|
Giới thiệu sách Con đường dẫn tới nền kinh tế tự do (Kornai János)
Con Đường Dẫn Tới Nền Kinh Tế Tự Do là một tác phẩm độc nhất vô nhị trên trường quốc tế, nó đưa ra một giải pháp tổng thể cho việc chuyển đổi nền kinh tế XHCN.
Cuốn sách đề cập đến nền kinh tế Hungary, rất phù hợp với hoàn cảnh của Hungary và độc giả Hungary. Tuy nhiên, với 16 bản dịch ra tiếng nước ngoài đã chứng tỏ nội dung của nó có tính phổ quát, có thể áp dụng cho các nước XHCN. Điều này được tác giả nhấn mạnh với lưu ý rằng, mỗi nước có hoàn cảnh của riêng mình, phải áp dụng phù hợp và thích ứng với điều kiện thực tế, không rập khuôn máy móc.
Việt Nam trong 10 đổi mới đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Nhưng vài năm trở lại đây, tình hình không còn được như những năm 1990. Có lẽ những cải cách trong quá trình đổi mới đã phát huy hết nội lực. Muốn có tiến bộ mới, cần phải có những cải tổ mới, cơ bản hơn, sâu sắc hơn...
Kornai viết "Con đường" năm 1989, khi ở Đông Âu chưa xảy ra những biến động lịch sử nên con đường của ông chưa có người đi. "Con đường" của Kornai từ bỏ ý tưởng của "chủ nghĩa xã hội thị trường" là phải giữ ưu thế của sở hữu nhà nước, mà gắn với sự điều tiết của thị trường. Trong số những độc giả của Kornai János ở các nước XHCN lúc đó có Balcerowicz (Ba Lan), Vaclav Klaus (Czech), Yegor Gaidar và Anatoly Chubais (Nga)- họ là những người sau đó ít lâu phải chịu trách nhiệm chèo lái nền kinh tế đất nước họ trên con đường dẫn tới nền kinh tế tự do.
10 năm sau "Con đường", nhìn lại những cuộc cải cách KT ở các nước Đông Âu và Nga, Kornai János có dịp đánh giá lại tác phẩm của mình dưới hình thức 1 bản báo cáo tại cuộc hội thảo thường niên ABCDE (Annual Bank Conference on Development Economics) do WB tổ chức. János khẳng định ở thời điểm 1999, một số cuộc cải cách KT đã thành công vì nó cơ bản đã đi theo "con đường" của ông, những cuộc cải cách ở một số nơi khác đã thất bại vì nó đi theo con đường khác-tư nhân hóa tăng tốc. Bản báo cáo này đã được Nguyễn Quang A dịch ra tiếng Việt như phần phụ lục bổ sung cho tác phẩm chính "Con đường dẫn tới nền KT tự do" in ở NXB Tri Thức, thuộc Tủ sách S.O.S, tái bản lần thứ 1 vào năm nay.
Cavenui lược trích phần đề cập đến 2 con đường khác nhau áp dụng ở một số nước XHCN cũ.
Chiến lược A- chiến lược phát triển hữu cơ, có 5 đặc trưng chính:
1. Nhiệm vụ quan trọng nhất là tạo điều kiện cho sự phát triển từ dưới lên (bottom-up) của khu vực tư nhân. Lực thúc đẩy chính cho sự phát triển của khu vực tư nhân là sự tham gia mới hàng loạt của các doanh nghiệp. Phải trợ giúp sự phát triển này bằng nhiều công cụ và biện pháp:
- Các rào cản đối với sự tham gia tự do phải được phá bỏ
- Sở hữu tư nhân phải được đảm bảo an toàn. Phải thiết lập các thể chế để thực thi sự thực hiện các hợp đồng tư nhân.
- "Hành động tán đồng" được áp dụng với sự cẩn trọng là cần thiết cho xúc tiến phát triển của khu vực tư nhân, thí dụ trong chính sách thuế và tín dụng.
