Bàn về quốc học

Phạm QuỳnhPhạm Quỳnh- Luận giải văn học và triết học/ Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
08:48' SA - Thứ hai, 23/11/2009

“Or cette notion de d’objectivité, cette habitude de la précision, cést précisément ce qui manque, sembletil, à la connaissance orientale, d'ailleurs substantiellement si riche, spirituellement si profonde. Seraitil impossible d’appliquer la forme de la science occidentale au contenu de la connaissance orientale ?....

René Gillouin (Questions politiques et religieuses)

Cái học của Đông phương vẫn có cái bản chất phong phú, cái tinh thần thâm trầm thật, nhưng chính là thiếu một cái quan niệm về khách quan, không quen biết sự đích xác là gì. Nay họ lại không thể đem cái hình thức của khoa học Tây phương mà ứng dụng vào nội dung của học thuật Đông phương được dư?

(Lời của nhà phê bình Pháp René Gillouin)

Nước Nam ta có một nền quốc học chân chính không?

Câu hỏi đó gần đây đã làm đầu đề cho một cuộc tranh luận rất thú vị. Ông Lê Dư trong báo Đông Tây ở Hà Nội thì quyết rằng có, ông Phan Khôi trong báo Phụ nữ ở Sài Gòn thì quyết rằng không.

Quốc học không phải là một vật có thể giấu giếm đi được hay là cần phải tìm tòi mới ra. Nếu quả có thật thì nó sờ sờ rõ rệt ra đó, ai còn chối được, mà phải đến người nọ nói có, người kia nói không! Sở dĩ phải khởi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng là nhỏ nhen, eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ.

Nay chứng xét lịch sử thấy quả như vậy. Nước Nam ta mấy mươi thế kỉ theo học nước Tàu, chỉ mới là một người học trò khá, chưa hề thấy thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng. Không những thế, lại cũng thường không lọt ra được ngoài vòng "giáo khoa" mà bước lên tới cõi “học thuật” nữa. Như vậy thì làm sao cho có quốc học được?

Anh hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ cao tăng ta cũng có, nhưng trong cõi học nước ta, cổ kim chưa có người nào có tài sáng khởi, phát minh ra những tư tưởng mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ có cái vẻ độc lập một "nhà" đối với các "nhà" khác như bách gia chư tử bên Tàu ngày xưa. Hay thoảng hoặc cũng có mà mai một đi mất, sử sách không truyền chăng? Nhưng phàm đã gọi là một cái học thì phải có cảm hóa người ta sâu xa, phải có ảnh hưởng trong xã hội., phải gây ra một cái phong trào tư tưởng, không thể tịch mịch ngay đi mà không còn tăm hơi gì nữa. Cho nên dân hay kê cứu trong các sách cổ, tìm kiếm ra được năm ba cái ý kiến lạ hay tư tưởng kì của một vài bậc tiền bối lỗi lạc, như vậy cũng chưa đủ chứng rằng nước ta có quốc học với cái học cố hữu của bên Tàu truyền sang.

Ngay cái học mượn của người đó, ta học cũng chưa đến nơi. Nhà Nho ta, ngoài mấy bộ kinh truyện là sách giáo khoa của phái Khổng, Mạnh, mấy ai đã từng thiệp liệp đến bách gia chư tử. Ai đã từng nghiên cứu đến học thuyết họ Mặc, họ Dương, đến Lão, Trang, đến Phật học? Ngay trong Nho giáo, cũng chỉ biết đến Tống Nho là cùng, còn Minh Nho thì mặc nhiên không hiểu chi hết. Như Vương Dương Minh phản đối cái Nho học hẹp hòi của các thầy nhà Tống mà phát minh ra một cái thuyết mới có ý vị thâm trầm hơn, ở nước ta hầu như không ai biết đến. Ở Nhật Bản thì phái Vương học lại thịnh hành lắm, không những có ảnh hưởng trong học giới, mà lại tiềm nhiễm cả phong tục, có người cho là cái võ sĩ đạo của nước ấy chính sở đắc ở Vương học nhiều. Nhật Bản cũng là học trò của Tàu, cũng mô phỏng văn hóa của Tàu trong mấy mươi đời, nhưng họ biết lựa lọc kén chọn, họ không có phóng chép một cách nô lệ như mình, cho nên tuy về đường tư tưởng học thuật, họ vẫn chịu ảnh hưởng của Tàu nhiều, nhưng họ cũng có một nền quốc học của họ, dầu không được rực rỡ cho lắm, mà vẫn có đặc sắc khác người.

