống nhau .
Nói như thế không phải để biện minh cho những xã hội nhân danh lợi chung để hạn chế , ràng buộc tự do của công dân vì lợi ích riêng của một thiểu số đắc quyền nào đó . Điều đó đã thể hiện rất rõ trong bài viết trên vì như thế chính là " chiếm đoạt vốn liếng tự nhiên của đời sống con người tự do. Đó chính là bản chất của sự tham nhũng tinh thần, tức chiếm đoạt tự do của người khác thay vì sử dụng sự tự nguyện chuyển nhượng tự do của họ một cách minh bạch " .
TPHCM . Ngày 09 / 10 / 2009 Quan điểm của tôi Trừ khi chúng ta là tiên cả thì có lẽ chúng ta sẽ có tự do cho mình, còn nếu là người thường chúng ta luôn cuộc sống ràng buộc về nhiều mặt. Tự do là tự do trong khuôn khổ... Biện chứng của tự do Tôi thường rất tâm đắc những bài viết của Nguyễn Trần Bạt. Bài viết này tôi đọc rất kĩ nhưng quả thực vẫn ko hiểu hết được những đoạn mang tính triết học của bài viết.
Bài viết đưa ra 3 định nghĩa về tự do
Định nghĩa sơ khai về tự do của Locke, Không khó để hiểu đây là một định nghĩa mang tính thuần túy và bản năng.
Định nghĩa biện chứng của Hegel: "Tự do là cái tất yếu được phản ánh".
Và định nghĩa cuối cùng do tác giả đưa ra: " Tự do là quá trình chuyển dịch song song của ý nghĩ và hành vi" Và nó đã được lấy làm điểm tựa để phát triển quan điểm của tác giả.
Về cá nhân, tôi thấy định nghĩa của Hegel thật là sâu sắc. Tự do được đo bằng cái tất yếu được phản ánh. Một xã hội dân chủ, tự do là một xã hội mà cái tất yếu được phản ánh trong thế giới quan của người dân và của toàn xã hội. Đó là nền tảng cho mọi sự phát triển của xã hội. Còn một xã hội phi dân chủ, ko tự do là một xã hội mà năng lực phản ánh cái tất yếu của con người và của toàn xã hội bị lệch lạc và bị bóp méo. Sự không tự do đó đã ép buộc người ta hiểu mọi thứ ko đúng với bản chất của nó. Và những nhà cầm quyền họ muốn xã hội phản ánh cái tất yếu theo ý trí của họ. Vì thế khi sự thật ko được hiểu đúng sẽ dẫn đến những cái vòng luẩn quẩn của xã hội.
Còn định nghĩa của tác giả, mặc dù đã đọc nhiều nhưng tôi ko thể hiểu được. Và có lẽ cái song song trong định nghĩa của tác giả cần phải được phân tích sâu hơn.
Có lẽ tác giả cho rằng, tự do là sự chuyển dịch song song của ý nghĩ và hành động nghĩa là hành động sẽ phản ánh cái suy nghĩ? Nhưng nếu ko có tự do cái suy nghĩ đã lệch lạc thì cái hành động song song với nó cũng sẽ ko đúng.
Tác giả cũng đưa ra tự do trong suy nghĩ và tự do trong hành động. Về cái này tôi lại càng không thể tìm được mối liên hệ với định nghĩa tự do của tác giả.
Còn nếu hiểu theo Hegel: Tự do trong suy nghĩ có nghĩa là cái tư duy và suy nghĩ sẽ phản ánh trung thực cái tất yếu. Tự do trong hành động là hành động của cá nhân, xã hội sẽ phản ánh được cái tất yếu.
Vài lời chia sẻ cùng tác giả và xin cám ơn Nguyễn Trần Bạt rất nhiều về bài viết thể hiện tình thần trách nhiệm của mình với xã hội. Đặc biệt là trong giai đoạn này, rất đáng trân trọng. Suy nghĩ về những bài viết của ông Nguyễn Trần Bạt Tôi đọc tất cả những bài của ông Nguyễn Trần Bạt trên Chungta.com và tôi còn in ra gửi tặng mấy ông bạn già có học thức để nghiên cứu. có lẽ không chỉ có tôi và nhiều người khác nữa đều cảm thấy những bài viết của ông rất sâu sắc, mang nặng tính triết lý và thực tiễn. Ông là người dũng cảm dám nói lên những điều mà người khác nói lên sợ "phạm huý". Chúng tôi rất kính phục ông vì ông là con người lời nói luôn đi đôi với việc làm, ông là một Doanh nhân tài ba và là một nhà triết học uyên bác của nước ta. Đọc các bài của ông đều có tính thuyết phục cao và hợp quy luật, trong khi những bài nghiên cứu chính thống khác chỉ đọc được vài dòng đã thấy "giả giả thế nào".