2. Phần lớn các công ty thuộc sở hữu nhà nước phải được tư nhân hóa. Kỹ thuật cơ bản để thực hiện tư nhân hóa là bán. Các tài sản nhà nước phải được bán chủ yếu cho người ngoài, ưu tiên bán cho những người không chỉ trả giá xứng đáng, mà còn cam kết đầu tư vào công ty. Nếu người mua là người nội bộ thì vẫn phải trả giá thật. Tư nhân hóa bằng cách bán cho người nội bộ không được phép thoái hóa thành dạng cho không trá hình.
3. Hệ quả của đặc trưng số 2 là bất kể dạng chia chác cho không nào của tài sản nhà nước đều phải bị loại bỏ.
4. Phải ưu tiên cho các sơ đồ bán nào tạo ra cơ cấu sở hữu với các đặc tính sau:
Công ty có một chủ mang tính trội. Người chủ chính này có thể là 1 doanh nhân hay 1 nhóm chủ sở hữu, hoặc 1 công ty tư nhân đã có lịch sử sở hữu tư nhân- có thể là sở hữu của người trong nước hay nước ngoài. Đặc biệt mong muốn loại chủ là nhà đầu tư chiến lược, người sẵn sàng đỡ công ty bằng cách bơm đáng kể vốn mới vào.
Khi dạng công ty cổ phần công cộng được chọn, không cần loại bỏ tình trạng là sẽ có một số cổ phần tản mác. Tuy vậy điều mong muốn là mỗi công ty có 1 chủ chính theo nghĩa vừa nói ở trên.
5. Ràng buộc ngân sách với các công ty phải được thắt chặt để đảm bảo kỷ luật tài chính thiết yếu cho hoạt động của nền KT thị trường. Một tập hợp các luật phải được thông qua, trong đó có luật phá sản, luật kế toán, luật ngân hàng. Tiếp theo giai đoạn lập pháp, mọi luật phải được thực thi một cách nhất quán. "Bộ ba" tư nhân hóa, tự do hóa và ổn định hóa sẽ chưa đủ để cho quá độ thành công. Thắt chặt ràng buộc ngân sách cũng có vai trò quan trọng cùng với các điều này.
Các công ty quốc doanh thua lỗ kinh niên không cần phải được tư nhân hóa bằng mọi giá hoặc duy trì sự sống nhân tạo quá lâu. Khi ràng buộc ngân sách được thắt chặt, nó sẽ thực hiện quá trình chọn lọc tự nhiên giữa các công ty này. Các công ty trở nên có lãi có thể bán được không sớm thì muộn. Còn các công ty không thể bán được, do nó có giá trị bằng 0 hay âm, phải thực hiện quá trình phá sản với chúng, chứ không được cho không chúng. Tư nhân hóa thông qua phá sản và thanh lý là 1 trong những kỹ thuật chính để chuyển đổi sở hữu.
Tỷ lệ tổng sản lượng của khu vực tư nhân sẽ tăng, 1 mặt do xuất hiện nhiều doanh nghiệp tư nhân mới, mặt khác do khu vực quốc doanh co hẹp lại (co hẹp bằng 2 cách: bán cho tư nhân, hoặc bị phá sản và rút khỏi).
Chiến lược B- chiến lược tư nhân hóa tăng tốc có thể được mô tả với 3 đặc trưng.
1. Nhiệm vụ quan trọng nhất là loại bỏ sở hữu nhà nước càng nhanh càng tốt.
2. Kỹ thuật tư nhân hóa chính là hình thức cho không nào đấy, thí dụ sơ đồ phiếu chứng chỉ (voucher) tư nhân hóa, theo đó quyền sở hữu trong các công ty quốc doanh cần tư nhân hóa được phát không, chia đều cho mọi công dân của đất nước. Cách tiếp cận này có thể gắn với việc chấp nhận thậm chí khuyến khích lãnh đạo xí nghiệp mua lại. Trong nhiều trường hợp, hóa ra hầu như là BLĐ mua lại hết với giá trả rất thấp, điều đó tựa như nhận được quyền sở hữu trong công ty mà không phải trả tiền.