Đến như ta thì khác hẳn. Ta học của Tàu mà chỉ học thuần về một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lí tinh thần cả, mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa.

Dẫu thế nào mặc lòng, người phụng sự chủ nghĩa quốc gia, đoái nhìn lại cái học của nước nhà, thấy vắng vẻ tịch mịch, không khỏi rầu lòng mà lấy làm thương tiếc, gặp những lúc trong lòng bối rối, trong trí băn khoăn, mở đống sách cũ của tiền nhân để lại, muốn tìm kiếm một vài tư tưởng hoặc học thuyết gì thiết tha thâm trầm đủ đem ra đối phó với đời, thì chỉ thấy các cụ ngâm hoa vịnh nguyệt, lặp lại mấy câu sáo cũ của người Tàu, ôn lại những bài học cũ từ xưa đến giờ, không khám phá được điều gì mới lạ về vũ trụ nhân sinh cả, thật lấy làm thất vọng vô cùng.

Nói thế không phải là bội bạc với tiền nhân, nhưng sự thật thế nào ta phải công nhận như thế. Ta vẫn có nước, nước ta vẫn có tiếng là ham học, nhưng cả nước ví như một cái trường học lớn, cả năm thầy trò chỉ ôn lại mấy quyển sách giáo khoa cũ, hết năm ấy đến năm khác, già đời vẫn không khỏi cái tư cách làm học trò! Ấy cái tình trạng nước ta, sự học từ xưa đến nay và hiện ngay bây giờ cũng vẫn thế, vì ta đừng có tưởng rằng cái tâm lí học trò đó, ngày nay ta gột rửa được sạch đi đâu. Xưa khi học sách Tàu thì làm học trò Tàu, ngày nay học sách Tây chỉ làm học trò Tây mà thôi. Duy có khác là cái nghiệp làm học trò Tàu kinh qua mấy mươi đời, cái kết quả "tiêu cực" của nó đã rành ra đó; còn cái nghiệp làm học trò Tây thì mới trên dưới năm sáu mươi năm mà thôi, còn có thể mong rằng sau này có lẽ thành được cái kết quả "tích cực" chăng. Song cứ xem gương như bây giờ, thì cũng không lấy gì làm vui lòng cho lắm; xét những tay xuất sắc trong làng Tây học phần nhiều cũng chưa thoát được cái tâm lí học trò đó; bọn đàn anh khi xưa thì dặm lại mấy câu sáo của Tàu, bọn đàn anh bây giờ cũng dặm lại mấy câu sáo mới của Tây đó mà thôi, chưa mấy ai rõ rệt có cái tư cách - đừng nói đến tư cách nữa, hẳn có cái hi vọng mà thôi - muốn độc lập trong cõi học vấn tư tưởng cả.
Như vậy thì ra giống ta chung kiếp chỉ làm nô lệ về đường tinh thần hay sao? Hay là tại thần trí của ta nó bạc nhược quá, không đủ cho ta cái óc tự lập? Hay là bởi những duyên cớ nào khác nữa?

Cái đó cần phải xét cho tường.

Từ xưa đến nay, nước ta quả không có quốc học thật. Bởi tại làm sao?

Từ nay về sau, ta có thể gây được một nền quốc học không? Phải làm thế nào?

Tuy nói quốc học ai cũng hiểu rồi, song cũng nên định nghĩa qua cho khỏi lầm. Quốc học là gồm những phong trào về tư tưởng học thuật trong một nước, có đặc sắc với nước khác, và có kết tinh thành ra những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy.

Cứ nghĩa tuyệt đối thì không nước nào hẳn có quốc học đặc biệt, nghĩa là tự mình gây dựng ra, không phải nhờ mượn của người, trừ ra những nước tổ văn minh trong thế giới như Tàu, Ấn Độ, Ai Cập, Hi Lạp không kể.