Thay mặt bạn độc yêu mến ông tôi xin gửi tới ông lời chúc sức khoẻ và thành đạt. Xin chân thành cám ơn chungta.com đã chuyển tải thông tin đến chúng tôi Sự tự do Tự do đó chính là sự hiểu biết về thế giới này.
Bạn hiểu biết về thế giới này càng nhiều thì bạn càng có được nhiều sự tự do. Phát triển như là tự do "... Thực ra, người ta chỉ nhận ra giá trị của tự do khi đã bị mất tự do..".
Vâng! Bài viết trên cùng với bài viết "TỰ DO SINH RA CON NGƯỜI" thức tỉnh chúng ta về giá trị của tự do. Cả hai bài viết đi từ khái niệm tự do triết học, đến tự do trong mối quan hệ biện chứng và phát triển để từ đó dẫn dắt người đọc tới thái độ ứng xử thích hợp nhất đối với tự do của mình.
Ý kiến của bạn về bài viết:Quyền con người31/07/2010 08:10' AM “Quyền” là một khái niệm đạo đức; là khái niệm tạo sự dịch chuyển logic từ các nguyên tắc hướng dẫn hành động của cá nhân tới các nguyên tắc hướng dẫn quan hệ của anh ta với những người khác; là khái niệm duy trì và bảo vệ đạo đức cá nhân trong xã hội; là mối liên kết giữa quy tắc đạo đức của một cá nhân và quy tắc pháp lý của một xã hội, mối liên kết giữa đạo đức và chính trị. Quyền cá nhân là phương tiện để đặt xã hội xuống dưới luật đạo đức. Trường học các loài vật30/07/2010 11:46' AM Ngày xửa ngày xưa, các loài vật quyết định phải làm một cái gì đó thật lớn để đáp ứng các vấn đề của “Thế giới mới” cho nên chúng tổ chức một trường học. Chúng chọn chương trình học gồm có 4 môn: chạy, leo trèo, bơi lội và bay. Để dễ quản lý, mọi con vật đều phải học tất cả các môn... Chương IV. Quan phẩm không đồng nghĩa với Nhà nước, Dân quyền không đồng nghĩa với thuộc hạ, Nhà nước vì con người không phải con người vì Nhà nước (1)29/07/2010 06:54' PM Nhìn vào bất kỳ quốc gia nào thấy ngay mọi cá nhân đều nhỏ bé thay so với hệ thống đồ sộ của Nhà nước. Quả thật tầm vóc của Nhà nước so với mỗi cá nhân chẳng khác gì đỉnh núi kia so với hòn sỏi.Nhưng mà, dẫu to lớn như vậy, Nhà nước được dựng nên xét về mục đích lại nhỏ hơn các cá nhân. Tại sao? Vì Nhà nước được dựng nên để phục vụ con người, chứ chẳng thể nào có chuyện con người sinh ra để vì Nhà nước... Nhận dạng con người để xây dựng xã hội25/07/2010 02:51' PM Với mỗi người ‘Lớp trên’ của họ thế nào thì ‘Tầng đáy’ thế ấy! XH tạo ra họ là Cái Ao hay Đại Dương? Tôi quan sát và thấy rằng những kẻ trong đó đều là đang thế hoặc theo đuổi cái việc được ăn trên ngồi chốc trên đầu chúng sinh – theo cách chúng quan niệm là ‘hơn người’. Bằng cách ấy, họ chiếm chỗ và thuộc một phần của giới có Quyền, có Học, có Tiền... Nhận dạng ra chúng cũng là cách suy nghĩ về việc tạo ra một xã hội để chỉ nảy nở ra những điều đáng được mọi người tụng ca... Chiếc bánh của Thượng đế24/07/2010 08:51' AM Trên đời có những điều không thể cố là đạt được. Chỉ có thể để tự nhiên làm công việc của mình. Chân lý đã không thể cố. Niềm tin cũng không. Tình yêu càng không bao giờ... Yêu nước không có nhiệm kỳ20/07/2010 09:22' AM Nhiệm kỳ là thời hạn chức vụ được quy định khi bổ nhiệm, nhưng lòng yêu nước vốn không có thời hạn nhiệm kỳ. Vậy mà hai khái niệm tưởng chừng như tách rời này lại liên quan chặt chẽ đến nhau... Chỉ lạc quan khi có Khả năng lao động cho Tương Lai tươi sáng19/07/2010 07:01' AM Như phương châm viết của tôi : sự thật, tâm thành, hữu ích ! Các câu chuyện đều nhằm tới vấn đề XH, nên đọc qua thấy mệt, nhưng nhìn rộng trong cuộc sống thấy mừng vì sự thật tôi viết dưới đây càng ít đi, và người ta đã biết rõ nguyên nhân của nó…Hơn nữa ngày càng nhiều người có khả năng xã hội hóa lao động hữu ích của mình hơn để không sợ tuổi tác... Ai chịu trách nhiệm cho sự bền vững của cá nhân?17/07/2010 07:08' AM Một khía cạnh nữa của phát triển bền vững thấy được phân