3. Không cần phải chứng tỏ bất kể sự không ưu tiên nào với sự tản mác của sở hữu. Điều cần nhấn mạnh là tất cả mọi công dân đều được chia quyền sở hữu của các xí nghiệp trước đó thuộc sở hữu nhà nước, và như thế "chủ nghĩa tư bản nhân dân" phát triển.
Những người ủng hộ chiến lược B cũng tán thành phát triển XN tư nhân từ dưới lên, nhưng họ không nhấn mạnh trong các khuyến nghị của mình, trong đó những người ủng hộ chiến lược A nêu vấn đề này lên hàng đầu của cuộc cải cách sở hữu.
Nếu được hỏi, những người ủng hộ chiến lược B cũng tán thành thắt chặt ràng buộc ngân sách về nguyên tắc. Họ không nhấn mạnh điều này vì hy vọng rằng tư nhân hóa sẽ tự động thắt chặt ràng buộc ngân sách.
Sự khác biệt quan trọng nhất giữa 2 chiến lược là đặc trưng nào được lưu tâm nhất. Trọng tâm của chiến lược A là thúc đẩy sự phát triển của 1 khu vực tư nhân mới, trong khi chiến lược B lấy việc thanh lý nhanh chóng khu vực quốc doanh làm trọng tâm.
Con đường và các bài viết khác của tôi gần thời gian đó đã phác họa chiến lược A. Nhưng chỉ có một thiểu số nhỏ các nhà kinh tế hàn lâm phương Tây ủng hộ chiến lược này. Tuyệt đại bộ phận các nhà chuyên môn truyền bá chiến lược tư nhân hóa nhanh chóng; nhiều khi sử dụng các luận điệu hằn học rất thô bạo.
Sau 10 năm, tôi hoàn toàn an tâm rằng chiến lược A khuyến khích sự tăng trưởng hữu cơ của khu vực tư nhân là chiến lược đúng đắn. Chiến lược B tư nhân hóa tăng tốc cưỡng bức may nhất cũng chỉ là chiến lược kém cỏi và tồi nhất thì thực sự thất bại.
Hungary đã theo đuổi chiến lược A. Theo cả 5 đặc trưng đã trình bày ở trước thì quá độ ở Hungary theo sát nhất con đường phát triển hữu cơ của khu vực tư nhân.
Mặc dù không nên lý tưởng hóa con đường Hungary (vì chắc chắn đã xảy ra nhiều sự lạm dụng, kể cả trong tư nhân hóa theo kiểu bán, tuy không có vụ xì căng đan tham nhũng lớn nào) nhưng rõ ràng thành quả kinh tế là đầy ấn tượng. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ mới đã xuất hiện. Việc thắt chặt ràng buộc ngân sách đầu các năm 90 đã tạo cho quá trình chọn lọc tự nhiên quét dọn lĩnh vực doanh nghiệp. Điều này trùng hợp với sự tăng cường kỷ luật tài chính. Chuỗi xích nợ nần lẫn nhau giữa các công ty bị phá vỡ và tình trạng thực thi hợp đồng tư nhân được cải thiện. Đã có sự khởi đầu trong củng cố lĩnh vực ngân hàng. Tất cả sự phát triển này tạo ra sức thu hút mạnh vốn nước ngoài. Dòng vốn chảy vào mạnh đã là 1 trong những nhân tố chính lý giải năng suất lao động và thành tích xuất khẩu của Hungary.
Tại Ba Lan, đôi khi xuất hiện những phát biểu ve vãn các ý tưởng của chiến lược B, nhưng những chính sách KT thực tiễn lại luôn gần với chiến lược A. Phần đông các nhà kinh tế Ba Lan hiện nay công nhận rằng những lý giải chính cho thành công ở Ba Lan, ngoài thành công của ổn định hóa vĩ mô thì còn bao gồm sự tham gia mới hàng loạt, sự phát triển từ dưới lên mãnh liệt của khu vực tư nhân và dòng chảy vào của vốn nước ngoài.
Đầu những năm 1990, lãnh đạo CH Czech muốn áp dụng chiến lược B. Vaclav Klaus, nhà kinh tế- thủ tướng Czech là người đi tiên phong của cơ chế phiếu tư nhân hóa (voucher scheme).