Nhưng cứ nghĩa tương đối thì mỗi dân tộc hấp thụ được cái văn minh học thuật của ngoài, tất có biến hóa theo tinh thần riêng của mình, mà thành hẳn của riêng mình. Bởi thế nước Pháp, nước Anh, nước Đức v.v., tuy về đời trước thời nguồn gốc vẫn là do ở Hi Lạp, La Mã ra, mà về sau thời thường chịu ảnh hưởng lẫn của nhau nhiều, nhưng nước nào cũng có cái văn minh, học thuật của nước ấy, không giống với các nước kia; học thuật riêng đó, tức là quốc học của mỗi nước. Như nước Nhật ở Á Đông ta cũng vậy, thật là "con tinh thần" (fils spirituel) của nước Tàu, đồng văn đồng hóa với Tàu, nhưng vẫn có một lối học riêng của họ, tuy cũng xuất ở Tàu mà ra, mà có cái đặc sắc khác với Tàu, có thể gọi là quốc học của Nhật Bản được.

Đến như ta thì mượn cái học của người mà không hóa được theo tinh thần của mình, không gây được một nền quốc học cho mình, là bởi cớ sao vậy?

Nói rằng vì giống mình kém hèn hẳn, thì có lẽ phụ cái óc thông minh của các cụ đời xưa, và cũng không đúng với sự thật chăng? Nhưng nói rằng vì tình thế khiến nên mà sau tạo thành một cái tâm lí riêng không lợi cho sự học vấn tư tưởng, tự do, thì có lẽ đúng hơn. Tình thế ấy thuộc về địa lí, thuộc về lịch sử, lại cũng thuộc về chính trị nữa.

Thuộc về địa lí là nước ta tiếp cận ngay với nước Tàu, đối với Tàu, dầu sau khi ta độc lập rồi, vẫn coi như một nước phụ dung, một nước phiên thuộc. Ta chỉ là một bộ phận trong cái thế giới Chính mà thôi. Thông tục thường có câu: nước Tàu như cái áo, nước ta như cái dải. Thật thế, nước ta, nhất là xứ Bắc Kì là nơi phát tích của nước ta, chẳng qua là một tỉnh Quảng Đông lạc về phía Nam mà thôi, người dân vốn cũng là một giống trong các giống Bách Việt như Quảng Đông, nhờ đất liền nên sự giao thông lại càng thân mật lắm. Người Tàu lại tiện đường tràn sang nước ta, hoặc bằng cách chiến tranh, hoặc bằng cách hòa bình, cứ luôn luôn, hết đời ấy sang đời khác, không hồi nào là không. Cho nên nước ta, dầu có biệt lập thành nước, nhưng về đường địa lí vẫn là tùy thuộc nước Tàu, khác với Nhật Bản, là một đảo quốc cách biển, người Tàu không trực tiếp sang được nên không bị xâm lấn bao giờ. Có giữ được độc lập về thổ võ, mới giữ được độc lập về tinh thần.

Thuộc về lịch sử thì sự quan hệ của ta với Tàu lại mật thiết hơn nữa. Giống Giao Chỉ ta, từ khi mới thành bộ lạc đã bị người Tàu thống trị rồi. Trong mười thế kỉ, ta sống ở trong vòng khuôn nước Tàu, không khác gì một bộ phận của Tàu vậy. Đến khi lập thành nước, từ thế kỉ thứ 10, thì cái dấu vết của Tàu đã hình như in sâu vào trong trí não ta rồi. Tự bấy giờ tiếng gọi là một nước, được độc lập về đường chính trị, nhưng nào đã hoàn toàn độc lập đâu, chỉ những lo lắng, những khó nhọc, những chật vật đối với nước láng giềng mạnh kia nó chỉ lăm le định tràn sang mà chiếm lấy mình, mà thật nó cũng đã tràn sang biết mấy mươi lần, lần nào mình cũng cực khổ, dùng hết nỗ lực mới đuổi nó đi được. Thành ra cả cuộc lịch sử nước Nam ta là một cuộc chiến đấu vô hồi vô hạn đối với người Tàu, hoặc bằng võ lực hoặc bằng ngoại giao, hằng ngày chỉ nơm nớp sợ lại bị thuộc lần nữa.