tích thấu đáo. Đó là sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong xã hội, của mỗi công dân trong một quốc gia. Tác giả Stephen Covey đã tổng kết, để bền vững mỗi cá nhân phải biết chăm lo cho 4 nhu cầu hay phương diện sống: thể lý, xã hội, trí não và tinh thần... Bài khác: Đạo nhà01/01/1900 12:00' AM Như lời của một triết gia Hy Lạp từ thời cổ đại rằng "lòng biết ơn là một đặc tính đứng đầu mọi đức tính khác", chúng ta đã được gắn kết qua nhiều thế hệ, thừa hưởng được nhiều giá trị văn hóa tích lũy nhiều đời, từ đó mà nơi mỗi người tiềm ẩn những nhận thức sống hợp với đạo lý và luôn có một ý thức cộng đồng sâu đậm. “Siêu nghệ sĩ” hãy coi chừng!01/01/1900 12:00' AM Xưa kia đôi khi người ta đã dựng lại các sự kiện lịch sử để quay phim chụp ảnh. Nếu ghi rõ là dựng lại để mô tả sự kiện thì A còn có thể chấp nhận được nhưng nếu để cho hậu thế tưởng lầm là tư liệu lịch sử thì quả là tai họa. Vị nhân sinh đúng hay sai?19/07/2005 08:32' AM Tia sáng dành cho bạn trẻ số 1, ngày 25-5-2002, đăng bài dịch một bức thư Mỹ “có rồi hẵng cho” với lời đề tựa đầy ấn tượng: “Xin mọi người đọc thuật kỹ và thật bình tâm, đặt một ấm nước, lúc đọc xong là lúc nước sôi, pha bình trà, uống và ngẫm nghĩ về người Mỹ, về quan điểm đạo đức xem nó ra răng”. May mắn là bức thư khá ngắn nên đọc không mất nhiều thời gian cho lắm. Tuy nhiên vấn đề nó đặt ra thì không hề đơn giản là sáng tạo có vị nhân sinh hay không. Tôi xin mạnh dạn trình bày quan điểm cá nhân về vấn đề thú vị này, với mục đích góp thêm một tiếng nói nhằm rộng đường dư luận. Ý nghĩa của tiền bạc18/07/2005 05:56' PM Trong tiểu thuyết Atlas Shrugged xuất bản năm 1957 với đề tài là "vai trò của trí tuệ trong sự tồn tại của con người", Ayn Rand đã đưa ra những khái niệm mới mẻ về giá trị của tiền bạc. Rằng ham mê tiền bạc không phải là nguồn gốc của mọi tội lỗi. " Sự ham mê tiền bạc tức là nhận thức được rằng tiền được làm ra nhờ năng lực của con người và là phương tiện để đổi lấy những gì xứng đáng nhất"... Về chuyện tiền bạc18/07/2005 12:08' PM Tiền bạc là vị sứ giả làm trung gian trao đổi các vật iùm cho mọi người, đó là ý nghĩa ban sơ của nó. Khi loài người phát triển sinh hoạt về mọi mặt thì ý nghĩa của tiền bạc thay đổi theo một cách tích cực hơn, tinh vi hơn. Lịch sử phát triển chủ nghĩa cá nhân trong thế kỷ 2118/07/2005 06:10' PM ...sự bùng phát mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân trong thời đại ánh sáng chủ yếu vẫn nằm ở khuôn khổ của cuộc cách mạng tư tưởng. Nói rõ hơn, nó vẫn nằm ở mặt lý luận hơn là đã thực hiện trong đời sống hiện thực, nghĩa là vẫn nằm trong giai đoạn trừu tượng, trong sự sôi nổi, sự cuồng nhiệt chủ yếu diễn ra ở khâu lý luận, học thuật của các triết gia kiệt xuất phương Tây.... Quan điểm maxit về mối quan hệ Đạo đức - Chính trị - Pháp quyền07/07/2005 03:29' PM Việc nghiên cứu đạo đức, dù từ bất kỳ phương tiện nào, cũng đều phải trả lời câu hỏi: Cái gì quy định nội dung cơ bản của đạo đức? Và với tư cách một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh lĩnh vực nào của tồn tại xã hội? Về điều này, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cho rằng, tìm hiểu hiện tượng đạo đức không thể chỉ dừng lại ở chỗ giải thích nội dung khái niệm của nó, mà còn phải đi sâu, tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, cơ sở giai cấp, nghĩa là tìm hiểu tồn tại xã hội đẻ ra hiện tượng đạo đức ấy. Ở đâu, đạo đức và lương tâm của giới trẻ?07/07/2005 03:04' PM Tôi thấy có một mặt của thanh niên đang tụt hậu, có thể dùng khái niệm suy thoái. Nghĩa là các thế hệ ông cha đã từng có rồi mà thanh niên ngày nay (một bộ phận lớn) đang làm mất đi, suy yếu đi. Đó là đạo đức và lương tâm nghề nghiệp. |