Chương trình được áp dụng một cách kiên quyết, nhưng nó không mang lại kết quả như những người khởi xướng mong đợi. Giai đoạn đầu, tài sản được phân chia tản mạn cho hàng triệu chủ phiếu, rồi được tập trung lại sau đó vào tay của cái gọi là các quỹ đầu tư. Các quỹ lại thiếu lực về vốn để phát triển các công ty lạc hậu hoặc để đầu tư thật sự. Chúng lại được cấu kết với các ngân hàng thương mại lớn mà ở đó nhà nước là người chủ chính yếu hay duy nhất. Cơ cấu sở hữu như vậy đã bất lực trong việc xây dựng sự quản trị doanh nghiệp mạnh mẽ. Tái cơ cấu kéo lê thê. Bất chấp những hùng biện về tự do kinh doanh theo kiểu Chicago, ràng buộc ngân sách trên thực tế vẫn mềm. Nếu tư nhân hóa bằng cách bán tạo ra và nuôi dưỡng sự chọn lọc tự nhiên thì chuyển quyền sở hữu theo kiểu ban phát cho không lại bảo tồn cấu trúc hiện tại.
Điển hình đáng buồn nhất cho sự thất bại của chiến lược B là trường hợp nước Nga. Tại đây mọi đặc trưng của chiến lược xuất hiện ở dạng cực đoan: sơ đồ phiếu được áp đặt cho cả nước, gắn với sự chuyển nhượng quyền tài sản được thao túng ở mức hàng loạt chuyển vào tay giới quản lý và các quan chức hưởng đặc quyền. Trong môi trường như vậy một cuộc "cải cách sở hữu" chưa từng có trong lịch sử đã xảy ra, trong đó sở hữu của các tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là của dầu và khí, đã bị bọn cường quyền-oligarch chiếm đoạt.
Tất cả các biến cố này gắn chặt với tàn dư của triệu chứng ràng buộc mềm về ngân sách, ở dạng mà nó xâm nhập, gặm sâu vào và tạo ra những tác hại lớn.
Nga trở thành 1 "xã hội không chi trả" (non-payment society). Các công ty không chi trả các nhà cung cấp của họ, cũng như người sử dụng lao động không trả người lao động, con nợ không trả ngân hàng. Tất cả điều này lại được giới điều hành và tòa án cam chịu chấp nhận. Thực ra, nhà nước đã nêu gương xấu do thường xuyên dây dưa nợ lương, tiền hưu trí và đóng góp bảo hiểm đối với viên chức nhà nước.
...
Hãy trở lại với các lý lẽ nghe được trong cuộc tranh luận.
1. Những người ủng hộ chiến lược B đã hăm hở viện chứng những quan tâm về đạo đức. Mỗi công dân phải được cấp một phần bằng nhau của tài sản trước đây của nhà nước vì lý do công bằng. Thực tiễn đã chứng minh dứt khoát rằng đây là 1 lý lẽ ngụy biện. Sự phân bổ ban đầu chỉ tồn tại trong một giai đoạn rất ngắn, trước khi nó dọn đường cho sự tập trung cao độ sở hữu của các tài sản trước đây của nhà nước. Trong trường hợp Nga, nó đã dẫn tới 1 hình thức phát triển TBCN độc đoán, phi lý, quái ác và hết sức bất công.
Bán các tài sản nhà nước đúng giá, sẽ không thay đổi sự phân phối của cải hay thu nhập. Của cải của nhà nước không hề bị giảm đi, nó chỉ thay đổi hình thức. Thu nhập từ bán tài sản trong tư nhân hóa phải được đầu tư hữu ích, chứ không phải để tiêu dùng. Hungary đã sử dụng nguồn thu này để trả nợ nước ngoài, trong giai đoạn tư nhân hóa mạnh mẽ, khi mà phần lớn khu vực năng lượng và viễn thông được mang bán. Kết quả giảm chi trả lãi và sự cải thiện đáng kể khả năng chi trả của đất nước đã mang lại lợi ích thực sự cho mỗi công dân.