Cái công của tiền nhân ta chống giữ cho non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng, thật là đánh cảm phục. Nhưng cái tinh lực trong nước đều chuyên chú về một việc cạnh tranh để sinh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ cường lân hằng ngày nó đàn áp, để cố sinh tồn cho ra vẻ một nước độc lập, thì còn có thì giờ đâu, còn có dư sức đâu mà nghĩ đến việc khác nữa. Cái quan niệm quốc gia bị nguy hiểm luôn nên thường lo sợ luôn, chiếm mất cả tâm tư trí lực, không còn để thừa chỗ cho những quan niệm khác về văn hóa, về mĩ thuật gì nữa. Nói riêng về học thuật thì đã sẵn cái học của Tàu đó tiềm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành dân thành nước, không thể tưởng tượng rằng ngoài sách vở của thánh hiền còn có nghĩa lí gì khác nữa. Sau đời Lí đời Trần là hồi Phật học còn thịnh hành, rồi chỉ độc tôn có một phái Nho học cho là đạo chính truyền, ngoại giả không dám có tư tưởng nào khác, sợ bị mang tiếng là “dị đoan”. Cái lệ "con chiên" theo đạo nước người thường hay "ngoan đạo" hơn là chính người nước phát hành ra đạo ấy.

Thường nghiệm người Nam mình theo đạo Giatô lại mộ đạo hơn ngươi Tây nhiều. Xưa kia theo đạo Nho có lẽ cũng sùng đạo hơn người Tàu vậy, vả lại học thuật mà đã dính có tính cách tôn giáo thì không thể nào tiến hóa được nữa. Không những nước ta mà ngay nước Tàu cũng vậy, từ khi cái học của Khổng, Mạnh, trước bị Hán Nho, rồi sau Tống Nho, lập thành đạo có tín điều, có giáo lí, có lễ nghi hình thức phân minh, thời không phải là học thuật nữa, mà nghiễm nhiên thành tôn giáo rồi. Người theo đạo đâu có dám nghị luận về lẽ đạo nữa. Nếu còn dám nghị luận điều gì hay là ăn ở khác với lẽ đạo, thì là có tội với danh giáo, ắt phải trục xuất ra ngoài giáo hội rồi.

Thuộc về chính trị thì cái tình thế cũng khốn nạn như vậy. Nho học lợi cho cái chính thể quân chủ chuyên chế, nên đế vương nước ta lại càng tôn sùng lắm. Đời Lí, đời Trần, cái phong trào Phật học còn thịnh, nên nhân tài trong nước, thường thường vẫn có người xuất ở trong hàng tăng lữ. Tự cuối đời Trần đầu Lê trở về sau, thì bao nhiêu nhân tài là đúc theo cái khuôn khoa cử của Nho giáo cả. Cái chế độ khoa cử thật là một cái quà tai hại nước Tàu đã tặng cho ta. Ở ngay bên Tàu nó đã hại mà sang bên ta cái độc của nó lại gấp mấy lần nữa. Bao nhiêu kẻ anh tuấn trong nước đều phải đúc vào cái khuôn ấy cả, nếu không thì không thể ra thi thố gì với đời được nữa. Nhưng đã đúc vào cái khuôn ấy rồi, thì thần trí eo hẹp lại sao mà còn có tư tưởng, có học vấn, tự do được nữa. Người Nhật Bản họ hơn mình chính là vì họ không mắc cái vạ khoa cử như mình. Họ bắt chước cái gì của Tàu thì bắt chước, chớ đến cái lối khoa cử thì họ không chơi. Đời Tokugawa cũng đã có một hồi thi hành cái chế độ hãm hại nhân tài, nô lệ thần trí đó, nhưng mà sĩ phu trong ta thì đến năm, sáu trăm năm sinh trưởng trong cái chế độ ấy, trách nào cái khí tinh anh trong nước chẳng đến tiêu mòn đi hết cả. Ở Văn Miếu Hà Nội còn mấy dãy bia kỉ niệm bậc nhân tài lỗi lạc, nhưng vì mài miệt về đường khoa cử, nên đều mai một mất cả, tên còn rành rạch trên bia đá đó, mà có sự nghiệp về đường học vấn tư tưởng được những ai? (l)(1) xem Phụ nữ Tân văn, số 104, ngày 15.10.1931, tr.5)

Bàn về quốc học
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,