2. Sự nhấn mạnh thích đáng được đặt ra về phương diện xã hội học trong dòng lập luận của những người ủng hộ chiến lược A. Quá trình tư sản hóa xã hội, với sự phát triển của tầng lớp có tài sản, là thiết yếu cho sự củng cố của CNTB.
3. Lý lẽ hấp dẫn nhất liên quan đến tính hiệu quả kinh tế. Lĩnh vực này đã chứng tỏ sự ưu việt của chiến lược A. Các công ty tư nhân mới thường hiệu quả hơn các công ty thuộc sở hữu nhà nước hay các công ty trước thuộc sở hữu nhà nước đã được tư nhân hóa trong quá trình quá độ. Kinh nghiệm cũng chứng minh sự tản mác của sở hữu và sự duy trì ràng buộc về ngân sách mềm làm chậm trễ sự tăng trưởng của năng suất. Tinh thần doanh nghiệp của Schumpeter, sự quét bỏ các công ty kém hiệu quả, các chủ thực và mới kiên trì thiết lập thứ bậc, vốn nước ngoài hài lòng tiến hành đầu tư lớn và hiện đại- những thứ đó cùng nhau đẩy sự gia tăng năng suất và nâng cao thành tích xuất khẩu.
4. Cuối cùng, có các lý lẽ chính trị. Chính chương trình phiếu chứng chỉ tư nhân và sự trì hoãn tiến hành tái cơ cấu đau đớn là nhân tố quyết định cho thắng lợi của đảng cầm quyền trong lần bầu cử tự do thứ 2 của CH Czech. Đây là trường hợp duy nhất ở khu vực Đông Âu trong thập niên qua, CP trụ được cho cả 2 nhiệm kỳ. Ngược lại, các liên minh cầm quyền trong chu kỳ QH đầu tiên ở Hungary và Ba Lan đã thất bại trong lần bầu cử thứ 2. Các liên minh đối lập lên cầm quyền về cơ bản vẫn tiếp tục chiến lược A như liên minh cầm quyền trước. 4 năm sau, sau khi tránh dùng phương thức tư nhân hóa ban phát như 1 vũ khí tranh cử, đến lượt họ lại bị thất bại trong bầu cử. Như vậy chiến lược B rõ ràng có lợi hơn theo tiêu chuẩn giữ quyền lực của Machiavell.
Những người chủ trương chiến lược B, đặc biệt là ở Nga, luôn lập luận rằng nếu có 1 cơ hội hé ra để tư nhân hóa thì phải nắm lấy ngay và tiến hành tư nhân hóa nhanh chóng. Phải tranh thủ tiến hành mau trong một bộ máy nhà nước quan liêu còn đang ở trong trạng thái mơ hồ, yếu và không thể chống trả được. Lý lẽ này không thể khẳng định hay chối bỏ bằng suy luận logic thuần túy. Tuy nhìn lại thì rõ ràng nền dân chủ Czech không hề bị đe dọa bởi sự phục hồi CS hay sự xuất hiện của xe tăng xô viết, nhưng cũng phải thừa nhận là điều này không được rõ ràng lắm ở thời điểm năm 1991.
Đánh giá lại tình hình Nga sẽ đặc biệt nan giải nhìn từ khía cạnh này. Giọng điệu sau luôn được nhắc đi nhắc lại: tư nhân hóa hàng loạt phải được tiến hành mau lẹ trước khi đảng CS thắng cử, không có loại tư nhân hóa nào có thể được thông qua ở Duma khi mà đảng CS trở thành đảng có tiếng nói chính ở đó.
Tôi nghĩ rằng có một sự lý giải nhân quả sai lầm, lộn đầu đuôi ở lập luận này. Giá như tư nhân hóa đã được tiến hành theo cách khác, không kéo theo biết bao nhiêu sự lạm dụng trắng trợn và những thiệt hại xã hội vô ích thì chắc chẳng có sự hoài tưởng mạnh mẽ như thế ở Nga về hệ thống CS. Nhát đâm cải cách sở hữu vào xã hội có gây ra sự không thể đảo ngược được. Tuy vậy 1 nền tảng vững chắc cho sự tăng tiến không thể đảo ngược được của CNTB sẽ được tôn tạo nếu tư sản được phát triển rộng rãi, quyền sở hữu và hợp đồng tư nhân được áp dụng một cách nhất quán, dân chủ được thể chế hóa và KT thị trường nhận được sự ủng hộ của đa số cử tri.
Số lượt đọc:
4206
-
Cập nhật lần cuối:
30/04/2008 04:26:20 PM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Tính hiệu quả của mô tả09/08/2009 01:20' PM Trong mô tả một hiện tượng, một sự vật hay một hệ thống nào đó, tính hiệu quả của một mô tả có thể được định nghĩa bằng so sánh độ dài của mô tả đó và độ dài của mô tả ngắn nhất có thể có trong số tất cả các mô tả khả dĩ... Trông người mà ngẫm đến ta20/05/2009 06:20' AM Trung tuần tháng 5 năm 2004 vừa rồi, tạp chí "Forbes" (Mỹ) công bố danh sách 100 người giàu nhất nước Nga hiện nay. Đứng đầu danh sách vẫn là ông chủ công ty dầu lửa Yukos với tổng giá trị tài sản là 15,2 tỉ USD. Chiếm vị trí thứ 2 là ông chủ người Nga của CLB bóng đá Anh Chelsea - Roman Abramovic với tài sản trị giá 10,6 tỉ USD. Vị trí thứ ba là Mikhail Fridman với tài sản trị giá 5,6 tỉ USD... Hàng loạt các “vị trí quan trọng trong nền kinh tế” đầu tư dàn trải, thua lỗ nặng nề15/07/2008 11:29' AM Vấn đề Doanh nghiệp Nhà nước đầu tư ngoài ngành với tổng số tiền lên tới 7 ngàn tỷ đồng; Hàng loạt những tập đoàn, TCTy 90-91 khổng lồ đang kinh doanh thua lỗ nặng nề hoặc có lãi không bằng một hợp tác xã tư nhân và việc cắt giảm các dự án đầu tư theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đang là những vấn đề dư luận hết sức quan tâm... Bơi ra biển10/07/2008 08:43' AM Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng là một lĩnh vực nhạy cảm, không được phép sai lầm, vì nếu sai lầm sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế... Nghe các tập đoàn lớn nói28/04/2008 11:33' AM Ngày 23.4.2008 trong và bên lề Hội nghị Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, người ta đã được nghe những lời bộc bạch "lấy ngắn nuôi dài" của những người đứng đầu một số "tập đoàn" lớn, các tổ chức được Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng gọi là các "anh cả" của nền kinh tế... Luận bàn về quản lý: Nhà nước, mô hình tập đoàn và cổ phần hóa27/04/2008 10:29' AM Sau một năm gia nhập WTO, bên cạnh những thành tựu thu được, Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt vấn đề lớn có xuất phát điểm từ điều hành quản lý kinh tế. Giới doanh nghiệp, người dân tiếp tục trông đợi sự chèo lái của Nhà nước nhằm giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn ở phía trước. Bàn về vấn đề này, các chuyên gia kinh tế khẳng định, để đáp ứng sự trông đợi đó, đã đến lúc cần một sự đổi mới về quản lý Nhà nước... Tôi học từ cuộc đời27/04/2008 10:04' AM Những đề tài thời sự nóng hổi đều được đề cập dưới ngòi bút sắc sảo gai góc của ông, thể hiện tinh thần trách nhiệm và tâm huyết của một trí thức. Quyết liệt và rạch ròi khúc chiết trong từng câu chữ, ông soi rọi các vấn đề xã hội bằng tư duy phản biện của một nhà khoa học và vốn kiến thức của một nhà kinh doanh... Anh ninh tài chính: Một khía cạnh xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng XHCN14/04/2008 11:29' AM Hệ thống tài chính - tiền tệ phải được xây dựng, vận hành theo những nguyên tắc của kinh tế thị trường, công khai, minh bạch... Tư bản xã hội22/01/2008 03:05' PM Ba nguồn lực cơ bản nhất để phát triển là vốn tài chính, vốn tri thức và vốn xã hội. Chuyện phải đầu tư bằng tiền ai cũng hiểu. Chuyện phải đầu tư bằng tri thức rất nhiều người hiểu. Thế nhưng, chuyện phải đầu tư bằng tư bản xã hội thì số lượng những người như vậy chưa phải là nhiều... Người đàn ông gồ ghề trong "thế giới phẳng"19/06/2006 08:08' AM Thế giới phẳng là tên cuốn sách thứ 13 trong tủ sách SOS 2 mà TS.Nguyễn Quang A vừa dịch xong, sắp xuất bản. Tác giả sách là Thomas Friedman, một nhà báo nổi tiếng của tờ New York Times. Sách nói về toàn cầu hoá và công nghệ thông tin, về cuộc tấn công của "bầy thú điện tử" - những tập đoàn đa quốc gia - cùng cơ hội và thách thức của mỗi con người, doanh nghiệp, quốc gia trước cuộc tấn công đó... Xã hội khôn ngoan biết khai thác tốt tài nguyên tinh thần10/03/2010 10:12' AM Xã hội khôn ngoan, sáng suốt, nhân văn thì biết bảo tồn, nâng niu, khai thác triệt để nguồn tài nguyên vô giá của dân tộc mình và của cả nhân loại để làm giàu cho tâm hồn và cuộc sống của mình. Nếu không, thì mỗi con người, thậm chí là cả dân tộc chỉ tồn tại vơ váo đứt đoạn trên thế gian này. Một thế kỷ nhìn lại06/03/2010 01:45' PM Vào những năm 80, 90 của thế kỷ 19, trung tâm công nghiệp Chicago (Mỹ) tập trung hàng vạn lao động phụ nữ và trê em. Họ luôn phải làm việc trong điều kiện thiếu thốn, bị coi rẻ, đồng lương thấp kém. Ngày 8/3/1899, nữ công nhân ngành dệt và ngành may. Ở Chicago đã tiến hành bãi công, đòi tăng lương, giảm giờ làm. Họ buộc chủ lao động phải chấp nhận yêu sách nhằm cải thiện đều kiện lao động và sinh hoạt. Từ Chicago, phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng của phụ nữ đã lan rộng khắp nơi, ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Đó chính là tiền đề cho sự ra đời của Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3. “Chúng tôi đã để lại cho chính mình một gánh nặng!”05/03/2010 07:43' AM Từ năm 2005, GS.TS. Chu Hảo và Nhà xuất bản (NXB) Tri Thức đã bắt tay xây dựng một kế hoạch tham vọng: xây dựng tủ sách Tinh hoa Tri thức thế giới với mục tiêu dịch và xuất bản 500-1.000 đầu sách trong 10 năm. Ý tưởng táo bạo này được hoan nghênh, nhưng ngay GS.TS. Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri Thức, cũng phải thừa nhận dịch và in sách “tinh hoa” ở Việt Nam là con đường gian nan… Để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam03/03/2010 08:09' AM Sức mạnh mềm giúp một quốc gia nhận được nhiều cảm tình và sự hợp tác từ bên ngoài. Khi cần sự hỗ trợ, họ cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với những quốc gia khác. Tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo việc cho nước ngoài thuê rừng02/03/2010 09:25' AM Tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tiếng về việc một số địa phương cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn. Doanh nghiệp nhà nước tăng, doanh nghiệp dân doanh giảm01/03/2010 04:13' PM Đây không phải là hiện tượng mới lạ, lần đầu mọi người tiêu dùng mới nhận thấy…mà đã là thứ hiện tượng quen thuộc nhiều năm nay …. Thay vì mừng với sự giảm giá SP / DV của nhiều DN Dân doanh, thì đại bộ phân dân chúng lại cảm thấy ức chế mà buộc phải đi đến chấp nhận không sớm thì chiều sự tăng giá của một số Doanh nghiệp Nhà nước hàng đầu nhưng hoạt động độc quyền trong lĩnh vực đặc biệt thiết yếu của đời sống và của nền Kinh tế Quốc dân như (Điện Nước, Xăng Dầu, Vận tải hàng không, đường biển )… Tương lai Việt Nam thuộc về lớp trẻ01/03/2010 08:11' AM “Đảng và Nhà nước luôn luôn tạo điều kiện cho những người trẻ có tài, có đức phát huy hết tài năng của mình để làm giàu cho mình, cho đất nước. Đảng và Nhà nước không có chủ trương nào hạn chế tuổi trẻ có tài, có đức làm việc ở những vị trí cao trong bộ máy của Nhà nước và chính quyền địa phương để đóng góp cho xã hội, cho đất nước", Vấn đề CEO24/02/2010 03:14' PM Tôi dùng viên tướng là một hình tượng rất phổ biến trong nền văn hóa Việt Nam để mô tả một đối tượng khác là CEO, chứ không phải là tất cả các viên tướng đều làm CEO được. Một viên tướng thắng trận mới làm CEO được, không phải ai làm CEO cũng được. Bài khác: Lạm phát hay tăng trưởng: Con người và ý chí29/04/2008 11:32' AM Chống lạm phát bằn cách thắt chặt tiền tệ, giảm cung tiền, tăng lãi suất, dẫn tới giảm tổng cầu hàng hóa, giá hàng hóa và xuất khẩu giảm... Nghe các tập đoàn lớn nói28/04/2008 11:33' AM Ngày 23.4.2008 trong và bên lề Hội nghị Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, người ta đã được nghe những lời bộc bạch "lấy ngắn nuôi dài" của những người đứng đầu một số "tập đoàn" lớn, các tổ chức được Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng gọi là các "anh cả" của nền kinh tế... Treo khẩu hiệu28/04/2008 10:19' AM Ngày 9 tháng 11 là ngày tuyên truyền phòng cháy chữa cháy hàng năm. G - nhân viên bảo quản kiêm nhân viên an toàn phòng cháy chữa cháy viết ngoài tường kho một khẩu hiệu "Nghiêm cấm thuốc lá - lửa"... Luận bàn về quản lý: Nhà nước, mô hình tập đoàn và cổ phần hóa27/04/2008 10:29' AM Sau một năm gia nhập WTO, bên cạnh những thành tựu thu được, Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt vấn đề lớn có xuất phát điểm từ điều hành quản lý kinh tế. Giới doanh nghiệp, người dân tiếp tục trông đợi sự chèo lái của Nhà nước nhằm giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn ở phía trước. Bàn về vấn đề này, các chuyên gia kinh tế khẳng định, để đáp ứng sự trông đợi đó, đã đến lúc cần một sự đổi mới về quản lý Nhà nước... Mắc nợ nông thôn22/04/2008 08:45' AM Mình còn mắc nợ nông thôn những gì và phải làm gì để bù đắp cho những mất mát của làng quê Việt Nam trước những đổi thay của thời cuộc... Đô thị - thiên đường hay nấm mồ của nhân loại21/04/2008 02:02' PM Dân Đô thị xài năng lượng nhiều hơn nông thôn - các thành phố ngốn tài nguyên hơn bất cứ một loại định cư nào... Bầu chọn các kỳ quan thiên nhiên: Dừng lại thôi !18/04/2008 11:46' AM Từ khi có tin "VIỆT NAM SẼ CÓ 3/7 KỲ QUAN THẾ GIỚI??". Mình có nhận được một số thông tin mới, sau khi nhận được mình đã cố gắng kiểm chứng, tuy không kiểm chứng được tất cả nhưng cũng phát hiện được một số điều về trang web này... Toàn cầu hóa chênh lệch giàu nghèo16/04/2008 07:44' PM Trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như trên toàn thế giới, người ta nói rất nhiều về sự nghèo đói và hiện tượng chênh lệch giàu nghèo. Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần làm rõ, đó là phải phân biệt sự nghèo đối với khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, sự nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo với nhận thức về chúng... |